Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
LIÊN KẾT GIỮA DOANH NGHIỆP VÀ NÔNG DÂN TRONG SẢN XUẤT NÔNG NGHIỆP Ở ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG

LIÊN KẾT GIỮA DOANH NGHIỆP VÀ NÔNG DÂN TRONG SẢN XUẤT NÔNG NGHIỆP Ở ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG

Tải bản đầy đủ - 0trang

là vụ lúa cho năng suất và sản lượng cao nhất. Riêng năm 2012, vụ Đông – Xuân đã

mang lại cho Đồng bằng sông Cửu Long trên 10,8 triệu tấn gạo. Vụ lúa quan trọng thứ

hai là vụ Hè – Thu. Vụ này thường xuyên bị ảnh hưởng bởi thời gian ngập lụt kéo dài

cho nên năng suất và sản lượng thấp hơn. Năm 2012, sản lượng gạo của vụ này đạt

trên 9 triệu tấn. Và cuối cùng là vụ Thu-Đông. Vụ này cho sản lượng thấp, với 1,7

triệu tấn gạo, chỉ chiếm khoảng 16% trong tổng sản lượng gạo của khu vực Đồng bằng

sông Cửu Long17 .

Các tỉnh An Giang, Kiên Giang, Đồng Tháp, Long An và Cần Thơ là các tỉnh

cho năng suất và sản lượng cao nhất. Trong 5 năm gần đây, năng suất và sản lượng lúa

ở các tỉnh này đã liên tục tăng lên (Bảng 2)18.

Bảng 2: Năng suất và sản lượng lúa một số tỉnh ở khu vực Đồng bằng sông Cửu

Long

2009

Năng

suất

(tạ/ha)



Sản

lượng

(tấn)



2010

Năng

suất

(tạ/ha)



Sản

lượng

(tấn)



2011

Năng

suất

(tạ/ha)



ĐBSCL



Sản

lượng

(tấn)



2012

Năng

suất

(tạ/ha)



Sản

lượng

(tấn)



52,9



20483,4



54,7



21596,6



56,8



23269,3



58,1



24293,0



Long An



46,6



2650,4



48,9



2304,8



52,7



2550,7



53,3



2663,4



Đồng Tháp



58,8



2650,4



60,4



2807



61,9



3100,2



63



3051,7



An Giang



60,7



3383,6



62,3



3653,1



63,5



3856,8



63,3



3956,9



Kiên Giang



54,6



3397,7



54,4



3497,1



57,1



3921,1



59,1



4287,1



Cần Thơ

54,5

1138,1

57,2

1196,8

57,4

1289,7

57,8

1319,8

Nguồn: Tổng cục Thống kê (2009, 2010, 2011, 2012)

Sản lượng thu hoạch tăng là nhân tố đóng góp vào việc tăng khối lượng xuất

khẩu gạo của Việt nam. Từ năm 2000 đến năm 2012 số lượng gạo xuất khẩu của Việt

nam đã tăng từ 3.48 triệu tấn lên trên 8 triệu tấn. Sự gia tăng này khớp với sự gia tăng

sản lượng lúa của khu vực Đồng bằng sông Cửu Long từ 10.85 triệu tấn lên trên 24

triệu tấn19,20. Giá trị xuất khẩu gạo đã tăng từ 667 triệu USD năm 2000 lên khoảng 3.7

tỉ USD năm 201221 (Hình 1).

17 Tổng cục Thống kê (2012)

18 Tổng cục Thống kê (2008, 2009, 2010, 2011 và 2012)

19 ISGMARD (2011)

20 Tổng cục Thống kê (2000, 2007, 2008, 2009, 2010, 2011 và 2012)

21 MARD (2012)

27



Hình 1: Sản lượng gạo của Đồng bằng sông Cửu Long và lượng gạo xuất khẩu

của cả nước (1000 tấn)



Nguồn: Tổng cục thống kê (2007, 2008, 2009, 2010, 2011, 2012)

Về thị trường xuất khẩu gạo của Việt Nam, tính đến năm 2011, các nước Châu

Á vẫn chiếm một tỉ trọng lớn, trong đó những nước nhập khẩu gạo Việt Nam lớn nhất

là Philippines; Indonesia, Malaixia.Tuy nhiên, sang năm 2012, thị trường xuất khẩu

gạo của Việt Nam có nhiều thay đổi. Thị trường Trung Quốc tăng mạnh, gấp 6,4 lần về

lượng và 5,4 lần về giá trị và trở thành thị trường nhập khẩu gạo lớn nhất của Việt

Nam.Trong khi đó, các thị trường Philippines, Indonesia, Malaysia và Singapore đều

sụt giảm cả về khối lượng và giá trị 22. Nhìn chung, thị trường gạo của Việt Nam hầu

hết là các thị trường thiên về gạo giá rẻ, không yêu cầu chất lượng cao.

2.2. Chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước về vấn đề liên kết giữa doanh

nghiệp và nông dân trong sản xuất nông nghiệp.

- Quyết định số 80/2002/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ ngày 24 tháng 6

năm 2002 về chính sách khuyến khích tiêu nơng sản hàng hóa thơng qua hợp đồng.

22 MARD (2012)

28



- Chỉ thị số 25/2008/CT-TTg của Thủ tướng Chính phủ ngày 25 tháng 8 năm

2008 về tăng cường chỉ đạo tiêu thụ nông sản thông qua hợp đồng.

- Quyết định số 77/2002/QĐ-BNN của Bộ Nông nghiệp và PTNT ngày 28

tháng 8 năm 2002 Hướng dẫn về mẫu hợp đồng tiêu thụ nông sản hàng hóa thực hiện

quyết định số 80/2002/QĐ-TTg ngày 24 tháng 6 năm 2002 của Thủ tướng Chính phủ.

- Thơng báo Ý kiến kết luận của Thú trưởng Bùi Bá Bổng Công văn số 892/TBBNN-VP ngày 01 tháng 02 năm 2010 tại Hội nghị “Tổng kết sản xuất lúa năm 2009 và

triển khai kế hoạch năm 2010 ở Nam bộ”.

- Thông báo số 986/TB-BNN-VP ngày 29 tháng 02 năm 2011 “Kết luận của

Thứ trưởng Bùi Bá Bổng tại cuộc họp giao ban Sơ kết sản xuất vụ lúa Đông xuân

2010-2011 với các tỉnh thành vùng đồng bằng sông Cửu Long” ngày 12 tháng 02 năm

2011.

Thực hiện Nghị định 09/NĐ-CP ngày 04/11/2010 về kinh doanh xuất khẩu gạo,

và hưởng ứng phong trào xây dựng “Cánh đồng mẫu lớn” của Bộ Nông nghiệp và

PTNT phát động triển khai ở các tỉnh thành Nam bộ ngày 26/3/2011 tại Cần Thơ, An

Giang đã triển khai mơ hình “Cánh đồng lớn” (CĐL) rộng khắp trong tồn tỉnh. Hằng

năm, Sở Nông nghiệp và PTNT đều làm trung gian xúc tiến, tổ chức gắn kết doanh

nghiệp tiêu thụ với nơng dân sản xuất theo mơ hình CĐL. Qua hai năm thực hiện đến

nay, mối liên kết sản xuất và tiêu thụ giữa nông dân với doanh nghiệp ngày càng chặt

chẽ hơn, mơ hình CĐL được định hình rõ nét hơn. Trong suốt q trình thực hiện, Sở

Nơng nghiệp và PTNT đã chủ động kêu gọi các doanh nghiệp tham gia xây dựng vùng

nguyên liệu; kêu gọi các doanh nghiệp cung ứng vật tư đầu vào tham gia mô hình; vận

động nơng dân hợp tác sản xuất theo các tổ hợp tác hoặc hợp tác xã để liên kết với

doanh nghiệp. Ngồi ra Sở Cơng thương, Hội Nơng dân và chính quyền địa phương

cũng làm tốt vai trò trung gian giúp doanh nghiệp với nông dân liên kết hợp tác.

Năm 2013, thực hiện Chỉ thị 1965/CT-BNN-TT ngày 13/6/2013 của Bộ Nông

nghiệp và PTNT về việc đẩy mạnh liên kết sản xuất, tiêu thụ nơng sản theo mơ hình

CĐL, Sở Nông nghiệp và PTNT đã triển khai nhiều hoạt động xúc tiến các liên kết

trong xây dựng mơ hình trên toàn tỉnh. Các hoạt động liên quan được khái quát như

sau:

Về xúc tiến liên kết

Sở Nông nghiệp và PTNT giới thiệu cho các doanh nghiệp tiêu thụ lúa gạo xây

dựng các vùng nguyên liệu đáp ứng nhu cầu của chính doanh nghiệp tham gia. Sở

Nông nghiệp và PTNT đã tổ chức nhiều buổi gặp gở tiếp xúc giữa doanh nghiệp với

chính quyền địa phương và nơng dân để các bên liên quan trình bày nhu cầu và bàn

biện pháp tháo gở những khó khăn vướng mắc trong việc liên kết sản xuất và tiêu thụ

lúa gạo. Tổ chức nhiều lần các cuộc họp dân cho từng doanh nghiệp (đối với doanh

29



nghiệp có liên hệ với Sở Nơng nghiệp để xây dựng CĐL) để thảo luận thống nhất các

nội dung trong hợp đồng tiêu thụ. Bên cạnh đó là kêu gọi các doanh nghiệp cung ứng

vật tư sản xuất đầu vào như phân bón, thuốc BVTV cùng tham gia liên kết nhằm làm

giảm giá thành sản xuất cho nông dân. Mặt khác là vận động nông dân tham gia liên

kết trong cánh đồng lớn, ký hợp đồng tiêu thụ với doanh nghiệp thông qua hợp tác xã

hoặc tổ hợp tác.

Về kỹ thuật

Sở Nông nghiệp và PTNT yêu cầu các bên liên quan phải thực hiện quy trình kỹ

thuật do ngành nơng nghiệp khuyến cáo, áp dụng triệt để kỹ thuật canh tác “1 Phải 5

Giảm” trong đó yêu cầu phải sử dụng giống xác nhận có kiểm định và chỉ gieo trồng

từ 01 đến 02 loại giống trong một tiểu vùng. Yêu cầu các huyện cử cán bộ kỹ thuật, kỹ

thuật viên nông nghiệp ở xã hướng dẫn, hỗ trợ nông dân thực hiện đúng theo quy trình

kỹ thuật đã được khuyến cáo.

Về giống

Các năm qua, việc xã hội hóa cơng tác giống đã đạt được nhiều thành tựu lớn.

Hiện An Giang có trên 10 doanh nghiệp sản xuất kinh doanh giống lúa và có trên 200

tổ hợp tác sản xuất lúa giống. Nguồn giống đủ để đáp ứng nhu cầu gieo trồng trong

tỉnh. Tuy nhiên, Sở Nông nghiệp và PTNT yêu cầu chỉ sử dụng giống xác nhận có

kiểm định trong CĐL. Trên cơ sở đó, Sở Nơng nghiệp và PTNT kêu gọi các doanh

nghiệp tiêu thụ đầu tư vào vùng nguyên liệu, trước mắt là đầu tư về giống. Các doanh

nghiệp xác định nhu cầu giống, loại giống và có phương án cung ứng giống cho nơng

dân. Đối với vụ Đơng Xn 2013-2014, ngồi nguồn cung ứng giống của các doanh

nghiệp kinh doanh giống còn có thể sử dụng giống do nông dân tự sản xuất nhưng phải

qua kiểm định.

Về tổ chức hợp tác

Sở Nông nghiệp và PTNT đã triển khai tuyên tuyền, vận động nông dân tham

gia CĐL; ký kết hợp đồng sản xuất và tiêu thụ với doanh nghiệp thông qua hợp tác xã

hoặc tổ hợp tác. Nơi nào có hợp tác xã thì hướng dẫn, vận động hợp tác xã tham gia.

Nơi nào chưa có hợp tác xã thì hình thành các tổ hợp tác. Các hợp tác xã, tổ hợp tác

làm trung gian thực hiện hợp đồng tiêu thụ.

2.3. Tình hình chung về triển khai hợp đồng liên kết giữa doanh nghiệp và

nông dân ở ĐB SCL

(Phụ lục: Biểu TH-01; và TH-02)

Về số lượng

Thực hiện mơ hình CĐL có nhiều đơn vị tham gia. Nhiều doanh nghiệp liên hệ

với Sở Nông nghiệp và PTNT để triển khai xuống địa phương. Có nhiều doanh nghiệp

liên hệ với Sở Cơng thương, cũng có nhiều doanh nghiệp tự liên hệ với địa phương

30



triển khai kế hoạch và ký kết hợp đồng. Vụ Đơng Xn 2013-2014 dự kiến có trên 20

doanh nghiệp tiêu thụ có kế hoạch tham gia CĐL với diện tích dự kiến ban đầu khoảng

35.000ha (khơng bao gồm mơ hình của cơng ty CP Bảo vệ thực vật An Giang), sử

dụng chủ yếu các loại giống lúa chất lượng cao như OM 4218, OM 6976, Jasmine, lúa

Nhật, nếp CK92.

Theo thống kê có 24 doanh nghiệp có kê hoạch tiêu thụ trên diện tích 10.000 ha

(khơng bao gồm mơ hình của cơng ty CP BVTV An Giang). Sau thời gian triển khai

thực hiện thực tế có 19 doanh nghiệp có hợp đồng tiêu thụ với nơng dân thông qua hợp

tác xã hoặc tổ hợp tác trên diện tích 5.024 ha, (đạt tỷ lệ 50% so kế hoạch). Riêng mơ

hình của cơng ty CP BVTV An Giang thực hiện (tại An Giang) trên diện tích 6.809 ha

với các loại giống: Jasmine 85, OM 6976, OM 4218, OM 2517, OM 5431, OM 7347,

AGPPS 103.

Như vậy, trong vụ Đông Xuân 2013-2014 trên tồn tỉnh có tổng số 20 doanh

nghiệp tham gia mơ hình CĐL với diện tích 11.833ha.

Về phương thức thực hiện

Ngồi các doanh nghiệp đã triển khai mơ hình CĐL nhiều năm qua với việc đầu

tư bài bản và kế hoạch thực hiện rõ ràng như Cty CP BVTV An Giang, Cty AgimexKitoku thì phần lớn là tùy theo nhu cầu và điều kiện tham gia mà từng doanh nghiệp

có các phương án thực hiện khác nhau: Có doanh nghiệp đầu tư cung ứng giống dầu

vụ và thu hồi vốn sau (Cy Afiex, Cty Chấn Thành); có doanh nghiệp chỉ thu mua

không đầu tư (Cty CP XNK LTTP Hà Nội, Cty CP LT Nam Trung Bộ, Cty TNHH

Bình Tây); Có nhiều doanh nghiệp đầu tư bằng cách cho nơng dân tạm ứng trước tiền

để mua giống và tư nông nghiệp (Cty TNHH Tân Thạnh An, Cty CP Thuận Minh, Cty

CP Quốc Tế Gia, Cty CP XNK Đồng Tháp Mười).

Về hợp đồng

Hầu hết các doanh nghiệp do Sở Nông nghiệp và PTNT giới thiệu đến các địa

phương đều có xây dựng hợp đồng liên kết trước. Hợp đồng được Sở Nơng nghiệp góp

ý, sau đó đưa ra triển khai, thảo luận tại huyện. Hợp đồng tiếp tục được điều chỉnh sau

đó mới tổ chức triển khai thảo luận với nơng dân. Có doamh nghiệp ký hợp đồng với

hợp tác xã, có doanh nghiệp ký hợp đồng với tổ hợp tác, cũng có doanh nghiệp ký hợp

đồng với từng hộ dân (Cty CP Du Lịch An Giang, Cty CP BVTV). Cũng có trường

hợp doanh nghiệp thỏa thuận hợp đồng với hợp tác xã, chuẩn bị giống nhưng hợp tác

xã không thống nhất được với nông dân nên không thực hiện được (Cty Lương Thực

An Giang và HTX Đức Thành-Châu Phú). Có doanh nghiệp ký hợp đòng với hợp tác

xã hoặc dự kiến ký hợp đồng với hợp tác xã nhưng không thỏa thuận được với dân,

không thống nhất được các điều khoản trong hợp đồng (Cty TNHH Thảo Minh Châu HTX Kiểu mới Thiện Mỹ, Cty Khiêm Thanh).

31



Nội dung hợp đồng có các điều khoản về đầu tư, phương thức thực hiện, quy

cách sản phẩm, giá thu mua... Phần lớn hợp đồng thỏa thuận giá thu mua cao hơn giá

thị trường khoảng 50đ-100đ/kg. Nếu doanh nghiệp có đầu tư giống ban đầu thì thu hồi

vốn sau khi thu mua. Đối với các tổ chức dại diện cho nông dân (hợp tác xã, tổ hợp

tác) thì doanh nghiệp hỗ trợ chi phí quản lý thực hiện từ 10 - 20đ/kg trên sản lượng thu

mua.

Bên cạnh các doanh nghiệp tham gia tốt như Cty Afiex, Cty Toàn Cầu, Cty

Đồng Tháp Mười .... cũng còn khơng ít doanh nghiệp chưa nhiệt tình tham gia. Có

doanh nghiệp ký hợp đồng với hợp tác xã, tổ hợp tác nhưng khơng có động thái triển

khai ra dân (Cty CP Hưng Lâm, DNTN Hiệp Thành). Cũng có trường hợp doanh

nghiệp tự liên hệ với địa phương, yêu cầu vận động nông dân tham gia. Sau khi địa

phương thực hiện các bước vận động và được nông dân đồng tình, hình thành tổ

nhóm.... thì doanh nghiệp khơng đến ký hợp đồng thực hiện (Cty CP Lương thực Phú

Vĩnh, một số doanh nghiệp khác đến huyện Thoại Sơn)

Về hỗ trợ kỹ thuật và hỗ trợ thực hiện

Hầu hết chính quyền địa phương đều rất quan tâm đến việc triển khai thực hiện

CĐL. Phòng Nơng nghiệp và PTNT các huyện đều tham gia hỗ trợ nơng dân trong

suốt q trình thực hiện. Cán bộ kỹ thuật nông nghiệp của huyện và xã thường xuyên

đến hướng dẫn nông dân. Tuy nhiên về phía doanh nghiệp thì hầu hết thiếu cán bộ kỹ

thuật đến hỗ trợ nơng dân trong q trình triển khai thực hiện hợp đồng.

2.4. Một số mơ hình liên kết giữa doanh nghiệp và nông dân trong sản xuất

và tiêu thụ lúa gạo ở đồng bằng sông Cửu Long hiện nay

2.4.1. Mơ hình liên kết nơng dân và cơng ty bảo vệ thực vật An Giang

Trong mơ hình sản xuất lúa truyền thống các hộ nông dân quan hệ một cách

lỏng lẻo với thương lái và với các đại lý cung ứng vật tư. Ở đó khơng có những cam

kết vững chắc từ trước khi tiến hành sản xuất về điều kiện cung ứng vật tư, thu mua

sản phẩm, cũng như về các tiêu chuẩn của sản phẩm. Những điều đó được “thả nổi”

cho sự quyết định của từng tác nhân trong chuỗi. Nông dân quyết định lựa chọn giống

mà họ trồng thường là theo dự đoán chủ quan về nhu cầu của thị trường. Họ cũng

quyết định cách thức tiến hành canh tác, thường là theo kinh nghiệm đã có từ lâu. Còn

thương lái thì quyết định giá bán vật tư đầu vào, thời điểm thu mua lúa và giá cả.

Trong mơ hình sản xuất lúa với do Cơng ty bảo vệ thực vật An Giang (AGPPS)

xây dựng bắt đầu từ vụ Đông Xuân 2010 – 2011, các khâu công việc trong chuỗi được

thỏa thuận từ trước giữa các tác nhân trong chuỗi với các điều khoản hợp đồng. Vào

thời điểm trước khi mùa vụ bắt đầu, AGPPS ký hợp đồng trực tiếp với từng hộ nông

dân. Nội dung của những cam kết này là:



32



Công ty cung cấp vật tư đầu vào, bao gồm giống lúa, thuốc bảo vệ thực vật, và

phân bón (riêng phân bón khơng bắt buộc, sẽ giải thích rõ hơn ở dưới đây). Giá cả tính

theo thời giá, có thể cho nợ đến cuối vụ thanh tốn khơng tính lãi suất.

Trong suốt q trình canh tác, công ty hỗ trợ về kỹ thuật cho nông dân, thông

qua đội ngũ FF thường trực ở từng địa phương. Mỗi FF làm việc trực tiếp với khoảng

10-25 hộ nông dân, tùy theo quy mô canh tác của các hộ. Mỗi ngày, FF đi thăm đồng

cùng 5-6 hộ nông dân (10-15ha). Như vậy, tần suất thăm đồng cùng nông dân của các

FF vào khoảng 2-3 lần/tuần. Nhiệm vụ của các FF là chủ động theo dõi, dự báo tình

hình dịch hại để có biện pháp xử lý kịp thời. Nếu cần phải xử lý thì FF sẽ nhận thuốc

từ cơng ty và phát cho nơng dân, sau đó theo dõi kết quả.

Sau khi thu hoạch, công ty cung cấp bao bì và tổ chức bốc xếp, vận chuyển từ

ruộng về nhà máy. Nếu nông dân chưa muốn bán lúa tươi thì cơng ty sấy xong sẽ cho

lưu kho miễn phí trong vòng 1 tháng.

Về phía nơng dân, trong q trình sản xuất lúa hàng hóa, họ phải tn thủ đúng

quy trình kỹ thuật theo hướng dẫn của các FF. Sau khi thu hoạch, nông dân phải giao

lúa đến nhà máy do công ty chỉ định. Nếu không bán lúa cho cơng ty thì sẽ phải hồn

lại mọi khoản hỗ trợ đã nhận bao gồm lãi suất của chi phí vật tư (theo mức lãi suất cho

vay của Ngân hàng Nơng nghiệp), bao bì, cơng vận chuyển, phí lưu kho (nếu có).

Việc cơng ty ký kết hợp đồng trực tiếp với các hộ dân có ưu điểm là tăng mức

độ đảm bảo về chất lượng và giá thành sản xuất lúa, giảm bớt các rủi ro trong sản xuất

và rủi ro do sự thay đổi không lường trước được của thị trường. Tuy nhiên, việc này

đòi hỏi cơng ty phải có đội ngũ nhân viên tương đối đơng đảo (ở đây là các FF). Đây

là điều mà không phải công ty nào cũng có khả năng đáp ứng.

Với sự hưởng ứng mạnh mẽ của chính quyền các tỉnh, các “cánh đồng lớn” đã

xuất hiện ở 12/13 tỉnh/ thành phố của vùng ĐBSCL với diện tích tăng lên đáng kể

(Bảng 4).

Bảng 4: Diện tích mơ hình “Cánh đồng mẫu lớn” ở ĐBSCL (ha)



1

2

3

4

5

6

7



Tỉnh/Thành phố

Long An

Đồng Tháp

An Giang

Tiền Giang

Vĩnh Long

Bến Tre

Kiên Giang



H-T 2011

450

390

3.857

222

124

47

480



Đ-X 11-12

2.026

4.810

5.500

626

713

0

1.320



H-T 2012

2.114

6.600

6.000

300

710

100

2.640



Đ-X 12-13

5.023

20.044

20.000

300

950

300

1.450

33



8

9

10

11

12



Cần Thơ

195

1.832

4.602

11.200

Hậu Giang

50

150

1.490

619

Trà Vinh

762

1.100

3.470

2.000

Sóc Trăng

70

4.024

10.000

Bạc Liêu

240

60

60

Tổng cộng

6.887

18.077

32.110

71.946

Nguồn : Cục Trồng trọt, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nơng thơn (2013).



Mơ hình liên kết sản xuất tiêu thụ lúa Nhật của Cty TNHH Angimex –

Kitoku

Công ty Liên doanh Angimex – Kitoku đã xây dựng nhà máy và bắt đầu ký hợp

đồng sản xuất lúa Nhật với giá cố định ngay từ đầu vụ với nông dân từ năm 1996.

Công ty cung ứng lúa giống và 3 năm gần đây liên kết với Công ty Bảo vệ thực vật An

Giang cung ứng thuốc bảo vệ thực vật, đến cuối vụ trừ vào tiền mua lúa. Diện tích ký

hợp đồng với nông dân, chủ yếu là vụ Đông Xuân tăng dần từ 200 ha/năm đến 1.700

ha (2009), công ty thu mua tồn bộ sản phẩm của nơng dân.

Để hỗ trợ mơ hình, UBND Tỉnh giao cho Hội Nơng dân Tỉnh làm công tác vận

động và tổ chức nông dân vào tổ hợp tác, Sở Nông nghiệp và PTNT An Giang phối

hợp hỗ trợ kỹ thuật nông nghiệp cho Công ty trong việc thử nghiệm giống lúa Nhật,

phòng trừ rầy nâu, phổ biến cơng nghệ giảm thất thốt trong q trình sản xuất và thu

hoạch.

Trong quá trình sản xuất, lực lượng cán bộ kỹ thuật của công ty và Hội Nông

dân các xã được phân công đến từng Tổ sản xuất để hỗ trợ cho nơng dân trong suốt

q trình canh tác, từ khi gieo sạ đến thu hoạch, sẵn sàng tư vấn cho họ để chăm sóc

đồng ruộng, phòng ngừa sâu bệnh.

Trước khi chuẩn bị công tác thu hoạch và nhập kho Hội Nông dân tỉnh và Công

ty tổ chức Hội nghị cho tồn thể các tổ trưởng, tổ phó, Hội Nơng dân, UBND xã, Hội

Nơng dân huyện có diện tích sản xuất lúa Nhật nhằm bàn các giải pháp về kỹ thuật

khử hạt dài, độ ẩm lúa khi nhập kho, hạn chế sử dụng thuốc BVTV khi thu hoạch;

cũng như các vấn đề liên quan đến thu hoạch như việc sắp xếp bố trí các máy gặt đập

liên hợp, hướng dẫn phơi sấy, tìm phương tiện vận chuyển sản phẩm đến công ty…

Trong vụ Đông Xuân 2010 - 2011, công ty liên doanh Angimex Kitoku thực

hiện ký hợp đồng tiêu thụ lúa Nhật với nơng dân với diện tích 750 ha với mức giá dao

động từ 6.500 – 7.500 đ/kg (tùy loại giống). Trong vụ Hè Thu thực hiện 200 ha và

triển khai ký hợp đồng sản xuất với nông dân với quy mô 443 ha. Hợp đồng liên kết

loại này là nhằm hạn chế được rủi ro do giá cả thị trường giao động cho nông dân.

2.4.2.



34



Vụ Đông Xn năm 2013-2014 diện tích nơng dân đăng ký sản xuất lúa Nhật

với công ty Angimex Kitoku gồm 13 xã của 04 huyện Châu Thành, Tri Tôn, Thoại

Sơn, Long Xuyên với tổng diện tích là 1.245 ha lúa hàng hóa và 83 ha lúa giống. Số hộ

tham gia là 384 hộ và sản xuất 4 loại giống: Kinu, Akita, Hana, DSI với mức giá giao

động từ 7.500 đ/kg – 8.400 đ/kg lúa khô (trường hợp thực hiện đúng theo hợp đồng sẽ

có được thưởng 500 đ/kg cho lúa khơ).

2.5. Đánh giá chung các mơ hình liên kết giữa doanh nghiệp và nông dân

trong sản xuất và tiêu thụ lúa gạo ở đồng bằng sơng Cửu Long

2.5.1. Thuận lợi

Những lợi ích đối với nông dân

Thực hiện liên kết nông dân với doanh nghiệp trong sản xuất và tiêu thụ lúa gạo

có ý nghĩa quan trọng: (i) tập hợp những nông dân sản xuất lúa nhỏ lẻ vào trong một

không gian sản xuất quy mơ lớn, nhưng khơng dẫn đến tích tụ đất đai, không ép người

nông dân phải rời khỏi mảnh ruộng của nhà mình để trở thành người làm thuê; và (ii)

thực hiện tốt việc áp dụng các tiến bộ kỹ thuật tiên tiến trong canh tác lúa đồng bộ,

mang lại hiệu quả trên diện tích lớn, rút ngắn khoảng cách chênh lệch về năng suất

giữa các hộ nông dân.

Sau một thời gian triển khai, số hộ nông dân tham gia sản xuất trên các “cánh

đồng lớn” đã tăng liên tục qua các năm. Điều này chứng tỏ nông dân đã nhận thấy

được những lợi ích khi tham gia liên kết với AGPPS. Các hộ nông dân quan tâm nhiều

nhất đến việc giải quyết những vấn đề sau đây khi ký kết hợp đồng liên kết dài hạn với

AGPPS:

(1) Được AGPPS hỗ trợ về kỹ thuật sản xuất.

Việc các FF luôn sát cánh với nông dân khiến cho họ tiếp nhận và ứng dụng được

những quy trình canh tác mới, đem lại triển vọng năng suất cao hơn và ít rủi ro hơn.

Họ yên tâm hơn trong suốt quá trình sản xuất, đặc biệt là vấn đề phát hiện và xử lý

dịch bệnh. Với tiềm lực lớn về sản xuất và cung ứng các loại thuốc bảo vệ thực vật,

cũng như với kinh nghiệm chỉ đạo chống dịch bệnh đã được thực tế chứng minh,

AGPPS có thể giúp nơng dân tránh rủi ro khi bị sâu bệnh hại mùa màng.

(2) Đảm bảo bán được lúa đúng thời vụ thu hoạch và với giá cả ổn định, không

bị tư tương ép giá.

Trong chuỗi giá trị “truyền thống”, các hộ nông dân bán lúa cho các thương lái

tư nhân. Khơng ít khi thương lái không giữ cam kết mua đúng vào thời điểm và đúng

số lượng lúa mà nông dân thu hoạch vì rất nhiều lý do khác nhau: vì họ khơng có

phương tiện vận tải, khơng có đủ tiền, hay khơng muốn mua vì chê chất lượng lúa,



35



hoặc chờ cho giá lúa trên thị trường xuống thấp thì mới mua, v.v. Thiệt thòi thường rơi

vào phía nơng dân.

Trong chuỗi giá trị mới, những điều kiện mua bán được quy định rõ và thống

nhất cam kết trong hợp đồng, được cơ quan pháp luật xác nhận. Bên nào vi phạm thì

sẽ bị phạt. Trong phần lớn trường hợp, những cam kết đó được hai bên tuân thủ. Điều

này làm cho nông dân n tâm sản xuất. Bên cạnh đó, việc cơng ty niêm yết giá thị

trường hàng ngày tại các điểm thu mua lúa khiến cho nông dân yên tâm về giá bán,

không lo bị ép giá như khi giao dịch với thương lái.

(3) Giảm bớt lượng lúa bị hao hụt sau khi thu hoạch.

Hiện nay hầu hết nông dân đều bán lúa tươi. Họ khơng có máy móc sấy khơ

thóc, cũng có rất ít kho chứa đủ tiêu chuẩn đảm bảo cho thóc khơng bị hỏng. Nhiều hộ

nơng dân lâm vào cảnh khốn khó khi đang kỳ thu hoạch gặp phải mưa lớn kéo dài.

Trời mưa đã khiến cho lúa bị mọc mầm, trong khi nơng dân khơng có thiết bị sấy khơ

lúa, thậm chí cũng khơng có sân phơi (diện tích khơ ráo để tãi lúa ra phơi cho bớt độ

ẩm).Theo khảo sát của Phân viện Cơ điện nông nghiệp và Công nghệ sau thu hoạch,

tổn thất sau thu hoạch lúa gạo tại vùng Đồng bằng sông Cửu Long từ 13 đến 14%,

tương đương mỗi năm thiệt hại khoảng 635 triệu USD (khoảng 12.700 tỷ đồng). Dẫn

đầu là khâu phơi sấy, mất 4,2%, thu hoạch mất 3%, xay xát 3%, bảo quản 2,6%, vận

chuyển 0,9%. Riêng khâu phơi sấy và tồn trữ lúa gạo chưa đáp ứng quy trình đã làm

giảm giá trị hạt gạo Việt Nam xuất khẩu khoảng 200 triệu USD/năm23.

Trong chuỗi sản xuất mới, sau thu hoạch, lúa được chuyển tới nhà máy và sấy

khô kịp thời với hệ thống máy sấy hiện đại. Điều này làm giảm tỷ lệ lúa bị hư hỏng,

nâng cao chất lượng gạo. Khi nông dân chưa muốn bán ngay, để chờ giá lên cao hơn,

thì được nhà máy cho gửi lúa vào kho trong thời gian tối đa 1 tháng mà khơng mất

tiền.

(4) Có thể sử dụng máy móc để bù đắp sự thiếu hụt sức lao động.

Trong thời vụ thu hoạch, thời gian gặt lúa rất ngắn, lại cần tập trung nhiều lao

động để gặt, vận chuyển, phơi sấy. Ở vùng Đồng bằng sông Cửu Long hiện nay, số

người trẻ tuổi thốt ly khỏi nơng nghiệp (rời khỏi địa phương hoặc vẫn cư trú tại địa

phương nhưng chuyển sang khu vực cơng nghiệp hay dịch vụ) có xu hướng ngày càng

tăng. Nhiều hộ nông dân thiếu trầm trọng nhân lực trong thời vụ thu hoạch lúa. Trong

chuỗi giá trị “truyền thống”, người ta phải thuê thêm nhân công để làm các công việc

gặt, vận chuyển, bốc xếp, phơi sấy lúa. Những người lao động làm thuê thời vụ này là

những người có ít ruộng đất, hoặc là những nơng dân tuy có ruộng đất nhưng do sự

chênh lệch về thời gian thu hoạch lúa giữa các vùng nên có thể đi làm cho người khác.

23 Tiến Dũng và Tâm Bường. « Cơ giới hóa trong thu hoạch lúa ở Đồng bằng sông Cửu Long ». Báo Nhân Dân

điện tử ngày 28/3/2013.

36



Gần đây, máy liên hợp gặt đập được ứng dụng thay thế cho sức lao động thủ công.

Tuy nhiên, trong thời vụ thu hoạch, tình trạng cung khơng đáp ứng đủ cầu là phổ biến

cả đối với máy gặt đập lẫn lao động thủ công. Ở tỉnh Hậu Giang, đầu tháng 3 là thời

điểm nông dân thu hoạch rộ vụ Đông Xuân 2012-2013, nhưng nhiều nông dân không

thuê được máy gặt đập liên hợp. Trong khi đó, giá thuê nhân công tăng lên gấp hai lần,

mà vẫn thiếu trầm trọng. Một nông dân ở huyện Vị Thủy (Hậu Giang) cho biết: "Gia

đình tơi có 1,3 ha lúa. Lúc lúa chín rục nhưng vẫn khơng th được máy, tìm đỏ mắt

cũng khơng có người cắt. Lúc đầu th máy gặt đập liên hợp giá 260.000 đồng/công,

sau tăng lên 350.000 đồng/công, nhưng cũng khơng có máy. Tơi phải sang các xã gần

đó thuê nhân công cắt tay giá đến 400.000 đồng/công, nhưng phải tốn thêm 200.000

đồng/cơng chi phí th máy suốt, cơng kéo lúa"24.

Trong chuỗi giá trị mới của AGPPS, các tổ hợp tác của nông dân được thành lập

để thực hiện các công việc thu hoạch lúa. Tổ hợp tác vay vốn tín dụng mua máy móc

và phương tiện vận chuyển. Tổ hợp tác ký hợp đồng với các hộ nông dân về việc thực

hiện công việc cắt lúa, bốc vác, vận chuyển và thu mua lúa tươi của nông dân ngay tại

ruộng. Ở huyện Vĩnh Bình, các tổ hợp tác có 40 máy gặt đập liên hợp, 60 ghe lớn chở

lúa (mỗi ghe có trọng tải 40 – 60 tấn). Việc xây dựng các tổ hợp tác này giúp làm giảm

đi nỗi vất vả và nỗi lo của bà con trong mùa thu hoạch, đồng thời đảm bảo được chất

lượng của lúa nguyên liệu. Thêm nữa, việc các nhà máy của AGPPS đảm nhiệm khâu

phơi sấy đã giúp giảm nhẹ cho hộ nông dân rất nhiều công lao động.

(5) Giảm chi phí sản xuất, tăng thu nhập và lợi nhuận.

Theo các điều khoản hợp đồng ký kết với AGPPS, các hộ nơng dân có thể được

lợi khi: (i) AGPPS cung cấp vật tư nông nghiệp theo cơ chế cho vay với lãi suất ngân

hàng; (ii) AGPPS thu mua lúa tại đồng ruộng, như vậy nơng dân khơng mất chi phí

vận chuyển. Hoặc AGPPS hỗ trợ tiền bốc xếp, vận chuyển, cấp khơng bao bì khi nơng

dân mang lúa tới bán tại các điểm thu mua; (iii) AGPPS sấy lúa và cho lưu kho miễn

phí 1 tháng cho nơng dân. Tính tốn một cách ước lượng những khoản lợi ích này

bằng tiền thì nơng dân có thể tiết kiệm 1.237 đ chi phí cho mỗi kg lúa. (Bảng 5) Nếu

so với giá bán lúa khoảng 5000 đ/kg thì rõ ràng đây là khoản lợi lớn. Tuy nhiên, trong

trường hợp thời tiết tốt vào lúc nơng dân thu hoạch lúa, thì họ khơng phải chi phí cho

phơi sấy. Hoặc trong trường hợp nơng dân bán lúa ngay khi thu hoạch, thì cũng khơng

tính đến tiền cất giữ trong kho. Trong trường hợp bán lúa cho thương lái, thì phần lớn

nơng dân bán tại ruộng và thương lái chịu chi phí vận chuyển đi. Mặc dù vậy, con số

từ 17% đến 35% số hộ được phỏng vấn đánh giá tốt về cơ hội giảm chi phí sản xuất,

đỡ mất cơng phơi sấy, khơng phải trả lãi suất ngân hàng khi mua vật tư, khơng phải chi

24 Tiến Dũng và Tâm Bường. « Cơ giới hóa trong thu hoạch lúa ở Đồng bằng sơng Cửu Long ». Báo Nhân Dân

điện tử ngày 28/3/2013.

37



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

LIÊN KẾT GIỮA DOANH NGHIỆP VÀ NÔNG DÂN TRONG SẢN XUẤT NÔNG NGHIỆP Ở ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×