Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Tổng quan vấn đề nghiên cứu

Tổng quan vấn đề nghiên cứu

Tải bản đầy đủ - 0trang

đồn điền (kiểm soát chất lượng, sự liên kết sản xuất và tiếp thị) với những ưu thế của

sản xuất tiểu nơng (khuyến khích lao động, đầu tư cẩn trọng)[5].

Tuy nhiên lý giải sự ra đời của CF có nguồn gốc sâu xa hơn, Reardon, T.,

Barrett, CB, (2000), trong tác phẩm “Agroindustrialization, globalization, and

international development: An overview of issues, patterns, and determinants”đã nhận

xét q trình cơng nghiệp hóa nơng nghiệp ở nhiều nước phát triển đã mang lại kết quả

là đã điều chỉnh được chuỗi cung cấp kết nối chặt chẽ hơn [6]; hay theo Sukhpal Singh

(2002), trong tác phẩm“Contracting Out Solutions: Political Economy of Contract

Farming in the Indian Punjab” cho rằng: Những thay đổi của q trình cơng nghiệp

hóa nơng nghiệp gắn liền với q trình quốc tế hóa nơng nghiệp, tồn cầu hóa sản

xuất, nhất là sau q trình phi thực dân hóa, giải thể các đồn điền thực dân dẫn đến

việc hình thành những chuỗi cung cấp, chuỗi xuất khẩu giữa các nước phát triển có

vốn và kỹ thuật với những nước đang phát triển chỉ có lao động và đất đai [7].

Tuy nhiên điều đáng nói là bên cạnh những nhà nghiên cứu ca ngợi những ưu

điểm, tiến bộ của CF đối với cả doanh nghiệp và nông dân như: Runsten, D., Key, N.

(1999) [8], Glover và Kusterer (1990) [9] … cũng đã có khơng ít những nhà kinh tế học

phản ảnh những mặt tiêu cực của CF, tiêu biểu như Ashok B Sharma(2006), trong tác

phẩm “Contract farming did no good to farmers”, đã cho rằng hợp đồng nơng nghiệp,

trong kinh tế- chính trị, là một trong những phương thức của chủ nghĩa tư bản thâm

nhập vào nơng nghiệp để tích lũy vốn và khai thác lĩnh vực nông nghiệp bởi các công

ty kinh doanh nông sản [10] watts (1994) hoặc Singh (2002) cho rằng nông nghiệp hợp



5 Glover, D.(1987), “Increasing the benefits to smallholders from contract farming: problems for farmers’

organisations and policy makers”, World Development 15 (4), 441–448.

6Reardon, T, Barrett, CB, 2000. Reardon, T., Barrett, C.B.(2000) “Agroindustrialization, globalization, and

international development: An overview of issues, patterns, and determinants” Agricultural Economics 23, 195–

205 (Special issue).

7 Sukhpalsingh (2002), “Contracting Out Solutions: Political Economy of Contract Farming in the Indian

Punjab”, World Development Vol. 30, No. 9, pp. 1621–1638

8 Key, N. and Runsten, D. (1999), ‘‘Contract farming, smallholders and rural development in Latin America: the

organization of agroprocessing firms and the scale of outgrower production’’,World Development, Vol. 27 No. 2,

pp. 381-401

9 Glover, D.(1987), “Increasing the benefits to smallholders from contract farming: problems for farmers’

organisations and policy makers”, World Development 15 (4), 441–448

10 Key, N. and Runsten, D. (1999), ‘‘Contract farming, smallholders and rural development in Latin America:

the organization of agroprocessing firms and the scale of outgrower production’’,World Development, Vol. 27

No. 2, pp. 381-401

6



đồng là hình thức “bóc lột” nơng dân. [11] , [12].

2.2. Nghiên cứu trong nước

Năm 2006, Việt Nam chính thức trở thành thành viên của Tổ chức Thương mại

thế giới (WTO). Đây là dấu mốc quan trọng cho sự thay đổi đáng kể của nền kinh tế

Việt Nam. Trong cuốn sách “Việt Nam – WTO, những cam kết liên quan đến nông

dân, nông nghiệp, nông thôn và doanh nghiệp”, Nguyễn Hồng Vinh và cộng sự

(2007)đã tổng kết quá trình Việt Nam ra nhập WTO, những cơ hội thách thức, đồng

thời nhóm tác giả cũng đưa ra những cam kết liên quan đến nông dân, nông nghiệp,

nông thôn và doanh nghiệp trong thực hiện các cam kết của WTO. Tất cả các cam kết

này đều nhằm hướng tới phát triển một nền kinh tế xanh, nông nghiệp xanh, đảm bảo

yêu cầu chung của thế giới.

Qua điều tra 8 cơ sở chế biến chè và 60 hộ trồng chè tại Mộc Châu, 4 cơ sở chế

biến đường và 60 hộ trồng mía ở Mai Sơn, Lê Hữu Ảnh và cộng sự (2011) chỉ ra rằng

các doanh nghiệp đang sử dụng 4 hình thức hợp đồng sản xuất với hộ nơng dân gồm:

giao khốn trên đất của cơng ty; cơng ty đầu tư và thu mua sản phẩm cho hộ sản xuất;

công ty bán vật tư, mua sản phẩm cho hộ sản xuất và công ty hợp đồng mua sản phẩm

cho hộ. Từ đó xác định được đặc điểm của các hình thức hợp đồng sản xuất, mức độ

thực hiện hợp đồng sản xuất trong vùng. Nghiên cứu cũng đã tính được kết quả phân

phối lợi ích trong các hình thức hợp đồng sản xuất.

Tỉnh An Giang vốn có thế mạnh về sản xuất lúa gạo. Sản lượng hàng năm đạt

trên 3,6 triệu tấn, xuất khẩu từ 500.000 – 600.000 tấn gạo. Nhằm kết nối sản xuất và

tiêu thụ sản phẩm, tỉnh đã đưa ra chủ trương “Liên kết 4 nhà” từ những năm 2000.

Nhu cầu liên kết ngày càng trở nên bức thiết do nhu cầu cạnh tranh, hội nhập kinh tế

quốc tế. Thơng qua bài viết “Các mơ hình liên kết sản xuất lúa và thực hiện “cánh

đồng mẫu lớn” ở An Giang” tác giả Đoàn Ngọc Phả (2011) đã tổng kết các mơ hình

liên kết điển hình ở An Giang bao gồm: Mơ hình liên kết sản xuất lúa Nhật: Mơ hình

này được ký kết giữa người nơng dân An Giang với Công ty Liên doanh AngimexKitoku chuyên cung ứng lúa giống (đã ký hợp đồng với người nông dân từ năm 1996),

kết hợp với Công ty Cổ phần Bảo vệ thực vật An Giang chuyên cung ứng thuốc bảo vệ

thực vật (ký hợp đồng với người nông dân từ 2009). Mơ hình đã đạt được những thành

cơng đáng kể và tránh cho người nông dân những rủi ro biến động giá do hợp đồng ký

với giá cố định ngay từ đầu vụ. Mơ hình liên kết xây dựng vùng nguyên liệu của

11 Key, N. and Runsten, D. (1999), ‘‘Contract farming, smallholders and rural development in Latin America:

the organization of agroprocessing firms and the scale of outgrower production’’,World Development, Vol. 27

No. 2, pp. 381-401

12 Sukhpalsingh (2002), “Contracting Out Solutions: Political Economy of Contract Farming in the Indian

Punjab”, World Development Vol. 30, No. 9, pp. 1621–1638



7



Công ty Xuất nhập khẩu An Giang (ANGIMEX): Công ty ký hợp đồng sản xuất lúa

chất lượng cao với người nông dân từ năm 2007 chủ yếu trên địa bàn huyện Thoại Sơn

và Châu Thành. Cơng ty cung ứng cho người nơng dân tồn bộ phân bón và giống lúa

chất lượng cao, cán bộ cơng ty đến kiểm tra chất lượng lúa trước khi người nơng dân

mang đến nhà máy. Mơ hình sản xuất lúa theo tiêu chuẩn GLOBAL GAP được thực

hiện từ năm 2009-2010 triển khai tại 2 huyện Thoại Sơn và Châu Phú với sự tham gia

đầu tư của các công ty TNHH SGS Việt Nam, công ty ADB (cung ứng giống lúa,

thuốc bảo vệ thực vật và tiêu thụ), công ty TNHH TUV SUD PSD Vietnam. Mơ hình

liên kết của Cơng ty Bảo vệ thực vật: triển khai từ vụ Đông Xuân 2010-2011 do công

ty Cổ phần bảo vệ thực vật An Giang – Nhà máy chế biến gạo Vĩnh Bình ký hợp đồng

tiêu thụ sản phẩm ở 2 huyện Châu Thành và Thoại Sơn. Trong đó cơng ty thực hiện

cung ứng giống, phân bón, thuốc trừ sâu cho nơng dân lãi xuất 0% và trừ lại khi nông

dân bán lúa cho cơng ty. Trong q trình sản xuất người nơng dân được cán bộ của

công ty hỗ trợ kỹ thuật.

Ở An Giang, mơ hình “liên kết 4 nhà” bước đầu đã được xác lập và hình thành

thơng qua việc tổ chức xây dựng vùng nguyên liệu và ký hợp đồng tiêu thụ sản phẩm;

tại các mơ hình này, giữa doanh nghiệp và nơng dân đã có sự liên kết hợp tác khá chặt

chẽ, hợp đồng kinh tế được thực hiện đầy đủ, có trách nhiệm, lợi ích cả đơi bên được

đảm bảo, nông dân trong vùng nguyên liệu được doanh nghiệp, nhà khoa học, nhà

nước tập trung chuyển giao khoa học kỹ thuật, được cung cấp một phần chi phí sản

xuất, sản phẩm làm ra được doanh nghiệp bao tiêu, do đó nơng dân n tâm và sản

xuất theo đúng quy trình kỹ thuật, tạo ra sản phẩm theo yêu cầu của doanh nghiệp;

thông qua hợp đồng kinh tế doanh nghiệp có được nguồn nguyên liệu ổn định về số

lượng và chất lượng, đảm bảo tính chủ động trong kinh doanh và có điều kiện thuận

lợi để phát triển thương hiệu, tạo vị thế cạnh tranh cho doanh nghiệp. Trong quá trình

thực hiện tỉnh An Giang đã rút ra một số kinh nghiệm: (1) Xác định liên kết hợp tác

giữa nông dân và doanh nghiệp là nòng cốt, có ý nghĩa quan trọng của sự “liên kết 4

nhà”; (2) tăng cường phát huy vai trò nhà nước trong mối “liên kết 4 nhà”.13

Mơ hình liên kết “4 nhà” được xây dựng tại xã Định Hóa, huyện Gò Quao, Kiên

Giang (của tác giả Nguyễn Phú Sơn (2013)) thơng qua một quy trình gồm 6 bước và

dựa trên cơ sở lý thuyết liên kết dọc trong chuỗi giá trị giữa Hợp tác xã Hòa Tiến và

Cơng ty Gentraco, với sự hỗ trợ, thúc đẩy của Ủy ban nhân dân xã Định Hòa và nhóm

tư vấn của trường Đại học Cần Thơ. Kết quả của mơ hình đã mang lại những lợi ích

cho cả “4 nhà”. Đối với nơng dân, lợi ích lớn nhất mang lại cho họ là việc làm thay đổi

hành vi sản xuất theo hướng “Bán cái thị trường cần, chứ khơng phải bán cái mình

có”. Đối với cơng ty, việc tham gia mơ hình liên kết này đã góp phần làm gia tăng

13 Báo cáo tham luận Tổ chức sản xuất nơng sản hàng hóa theo mơ hình liên kết 4 nhà tại tỉnh An Giang

8



thương hiệu, cũng như tạo tiền đề cho việc xây dựng vùng nguyên liệu. Đối với địa

phương, thông qua việc tham gia liên kết đã giúp cán bộ địa phương nâng cao được

năng lực quản lý, cũng như góp phần vào nhiệm vụ xây dựng xã Nông thôn mới. Cuối

cùng, thông qua liên kết này đã giúp cho các nhà khoa học bổ sung thêm những cơ sở

lý thuyết chuỗi giá trị, cũng như làm gia tăng sự trải nghiệm về vấn đề liên kết “4

nhà”.

Mơ hình phát triển Hợp tác xã Nơng nghiệp với phương châm mang lại nhiều

lợi ích cho người nơng dân như: (1) Cung cấp hàng hóa, vật tư đầu vào sản xuất cho

nông dân với giá cả phải chăng, tiện lợi và đảm bảo chất lượng. (2) Giúp người nông

dân tiêu thụ sản phẩm dễ dàng, có kế hoạch với chi phí giảm, giá cả hợp lý, ổn định,

tiêu chuẩn hóa sản phẩm ở mức cao. (3) Tạo thế cạnh tranh tốt cho nông dân khi mua

vào và bán sản phẩm hàng hóa. (4) Liên kết nơng dân sử dụng hết cơng suất máy móc,

chi phí sản xuất thấp. (5) Đào tạo năng lực tự quản lý, năng lực áp dụng kỹ thuật tiên

tiến cho nơng dân. Do đó mà mơ hình phát triển Hợp tác xã Nơng nghiệp hiện nay

đang được rất nhiều địa phương trong cả nước chú trọng và phát triển. Tác giả Nguyễn

Cơng Bình đã có nghiên cứu về các mơ hình phát triển Hợp tác xã nông nghiệp từ một

số quốc gia trên thế giới, tiêu biểu là bài học kinh nghiệm của một số nước như Nhật

Bản, Hàn Quốc, Thái Lan. Từ đó trên thực tế của Việt Nam tác giả cũng đưa ra những

bài học kinh nghiệm trong vấn đề phát triển mô hình Hợp tác xã bao gồm các khâu tổ

chức, đội ngũ quản lý Hợp tác xã nông nghiệp và vai trò của Hợp tác xã nơng nghiệp

trong việc cung cấp dịch vụ đối với nơng thơn.

Tìm hiểu kinh nghiệm của Thái Lan, Bảo Trung (2012) đã nghiên cứu cơ chế

sản xuất- tiêu thụ mía đường của Thái Lan bao gồm: cơ chế hình thành giá, phân bổ lợi

ích, kiểm sốt chữ đường và trọng lượng mía, cơ chế phân bổ hạn ngạch, cơ chế liên

kết nơng dân trồng mía, các nhà máy chế biến đường và hình thành các nhóm lợi ích.

Xuất phát từ hiệp hội của những người nơng dân trồng mía đường, và hiệp hội các nhà

máy chế biển đường và theo Luật mía đường và đường năm 1984, ngành mía đường

Thái Lan đã nổi lên thành một ngành có ảnh hưởng lớn đến chính sách khi Hội đồng

mía đường và đường được thành lập. Hội đồng này đã trở thành một nhóm lợi ích để

“tìm kiếm đặc lợi” (Rent seeking)14 cho ngành mía đường. Ảnh hưởng đáng kể của

ngành mía đường thường xuất phát từ những nhóm lợi ích được tổ chức chặt chẽ.

Nhóm này kết nối, xúc tiến và xử lý một cách hiệu quả từ lợi ích của họ thành chính

sách cụ thể. Sự thành cơng về tổ chức cũng như việc tìm kiếm đặc lợi của các nhà máy

chế biến và người trồng mía ở Thái Lan liên quan đến quy mô. Số nhà máy chế biến

14 Tìm kiếm đặc lợi (rent-seeking) là cố gắng đạt được đặc lợi kinh tế - tức là lợi ích thu về cho chủ sở hữu

nguồn lực vượt q lợi ích mà họ có được nếu sử dụng nguồn lực vào phương án thay thế khác. Ví dụ các nhóm

lợi ích có thể vận động hành lang chính trị để duy trì các chính sách hạn chế cạnh tranh như phân bổ hạn ngạch

nhập khẩu, quy định các loại giấy phép hay chứng chỉ hành nghề, đặt ra các tiêu chuẩn hạn chế gia nhập ngành.

9



đường khá ít so với người trồng mía nhưng đến lượt người trồng mía cũng hình thành

những nhóm riêng. Các nhà máy chế biến đường ở Thái Lan được đầu tư với quy mô

lớn để đảm bảo hoạt động hiệu quả và trong phần lớn trường hợp các doanh nhân đầu

tư nhà máy chế biến đường có mối liên kết với các nhà chính trị. Ngành mía đường

Thái Lan có sự liên minh giữa chính trị và kinh tế. Vì vậy chỉ có một số người chủ của

nhà máy chế biến đường và một số người trồng mía lớn có khả năng kiểm sốt ngành

mía đường.

Mơ hình sản xuất gạo sạch theo tiêu chuẩn quốc tế mang thương hiệu gạo Tứ

Quý của công ty TNHH ADC được triển khai ở huyện Cai Lây, Tiền Giang được sản

xuất theo quy trình gạo an tồn đạt tiêu chuẩn Globalgap. Người dân tham gia mơ hình

này phải tuân thủ 241 điều quy định nghiêm ngặt trong trồng lúa, mỗi ngày họ phải ghi

chép cẩn thận những điều đã làm để không dùng thuốc bảo vệ thực vật và phân bón

quá liều gây nguy hiểm cho bản thân. Ngoài ra, việc sử dụng thuốc bừa bãi sẽ gây

nguy hiểm cho môi trường nước ảnh hưởng đến sự sinh tồn của loài thủy sinh. Và điều

quan trọng nữa là gạo "Tứ Quý" sản xuất theo Globalgap đều ghi rõ thông tin về nơi

sản xuất giúp cho cơ quan chức năng kiểm tra, quản lý dễ dàng.

10 năm gắn bó trong sản xuất, cung cấp các vật tư, dịch vụ cho nông nghiệp,

mọi hoạt động của công ty ADC đều gắn bó mật thiết với nơng dân. Vì vậy, ADC hiểu

đuợc những vất vả, lo lắng của nông dân và đã mạnh dạn phát triển kinh doanh theo

qui trình khép kín từ cung cấp thuốc bảo vệ thực vật, phân bón, giống..., tư vấn kỹ

thuật đến bao tiêu đầu ra của sản phẩm. Sau khi áp dụng thành công mơ hình

Globalgap tại Tiền Giang, mơ hình tiếp tục phát triển, mở rộng vùng nguyên liệu ở An

Giang.

Nghiên cứu “Mô hình liên kết trong sản xuất và tiêu thụ lúa gạo ở Việt Nam”

(2013) do tác giả Đào Thị Thanh Mai và các cộng sự đã tập trung phân tích trường

hợp chuỗi sản xuất hình thành bởi sự liên kết bằng cơ chế hợp đồng giữa các hộ nông

dân và Công ty Cổ phần Bảo vệ thực vật An Giang. Đây là “cánh đồng lớn” đầu tiên ở

Đồng bằng sông Cửu Long được đánh giá là thành công và được các cơ quan chính

phủ Việt Nam khuyến cáo nhân rộng trong cả nước. Ngoài ra, một số trường hợp liên

kết giữa nông dân, doanh nghiệp và các đối tác khác ở vùng ĐBSCL, bao gồm cả

những trường hợp thành công và thất bại, cũng được khảo sát để so sánh, nhằm mục

đích tìm ra những ngun nhân thành cơng và những điều kiện đảm bảo cho việc nhân

rộng điển hình.

Các phân tích trong báo cáo cho thấy sản xuất và tiêu thụ nơng sản theo cơ chế

hợp đồng là hình thức tổ chức thích hợp để chuyển nơng nghiệp từ sản xuất quy mô

nhỏ sang sản xuất quy mô lớn với trình độ phát triển cao hơn. Tổ chức sản xuất và

kinh doanh nông sản theo hợp đồng sẽ giải quyết được các trở ngại về thị trường tiêu

10



thụ, chất lượng sản phẩm, công nghệ và vốn sản xuất, là những vấn đề mà tự thân các

hộ nông dân riêng lẻ không thể giải quyết.



-



3. Mục tiêu nghiên cứu

3.1. Mục tiêu chung:

Tìm hiểu và phân tích các mơ hình liên kết giữa doanh nghiệp và nông dân

trong sản xuất và tiêu thụ lúa gạo ở Đồng bằng sông Cửu Long.

3.2. Mục tiêu cụ thể:

- Hệ thống hóa một số vấn đề về lý luận:

+ Làm rõ một số khái niệm liên quan: liên kết, doanh nghiệp, nông dân

+ Chủ trương, chính sách của Đảng và nhà nước về vấn đề liên kết giữa doanh

nghiệp và nông dân trong sản xuất nông nhiệp.

- Kinh nghiệm của thế giới trong vấn đề liên kết giữa doanh nghiệp và nông

dân trong sản xuất và tiêu thụ lúa gạo (Thái Lan), từ đó rút ra bài học cho

Việt Nam.

Tìm hiểu và phân tích một số mơ hình liên kết giữa doanh nghiệp và nơng dân trong

sản xuất và tiêu thụ lúa gạo ở Đồng bằng sông Cửu Long và dự báo xu hướng.

Kết luận và đưa ra một số giải pháp nhằm thúc đẩy liên kết giữa doanh nghiệp và nông

dân sản xuất và tiêu thụ lúa gạo quy mơ tồn vùng Đồng bằng sông Cửu Long trong

thời gian tới.

4. Phạm vi nghiên cứu

4.1. Khơng gian:

- Các mơ hình liên kết doanh nghiệp và nông dân được triển khai trên địa bàn

các tỉnh thuộc đồng bằng sông Cửu Long

4.2. Thời gian:

- Nghiên cứu thu thập và phân tích tài liệu đối với các mơ hình sản xuất nơng

nghiệp ở đồng bằng sơng Cửu Long được triển khai từ năm 2002 đến nay.

4.3. Vấn đề nghiên cứu:

- Nghiên cứu mơ hình liên kết giữa doanh nghiệp và nông dân tập trung vào

mối liên kết kinh tế.

- Liên kết doanh nghiệp và nông dân trong sản xuất nơng nghiệp: Chỉ nghiên

cứu một số mơ hình điển hình về sản xuất và tiêu thụ lúa gạo.

5. Cách tiếp cận và phương pháp nghiên cứu

5.1.Cách tiếp cận:

Nghiên cứu sử dụng cách tiếp cận hệ thống: hệ thống vấn đề nghiên cứu theo

thời gian, không gian (các địa phương trong vùng đồng bằng sơng Cửu Long), các quy

trình trong sản xuất và tiêu thụ lúa gạo.



11



5.2. Phương pháp:

Nghiên cứu sử dụng toàn bộ tài liệu thứ cấp gồm số liệu của niên giám thống

kê, tài liệu giấy và internet gồm: các sách, báo, tạp chí, báo cáo, luận án, nghiên cứu

trong và ngồi nước có liên quan tới vấn đề nghiên cứu và liên quan đến vùng nghiên

cứu.

6. Khung phân tích

Chủ chương, chính sách của Đảng và Nhà nước



Được hỗ trợ kỹ thuật sản xuất

DOANH NGHIỆP:

Đảm bảo bán đúng thời vụ thu hoạch và gi

NƠNG

ngày càng mở rơng cho ngành kinh doanh vật tư nông

nghiệpDÂN

Giảm bớt lượng lúa bị hao hụt sau thu hoạ

ấp lúa gạo với chất

lượng

Đầu

vào:tốtgiống, vốn, phân bón, thuốc BVTV, khoa học kỹ thuật.Sử dụng máy móc bù đắp sức lao động

Đất, nguồn lực lao động

Giảm chi phí sản xuất, tăng thu nhập và lợ

Đầu ra:

Sản

xuất

lúa

đúng

tiêu

chuẩn

kỹ

thuật doanh nghiệp yêu cầu

+ Thu gom và bao tiêu sản phẩm

+ Đảm bảo đầu ra cho nơng dân



Tình hình phát triển kinh tế của thế giới và Việt Nam



7. Một số khái niệm liên quan

7.1. Liên kết

Thuật ngữ liên kết (linkage) từ lâu đã được sử dụng trong nhiều ngành khoa học

khác nhau như vật lý học, sinh học, quân sự, chính trị học,… Trong mỗi ngành nó lại

có nội hàm và ý nghĩa riêng. Trong lý thuyết phát triển, thuật ngữ liên kết được sử

dụng đầu tiên trong các cơng trình của Perroux (1955) và Hirschman (1958).

Hirschman (1958) sử dụng khái niệm liên kết dựa trên các mối quan hệ ngành

và liên ngành. Liên kết bao gồm các liên kết ngược (backward linkages, upstream

linkages) và liên kết xuôi (forward linkages, downstream linkages). Ông cho rằng các

hiệu ứng liên kết ngược (backward linkage effects) nảy sinh từ nhu cầu cung ứng đầu

vào của một ngành nào đó mới được thiết lập; còn hiệu ứng liên kết xi phát sinh từ

12



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tổng quan vấn đề nghiên cứu

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×