Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
PHẦN 1: MỞ ĐẦU

PHẦN 1: MỞ ĐẦU

Tải bản đầy đủ - 0trang

canh, các khu nông nghiệp công nghệ cao, gắn với công nghiệp bảo quản, chếbiến, thị

trường trong nước và xuất khẩu [3]. Tuy nhiên xem xét mối quan hệ “4 nhà” theo chuỗi

giá trị: Từ đầu vào (thuốc, phân, vốn, giống, xăng dầu, lao động) => sản xuất (nông

dân và đồng ruộng) => thu gom (nông dân và thương lái) => chế biến (chủ vựa, nhà

máy, công ty lương thực, công ty hợp đồng) => thương mại (xuất khẩu, người bán lẻ,

siêu thị, công ty khác) => tiêu dùng (cá nhân). Cán bộ khuyến nông, nhà khoa học, nhà

nước, ngân hàng tác động đóng vai trò hỗ trợ mối liên kết giữa doanh nghiệp và nơng

dân. Trong q trình sản xuất nông nghiệp mối liên kết giữa doanh nghiệp và người

nông dân được thể hiện đậm nét nhất và cũng là mắt xích quyết định sự thành cơng của

mơ hình liên kết “4 nhà”.

Đặc biệt, Thủ tướng chính phủ đã ban hành quyết định số 80/2002/QĐ-TTg ngày

24 tháng 6 năm 2002 về chính sách khuyến khích tiêu thụ nơng sản hàng hóa thơng

qua hợp đồng đã qui định “Nhà nước khuyến khích các doanh nghiệp thuộc các thành

phần kinh tế ký kết hợp đồng tiêu thụ nơng sản hàng hóa (bao gồm nông sản, lâm sản,

thủy sản và muối) với người sản xuất (hợp tác xã, hộ nông dân, trang trại, đại diện hộ

nông dân) nhằm gắn sản xuất với chế biến và tiêu thụ nơng sản hàng hóa để phát triển

sản xuất ổn định và bền vững”[4].

Năm 2011, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn đã vận động nông dân và các

doanh nghiệp hợp tác với nhau để hình thành chuỗi sản xuất lúa gạo có quy mơ lớn.

Trong chuỗi sản xuất đó, nhiều hộ nơng dân liên kết thành nhóm, cùng áp dụng quy

trình gieo trồng thống nhất, áp dụng một số tiến bộ kỹ thuật mới và cơ giới hóa; các

doanh nghiệp ký kết hợp đồng với nông dân về cung ứng vật tư và tiêu thụ sản phẩm.

Chuỗi sản xuất này được gọi tắt là “mơ hình cánh đồng mẫu lớn” – từ tên gọi của điển

hình liên kết sản xuất và tiêu thụ lúa gạo ở tỉnh An Giang. “Cánh đồng lớn” được xem

như là cách thức đưa sản xuất lúa gạo từ sản xuất quy mơ gia đình sang quy mơ lớn

mà khơng cần thay đổi sở hữu ruộng đất của các hộ nơng dân, tạo ra những lơ hàng

lúa gạo lớn có chất lượng cao hơn và đồng đều, đáp ứng được những tiêu chuẩn cao

của xuất khẩu và tiêu dùng trong nước. Nghị quyết số 21/2011/QH13, ngày 26/11/2011

của Quốc hội đã khẳng định đây là một trong các giải pháp quan trọng, lâu dài, góp

phần tái cơ cấu ngành nơng nghiệp, nâng cao giá trị gia tăng và phát triển nền nông

nghiệp bền vững.

“Cánh đồng lớn” về mặt lý thuyết là chuỗi sản xuất có hiệu quả đối với nơng dân

và doanh nghiệp. Tuy nhiên, việc triển khai, nhân rộng trong cộng đồng doanh nghiệp

và ở các địa phương không phải là công việc dễ dàng. Qua gần 4 năm Bộ NN-PTNT

3Đảng cộng sản Việt Nam (2011), [Trực tuyến], địa chỉ http://tuanvietnam.vietnamnet.vn/2010-09-14-du-thaobao-cao-chinh-tri-cua-bch-trung-uong-dang#

4 Thủ tướng chính phủ2002),Quyết định số 80/2002/QĐ-TTg ngày 24 tháng 6 năm 2002 về chính sách khuyến

khích tiêu thụ nơng sản hàng hóa thơng qua hợp đồng, Hà Nội.

4



vận động áp dụng, diện tích lúa trồng theo kiểu “cánh đồng lớn” hiện mới vào khoảng

70.000 ha ở Đồng bằng sông Cửu Long. Đây là con số quá nhỏ so với diện tích sản

xuất lúa tồn vùng này. Đã có nhiều trường hợp thất bại ở một số tỉnh, mà nguyên

nhân nằm ở chính sự liên kết chưa chặt chẽ và tồn diện, cũng như chưa đảm bảo tính

cơng bằng trong chia sẻ lợi ích giữa các bên tham gia. Điều nghịch lý là hiện nay chính

những cơng ty lương thực Nhà nước chi phối phần lớn việc xuất khẩu gạo lại chưa tích

cực tham gia thực hiện chủ trương mở rộng “cánh đồng lớn” mà Chính phủ đề ra.

Nhiều hộ nơng dân cũng chưa tìm thấy lợi ích trong việc hợp tác với nhau và ký hợp

đồng với các doanh nghiệp cung ứng vật tư, chế biến và buôn bán nơng sản. Cũng lại

có một số trường hợp doanh nghiệp ký kết hợp đồng với nông dân trong các khâu sản

xuất và tiêu thụ lúa gạo, song lại chưa tạo nên được các “cánh đồng lớn”, bởi vì chưa

có sự phối hợp chung, thống nhất, cùng một lúc với nhiều hộ nông dân, mà chỉ là các

hợp đồng thương mại riêng lẻ, không bao hàm việc thay đổi quy trình cơng nghệ sản

xuất và quy mơ canh tác.

Nhằm xem xét về tính khả thi, tính hiệu quả, tính bền vững và khả năng nhân

rộng các hình thức liên kết giữa các hộ nông dân với các doanh nghiệp cung ứng vật tư

nông nghiệp, chế biến và buôn bán lúa gạo, nghiên cứu này tập trung phân tích một số

mơ hình liên kết bằng cơ chế hợp đồng giữa các hộ nông dân và các công ty/doanh

nghiệp ở An Giang. Đây là “cánh đồng lớn” đầu tiên ở Đồng bằng sông Cửu Long

được đánh giá là thành công và được các cơ quan chính phủ Việt Nam khuyến khích

nhân rộng trong cả nước. Bên cạnh đó, một số trường hợp liên kết giữa nông dân,

doanh nghiệp và các đối tác khác ở vùng ĐBSCL, bao gồm cả những trường hợp thành

công và thất bại, cũng được khảo sát để so sánh, nhằm mục đích tìm ra những ngun

nhân thành cơng và những điều kiện đảm bảo cho việc nhân rộng điển hình. Việc phân

tích so sánh các trường hợp cũng sẽ chỉ ra tại sao các công ty chế biến và buôn bán

nông sản, cũng như một số lớn các hộ nông dân trồng lúa chưa quan tâm tới việc thực

hiện chuỗi sản xuất kiểu “cánh đồng lớn”, bất chấp sự vận động, các chính hỗ trợ và

vai trò can thiệp trực tiếp của chính quyền nhiều địa phương nhằm thúc đẩy thực hiện

mơ hình này.

2. Tổng quan vấn đề nghiên cứu

2.1. Nghiên cứu nước ngoài

Liên kết giữa doanh nghiệp với nông dân là một bộ phận của liên kết nói chung,

tuy nhiên nó có những vấn đề riêng của nó. Trên thế giới, các nhà nghiên cứu khơng

trực tiếp đề cập đến vấn đề liên kết giữa doanh nghiệp với nơng dân, mà chỉ tập trung

bàn về hình thức biểu hiện của nó là sản xuất nơng nghiệp theo hợp đồng (contract

farming- CF). Theo Glover (1987) nông nghiệp hợp đồng (CF) về bản chất là một sự

sắp xếp mang tính thể chế mà tính ưu việt của nó là kết hợp được những ưu thế của

5



đồn điền (kiểm soát chất lượng, sự liên kết sản xuất và tiếp thị) với những ưu thế của

sản xuất tiểu nơng (khuyến khích lao động, đầu tư cẩn trọng)[5].

Tuy nhiên lý giải sự ra đời của CF có nguồn gốc sâu xa hơn, Reardon, T.,

Barrett, CB, (2000), trong tác phẩm “Agroindustrialization, globalization, and

international development: An overview of issues, patterns, and determinants”đã nhận

xét quá trình cơng nghiệp hóa nơng nghiệp ở nhiều nước phát triển đã mang lại kết quả

là đã điều chỉnh được chuỗi cung cấp kết nối chặt chẽ hơn [6]; hay theo Sukhpal Singh

(2002), trong tác phẩm“Contracting Out Solutions: Political Economy of Contract

Farming in the Indian Punjab” cho rằng: Những thay đổi của q trình cơng nghiệp

hóa nơng nghiệp gắn liền với q trình quốc tế hóa nơng nghiệp, tồn cầu hóa sản

xuất, nhất là sau q trình phi thực dân hóa, giải thể các đồn điền thực dân dẫn đến

việc hình thành những chuỗi cung cấp, chuỗi xuất khẩu giữa các nước phát triển có

vốn và kỹ thuật với những nước đang phát triển chỉ có lao động và đất đai [7].

Tuy nhiên điều đáng nói là bên cạnh những nhà nghiên cứu ca ngợi những ưu

điểm, tiến bộ của CF đối với cả doanh nghiệp và nông dân như: Runsten, D., Key, N.

(1999) [8], Glover và Kusterer (1990) [9] … cũng đã có khơng ít những nhà kinh tế học

phản ảnh những mặt tiêu cực của CF, tiêu biểu như Ashok B Sharma(2006), trong tác

phẩm “Contract farming did no good to farmers”, đã cho rằng hợp đồng nông nghiệp,

trong kinh tế- chính trị, là một trong những phương thức của chủ nghĩa tư bản thâm

nhập vào nông nghiệp để tích lũy vốn và khai thác lĩnh vực nơng nghiệp bởi các công

ty kinh doanh nông sản [10] watts (1994) hoặc Singh (2002) cho rằng nông nghiệp hợp



5 Glover, D.(1987), “Increasing the benefits to smallholders from contract farming: problems for farmers’

organisations and policy makers”, World Development 15 (4), 441–448.

6Reardon, T, Barrett, CB, 2000. Reardon, T., Barrett, C.B.(2000) “Agroindustrialization, globalization, and

international development: An overview of issues, patterns, and determinants” Agricultural Economics 23, 195–

205 (Special issue).

7 Sukhpalsingh (2002), “Contracting Out Solutions: Political Economy of Contract Farming in the Indian

Punjab”, World Development Vol. 30, No. 9, pp. 1621–1638

8 Key, N. and Runsten, D. (1999), ‘‘Contract farming, smallholders and rural development in Latin America: the

organization of agroprocessing firms and the scale of outgrower production’’,World Development, Vol. 27 No. 2,

pp. 381-401

9 Glover, D.(1987), “Increasing the benefits to smallholders from contract farming: problems for farmers’

organisations and policy makers”, World Development 15 (4), 441–448

10 Key, N. and Runsten, D. (1999), ‘‘Contract farming, smallholders and rural development in Latin America:

the organization of agroprocessing firms and the scale of outgrower production’’,World Development, Vol. 27

No. 2, pp. 381-401

6



đồng là hình thức “bóc lột” nơng dân. [11] , [12].

2.2. Nghiên cứu trong nước

Năm 2006, Việt Nam chính thức trở thành thành viên của Tổ chức Thương mại

thế giới (WTO). Đây là dấu mốc quan trọng cho sự thay đổi đáng kể của nền kinh tế

Việt Nam. Trong cuốn sách “Việt Nam – WTO, những cam kết liên quan đến nông

dân, nông nghiệp, nông thôn và doanh nghiệp”, Nguyễn Hồng Vinh và cộng sự

(2007)đã tổng kết quá trình Việt Nam ra nhập WTO, những cơ hội thách thức, đồng

thời nhóm tác giả cũng đưa ra những cam kết liên quan đến nông dân, nông nghiệp,

nông thôn và doanh nghiệp trong thực hiện các cam kết của WTO. Tất cả các cam kết

này đều nhằm hướng tới phát triển một nền kinh tế xanh, nông nghiệp xanh, đảm bảo

yêu cầu chung của thế giới.

Qua điều tra 8 cơ sở chế biến chè và 60 hộ trồng chè tại Mộc Châu, 4 cơ sở chế

biến đường và 60 hộ trồng mía ở Mai Sơn, Lê Hữu Ảnh và cộng sự (2011) chỉ ra rằng

các doanh nghiệp đang sử dụng 4 hình thức hợp đồng sản xuất với hộ nơng dân gồm:

giao khốn trên đất của công ty; công ty đầu tư và thu mua sản phẩm cho hộ sản xuất;

công ty bán vật tư, mua sản phẩm cho hộ sản xuất và công ty hợp đồng mua sản phẩm

cho hộ. Từ đó xác định được đặc điểm của các hình thức hợp đồng sản xuất, mức độ

thực hiện hợp đồng sản xuất trong vùng. Nghiên cứu cũng đã tính được kết quả phân

phối lợi ích trong các hình thức hợp đồng sản xuất.

Tỉnh An Giang vốn có thế mạnh về sản xuất lúa gạo. Sản lượng hàng năm đạt

trên 3,6 triệu tấn, xuất khẩu từ 500.000 – 600.000 tấn gạo. Nhằm kết nối sản xuất và

tiêu thụ sản phẩm, tỉnh đã đưa ra chủ trương “Liên kết 4 nhà” từ những năm 2000.

Nhu cầu liên kết ngày càng trở nên bức thiết do nhu cầu cạnh tranh, hội nhập kinh tế

quốc tế. Thông qua bài viết “Các mơ hình liên kết sản xuất lúa và thực hiện “cánh

đồng mẫu lớn” ở An Giang” tác giả Đồn Ngọc Phả (2011) đã tổng kết các mơ hình

liên kết điển hình ở An Giang bao gồm: Mơ hình liên kết sản xuất lúa Nhật: Mơ hình

này được ký kết giữa người nông dân An Giang với Công ty Liên doanh AngimexKitoku chuyên cung ứng lúa giống (đã ký hợp đồng với người nông dân từ năm 1996),

kết hợp với Công ty Cổ phần Bảo vệ thực vật An Giang chuyên cung ứng thuốc bảo vệ

thực vật (ký hợp đồng với người nơng dân từ 2009). Mơ hình đã đạt được những thành

công đáng kể và tránh cho người nông dân những rủi ro biến động giá do hợp đồng ký

với giá cố định ngay từ đầu vụ. Mơ hình liên kết xây dựng vùng ngun liệu của

11 Key, N. and Runsten, D. (1999), ‘‘Contract farming, smallholders and rural development in Latin America:

the organization of agroprocessing firms and the scale of outgrower production’’,World Development, Vol. 27

No. 2, pp. 381-401

12 Sukhpalsingh (2002), “Contracting Out Solutions: Political Economy of Contract Farming in the Indian

Punjab”, World Development Vol. 30, No. 9, pp. 1621–1638



7



Công ty Xuất nhập khẩu An Giang (ANGIMEX): Công ty ký hợp đồng sản xuất lúa

chất lượng cao với người nông dân từ năm 2007 chủ yếu trên địa bàn huyện Thoại Sơn

và Châu Thành. Công ty cung ứng cho người nơng dân tồn bộ phân bón và giống lúa

chất lượng cao, cán bộ công ty đến kiểm tra chất lượng lúa trước khi người nông dân

mang đến nhà máy. Mơ hình sản xuất lúa theo tiêu chuẩn GLOBAL GAP được thực

hiện từ năm 2009-2010 triển khai tại 2 huyện Thoại Sơn và Châu Phú với sự tham gia

đầu tư của các công ty TNHH SGS Việt Nam, công ty ADB (cung ứng giống lúa,

thuốc bảo vệ thực vật và tiêu thụ), công ty TNHH TUV SUD PSD Vietnam. Mơ hình

liên kết của Cơng ty Bảo vệ thực vật: triển khai từ vụ Đông Xuân 2010-2011 do công

ty Cổ phần bảo vệ thực vật An Giang – Nhà máy chế biến gạo Vĩnh Bình ký hợp đồng

tiêu thụ sản phẩm ở 2 huyện Châu Thành và Thoại Sơn. Trong đó cơng ty thực hiện

cung ứng giống, phân bón, thuốc trừ sâu cho nông dân lãi xuất 0% và trừ lại khi nông

dân bán lúa cho công ty. Trong quá trình sản xuất người nơng dân được cán bộ của

cơng ty hỗ trợ kỹ thuật.

Ở An Giang, mơ hình “liên kết 4 nhà” bước đầu đã được xác lập và hình thành

thơng qua việc tổ chức xây dựng vùng ngun liệu và ký hợp đồng tiêu thụ sản phẩm;

tại các mơ hình này, giữa doanh nghiệp và nơng dân đã có sự liên kết hợp tác khá chặt

chẽ, hợp đồng kinh tế được thực hiện đầy đủ, có trách nhiệm, lợi ích cả đơi bên được

đảm bảo, nơng dân trong vùng nguyên liệu được doanh nghiệp, nhà khoa học, nhà

nước tập trung chuyển giao khoa học kỹ thuật, được cung cấp một phần chi phí sản

xuất, sản phẩm làm ra được doanh nghiệp bao tiêu, do đó nơng dân n tâm và sản

xuất theo đúng quy trình kỹ thuật, tạo ra sản phẩm theo yêu cầu của doanh nghiệp;

thông qua hợp đồng kinh tế doanh nghiệp có được nguồn nguyên liệu ổn định về số

lượng và chất lượng, đảm bảo tính chủ động trong kinh doanh và có điều kiện thuận

lợi để phát triển thương hiệu, tạo vị thế cạnh tranh cho doanh nghiệp. Trong quá trình

thực hiện tỉnh An Giang đã rút ra một số kinh nghiệm: (1) Xác định liên kết hợp tác

giữa nông dân và doanh nghiệp là nòng cốt, có ý nghĩa quan trọng của sự “liên kết 4

nhà”; (2) tăng cường phát huy vai trò nhà nước trong mối “liên kết 4 nhà”.13

Mơ hình liên kết “4 nhà” được xây dựng tại xã Định Hóa, huyện Gò Quao, Kiên

Giang (của tác giả Nguyễn Phú Sơn (2013)) thơng qua một quy trình gồm 6 bước và

dựa trên cơ sở lý thuyết liên kết dọc trong chuỗi giá trị giữa Hợp tác xã Hòa Tiến và

Cơng ty Gentraco, với sự hỗ trợ, thúc đẩy của Ủy ban nhân dân xã Định Hòa và nhóm

tư vấn của trường Đại học Cần Thơ. Kết quả của mơ hình đã mang lại những lợi ích

cho cả “4 nhà”. Đối với nơng dân, lợi ích lớn nhất mang lại cho họ là việc làm thay đổi

hành vi sản xuất theo hướng “Bán cái thị trường cần, chứ không phải bán cái mình

có”. Đối với cơng ty, việc tham gia mơ hình liên kết này đã góp phần làm gia tăng

13 Báo cáo tham luận Tổ chức sản xuất nông sản hàng hóa theo mơ hình liên kết 4 nhà tại tỉnh An Giang

8



thương hiệu, cũng như tạo tiền đề cho việc xây dựng vùng nguyên liệu. Đối với địa

phương, thông qua việc tham gia liên kết đã giúp cán bộ địa phương nâng cao được

năng lực quản lý, cũng như góp phần vào nhiệm vụ xây dựng xã Nông thôn mới. Cuối

cùng, thông qua liên kết này đã giúp cho các nhà khoa học bổ sung thêm những cơ sở

lý thuyết chuỗi giá trị, cũng như làm gia tăng sự trải nghiệm về vấn đề liên kết “4

nhà”.

Mơ hình phát triển Hợp tác xã Nông nghiệp với phương châm mang lại nhiều

lợi ích cho người nơng dân như: (1) Cung cấp hàng hóa, vật tư đầu vào sản xuất cho

nơng dân với giá cả phải chăng, tiện lợi và đảm bảo chất lượng. (2) Giúp người nông

dân tiêu thụ sản phẩm dễ dàng, có kế hoạch với chi phí giảm, giá cả hợp lý, ổn định,

tiêu chuẩn hóa sản phẩm ở mức cao. (3) Tạo thế cạnh tranh tốt cho nông dân khi mua

vào và bán sản phẩm hàng hóa. (4) Liên kết nông dân sử dụng hết công suất máy móc,

chi phí sản xuất thấp. (5) Đào tạo năng lực tự quản lý, năng lực áp dụng kỹ thuật tiên

tiến cho nơng dân. Do đó mà mơ hình phát triển Hợp tác xã Nông nghiệp hiện nay

đang được rất nhiều địa phương trong cả nước chú trọng và phát triển. Tác giả Nguyễn

Cơng Bình đã có nghiên cứu về các mơ hình phát triển Hợp tác xã nơng nghiệp từ một

số quốc gia trên thế giới, tiêu biểu là bài học kinh nghiệm của một số nước như Nhật

Bản, Hàn Quốc, Thái Lan. Từ đó trên thực tế của Việt Nam tác giả cũng đưa ra những

bài học kinh nghiệm trong vấn đề phát triển mơ hình Hợp tác xã bao gồm các khâu tổ

chức, đội ngũ quản lý Hợp tác xã nơng nghiệp và vai trò của Hợp tác xã nông nghiệp

trong việc cung cấp dịch vụ đối với nơng thơn.

Tìm hiểu kinh nghiệm của Thái Lan, Bảo Trung (2012) đã nghiên cứu cơ chế

sản xuất- tiêu thụ mía đường của Thái Lan bao gồm: cơ chế hình thành giá, phân bổ lợi

ích, kiểm sốt chữ đường và trọng lượng mía, cơ chế phân bổ hạn ngạch, cơ chế liên

kết nơng dân trồng mía, các nhà máy chế biến đường và hình thành các nhóm lợi ích.

Xuất phát từ hiệp hội của những người nơng dân trồng mía đường, và hiệp hội các nhà

máy chế biển đường và theo Luật mía đường và đường năm 1984, ngành mía đường

Thái Lan đã nổi lên thành một ngành có ảnh hưởng lớn đến chính sách khi Hội đồng

mía đường và đường được thành lập. Hội đồng này đã trở thành một nhóm lợi ích để

“tìm kiếm đặc lợi” (Rent seeking)14 cho ngành mía đường. Ảnh hưởng đáng kể của

ngành mía đường thường xuất phát từ những nhóm lợi ích được tổ chức chặt chẽ.

Nhóm này kết nối, xúc tiến và xử lý một cách hiệu quả từ lợi ích của họ thành chính

sách cụ thể. Sự thành cơng về tổ chức cũng như việc tìm kiếm đặc lợi của các nhà máy

chế biến và người trồng mía ở Thái Lan liên quan đến quy mơ. Số nhà máy chế biến

14 Tìm kiếm đặc lợi (rent-seeking) là cố gắng đạt được đặc lợi kinh tế - tức là lợi ích thu về cho chủ sở hữu

nguồn lực vượt quá lợi ích mà họ có được nếu sử dụng nguồn lực vào phương án thay thế khác. Ví dụ các nhóm

lợi ích có thể vận động hành lang chính trị để duy trì các chính sách hạn chế cạnh tranh như phân bổ hạn ngạch

nhập khẩu, quy định các loại giấy phép hay chứng chỉ hành nghề, đặt ra các tiêu chuẩn hạn chế gia nhập ngành.

9



đường khá ít so với người trồng mía nhưng đến lượt người trồng mía cũng hình thành

những nhóm riêng. Các nhà máy chế biến đường ở Thái Lan được đầu tư với quy mô

lớn để đảm bảo hoạt động hiệu quả và trong phần lớn trường hợp các doanh nhân đầu

tư nhà máy chế biến đường có mối liên kết với các nhà chính trị. Ngành mía đường

Thái Lan có sự liên minh giữa chính trị và kinh tế. Vì vậy chỉ có một số người chủ của

nhà máy chế biến đường và một số người trồng mía lớn có khả năng kiểm sốt ngành

mía đường.

Mơ hình sản xuất gạo sạch theo tiêu chuẩn quốc tế mang thương hiệu gạo Tứ

Quý của công ty TNHH ADC được triển khai ở huyện Cai Lây, Tiền Giang được sản

xuất theo quy trình gạo an tồn đạt tiêu chuẩn Globalgap. Người dân tham gia mơ hình

này phải tn thủ 241 điều quy định nghiêm ngặt trong trồng lúa, mỗi ngày họ phải ghi

chép cẩn thận những điều đã làm để khơng dùng thuốc bảo vệ thực vật và phân bón

q liều gây nguy hiểm cho bản thân. Ngoài ra, việc sử dụng thuốc bừa bãi sẽ gây

nguy hiểm cho môi trường nước ảnh hưởng đến sự sinh tồn của loài thủy sinh. Và điều

quan trọng nữa là gạo "Tứ Quý" sản xuất theo Globalgap đều ghi rõ thông tin về nơi

sản xuất giúp cho cơ quan chức năng kiểm tra, quản lý dễ dàng.

10 năm gắn bó trong sản xuất, cung cấp các vật tư, dịch vụ cho nông nghiệp,

mọi hoạt động của cơng ty ADC đều gắn bó mật thiết với nơng dân. Vì vậy, ADC hiểu

đuợc những vất vả, lo lắng của nông dân và đã mạnh dạn phát triển kinh doanh theo

qui trình khép kín từ cung cấp thuốc bảo vệ thực vật, phân bón, giống..., tư vấn kỹ

thuật đến bao tiêu đầu ra của sản phẩm. Sau khi áp dụng thành cơng mơ hình

Globalgap tại Tiền Giang, mơ hình tiếp tục phát triển, mở rộng vùng ngun liệu ở An

Giang.

Nghiên cứu “Mơ hình liên kết trong sản xuất và tiêu thụ lúa gạo ở Việt Nam”

(2013) do tác giả Đào Thị Thanh Mai và các cộng sự đã tập trung phân tích trường

hợp chuỗi sản xuất hình thành bởi sự liên kết bằng cơ chế hợp đồng giữa các hộ nông

dân và Công ty Cổ phần Bảo vệ thực vật An Giang. Đây là “cánh đồng lớn” đầu tiên ở

Đồng bằng sông Cửu Long được đánh giá là thành cơng và được các cơ quan chính

phủ Việt Nam khuyến cáo nhân rộng trong cả nước. Ngoài ra, một số trường hợp liên

kết giữa nông dân, doanh nghiệp và các đối tác khác ở vùng ĐBSCL, bao gồm cả

những trường hợp thành công và thất bại, cũng được khảo sát để so sánh, nhằm mục

đích tìm ra những nguyên nhân thành công và những điều kiện đảm bảo cho việc nhân

rộng điển hình.

Các phân tích trong báo cáo cho thấy sản xuất và tiêu thụ nông sản theo cơ chế

hợp đồng là hình thức tổ chức thích hợp để chuyển nông nghiệp từ sản xuất quy mô

nhỏ sang sản xuất quy mơ lớn với trình độ phát triển cao hơn. Tổ chức sản xuất và

kinh doanh nông sản theo hợp đồng sẽ giải quyết được các trở ngại về thị trường tiêu

10



thụ, chất lượng sản phẩm, công nghệ và vốn sản xuất, là những vấn đề mà tự thân các

hộ nông dân riêng lẻ không thể giải quyết.



-



3. Mục tiêu nghiên cứu

3.1. Mục tiêu chung:

Tìm hiểu và phân tích các mơ hình liên kết giữa doanh nghiệp và nông dân

trong sản xuất và tiêu thụ lúa gạo ở Đồng bằng sông Cửu Long.

3.2. Mục tiêu cụ thể:

- Hệ thống hóa một số vấn đề về lý luận:

+ Làm rõ một số khái niệm liên quan: liên kết, doanh nghiệp, nơng dân

+ Chủ trương, chính sách của Đảng và nhà nước về vấn đề liên kết giữa doanh

nghiệp và nông dân trong sản xuất nông nhiệp.

- Kinh nghiệm của thế giới trong vấn đề liên kết giữa doanh nghiệp và nông

dân trong sản xuất và tiêu thụ lúa gạo (Thái Lan), từ đó rút ra bài học cho

Việt Nam.

Tìm hiểu và phân tích một số mơ hình liên kết giữa doanh nghiệp và nông dân trong

sản xuất và tiêu thụ lúa gạo ở Đồng bằng sông Cửu Long và dự báo xu hướng.

Kết luận và đưa ra một số giải pháp nhằm thúc đẩy liên kết giữa doanh nghiệp và nông

dân sản xuất và tiêu thụ lúa gạo quy mơ tồn vùng Đồng bằng sơng Cửu Long trong

thời gian tới.

4. Phạm vi nghiên cứu

4.1. Không gian:

- Các mô hình liên kết doanh nghiệp và nơng dân được triển khai trên địa bàn

các tỉnh thuộc đồng bằng sông Cửu Long

4.2. Thời gian:

- Nghiên cứu thu thập và phân tích tài liệu đối với các mơ hình sản xuất nơng

nghiệp ở đồng bằng sông Cửu Long được triển khai từ năm 2002 đến nay.

4.3. Vấn đề nghiên cứu:

- Nghiên cứu mơ hình liên kết giữa doanh nghiệp và nơng dân tập trung vào

mối liên kết kinh tế.

- Liên kết doanh nghiệp và nông dân trong sản xuất nông nghiệp: Chỉ nghiên

cứu một số mơ hình điển hình về sản xuất và tiêu thụ lúa gạo.

5. Cách tiếp cận và phương pháp nghiên cứu

5.1.Cách tiếp cận:

Nghiên cứu sử dụng cách tiếp cận hệ thống: hệ thống vấn đề nghiên cứu theo

thời gian, không gian (các địa phương trong vùng đồng bằng sơng Cửu Long), các quy

trình trong sản xuất và tiêu thụ lúa gạo.



11



5.2. Phương pháp:

Nghiên cứu sử dụng toàn bộ tài liệu thứ cấp gồm số liệu của niên giám thống

kê, tài liệu giấy và internet gồm: các sách, báo, tạp chí, báo cáo, luận án, nghiên cứu

trong và ngồi nước có liên quan tới vấn đề nghiên cứu và liên quan đến vùng nghiên

cứu.

6. Khung phân tích

Chủ chương, chính sách của Đảng và Nhà nước



Được hỗ trợ kỹ thuật sản xuất

DOANH NGHIỆP:

Đảm bảo bán đúng thời vụ thu hoạch và gi

NƠNG

ngày càng mở rơng cho ngành kinh doanh vật tư nông

nghiệpDÂN

Giảm bớt lượng lúa bị hao hụt sau thu hoạ

ấp lúa gạo với chất

lượng

Đầu

vào:tốtgiống, vốn, phân bón, thuốc BVTV, khoa học kỹ thuật.Sử dụng máy móc bù đắp sức lao động

Đất, nguồn lực lao động

Giảm chi phí sản xuất, tăng thu nhập và lợ

Đầu ra:

Sản

xuất

lúa

đúng

tiêu

chuẩn

kỹ

thuật doanh nghiệp yêu cầu

+ Thu gom và bao tiêu sản phẩm

+ Đảm bảo đầu ra cho nơng dân



Tình hình phát triển kinh tế của thế giới và Việt Nam



7. Một số khái niệm liên quan

7.1. Liên kết

Thuật ngữ liên kết (linkage) từ lâu đã được sử dụng trong nhiều ngành khoa học

khác nhau như vật lý học, sinh học, quân sự, chính trị học,… Trong mỗi ngành nó lại

có nội hàm và ý nghĩa riêng. Trong lý thuyết phát triển, thuật ngữ liên kết được sử

dụng đầu tiên trong các cơng trình của Perroux (1955) và Hirschman (1958).

Hirschman (1958) sử dụng khái niệm liên kết dựa trên các mối quan hệ ngành

và liên ngành. Liên kết bao gồm các liên kết ngược (backward linkages, upstream

linkages) và liên kết xi (forward linkages, downstream linkages). Ơng cho rằng các

hiệu ứng liên kết ngược (backward linkage effects) nảy sinh từ nhu cầu cung ứng đầu

vào của một ngành nào đó mới được thiết lập; còn hiệu ứng liên kết xuôi phát sinh từ

12



việc sử dụng đầu ra của ngành đó như là đầu vào của các hoạt động kéo theo. Nói cách

khác bất kỳ một ngành nào mới được thiết lập cũng kéo theo các hoạt động sản xuất

khác nhằm cung cấp đầu vào cho nó; và mọi ngành, trừ các ngành sản xuất hàng hóa

cuối cùng, đều kéo theo các hoạt động khác sử dụng đầu ra của nó như đầu vào của

mình. Hiệu ứng liên kết được xem như các xung lực tạo ra các khoản đầu tư mới thông

qua sự vận động của các mối quan hệ đầu vào – đầu ra. Đây chính là điểm mấu chốt

trong lý thuyết phát triển kinh tế của Hirschman khi ông khuyến nghị cần tập trung đầu

tư vào những ngành có các mối liên kết mạnh, để thơng qua sức lan tỏa của nó thúc

đẩy tăng trưởng kinh tế (tăng trưởng khơng cân đối). Ngồi kiểu liên kết trong sản xuất

nêu trên, Hirschman cũng đề cập đến liên kết tiêu dùng nhưng cho rằng không như liên

kết trong sản xuất liên kết tiêu dùng có thể mang lại hiệu ứng tiêu cực ví dụ như sự suy

tàn của các nghề thủ công khi thu nhập tăng lên, do có sự chuyển hướng trong tiêu

dùng. Trong cơng trình nghiên cứu sau này, Hirschman cũng đề cập đến kiểu liên kết

theo kiểu mạng lưới xã hội khi cho rằng liên kết cũng là “sự ràng buộc chặt chẽ thành

mạng lưới dày đặc các thương gia và cư dân thành thị” (Hirschman, 1977).

Xét về thực chất để phân biệt loại liên kết theo cách tiếp cận của Hirschman thì

liên kết ngược là loại quan hệ được tạo ra khi các doanh nghiệp/hộ gia đình có nhu cầu

được cung cấp đầu vào như nguyên vật liệu, sản phẩm trung gian và dịch vụ từ các

doanh nghiệp/hộ gia đình khác, hay mối quan hệ cầu đầu vào của sản xuất. Liên kết

xuôi được tạo ra khi các doanh nghiệp/hộ gia đình bán sản phẩm và dịch vụ cho các

doanh nghiệp/hộ gia đình khác, hay quan hệ cung đầu ra của sản xuất. Các liên kết

xi và ngược ln hóa quện, gắn bó chặt chẽ và thực chất là hai mặt của quá trình sản

xuất. Để xem xét đâu là liên kết xi và đâu là liên kết xi thì phải xuất phát từ một

chủ thể cụ thể (hộ gia đình, doanh nghiệp, ngành) vì bất kỳ một chủ thể nào cũng ln

trong mối quan hệ song trùng giữa hai loại liên kết.

Ở khía cạnh khác, Fujita & Mori (2005) lại cho rằng có hai loại liên kết chủ

yếu, tạo ra xung lực trong tương tác giữa các ngành. Loại thứ nhất gọi là liên kết kinh

tế (E-linkages), liên quan tới các hoạt động sản xuất và trao đổi hàng hóa và dịch vụ;

loại thứ hai là liên kết kiến thức (K-linkages), bao gồm các hoạt động của con người

trong sáng tạo và chuyển giao kiến thức, từ đó tạo ra hiệu ứng lan tỏa kiến thức

(knowledge spillover effects)

Trong khi đó Perroux (1955) lại tiếp cận khái niệm liên kết về mặt không gian

với lý thuyết về “cực tăng trưởng”. Ý tưởng chủ yếu của ông là chiến lược thiết lập các

khu vực trong đó có ngành (hoặc doanh nghiệp) có sức hút mạnh; nghĩa là tập trung

các hoạt động kinh tế năng động nhất vào một cực tăng trưởng của vùng, từ đó thức

đẩy sự phát triển của các khu vực và ngành khác trong một hệ thống không gian các

mối liên kết và mạng lưới bn bán; từ đó hình thành một tập hợp các liên kết kinh tế

13



giữa cực tăng trưởng và các vùng xung quanh, với mỗi nới có một vai trò nhất định.

Đưa ra ý tưởng như vậy vì ơng cho rằng tăng trưởng và phát triển khơng thể xuất hiện

ở mọi nơi và cùng lúc mà chúng hiện diện ở một số điểm với các cường độ khác nhau;

chúng lan tỏa qua các kênh khác nhau với những hiệu ứng khác nhau đối với nền kinh

tế.

Một cách tiếp cận khác ngược với kiểu liên kết cực/trung tâm tăng trưởng nêu

trên do Friedman & Douglass (1978) đề xuất. Đây là cách tiếp cận theo kiểu từ dưới

lên (bottom up), hướng tới giải quyết các vấn đề nghèo đói thông qua các dự án ở nông

thôn và nông nghiệp, với sự tham gia liên kết của nhiều phía: khu vực tư nhân và nhà

nước, các trung tâm nghiên cứu và các trường đại học, các tổ chức xã hội,…, và được

triển khai trên quy mơ tương đối nhỏ. Nói cách khác, theo cách tiếp cận này, sự phát

triển vùng có thể đạt được một cách tốt nhất thơng qua sự kết nối giữa phát triển đô thị

và phát triển nông thôn ở cấp độ địa phương (Douglass, 1998).

Mushi (2003) tiếp cận khái niệm liên kết giữa đô thị và nông thôn trong vùng

trên cơ sở phức hợp các mối quan hệ trong đó. Có 7 liên kết chủ yếu: i) liên kết về cơ

sở hạ tầng bao gồm đường sá, cảng và hệ thống cơ sở giáo dục và y tế; ii) liên kết kinh

tế bao gồm cấu trúc thị trường, các dòng vốn, lao động và nguyên vật liệu, hợp tác

trong sản xuất và chuyển giao công nghệ; iii) liên kết dịch chuyển dân số bao gồm các

dòng di cư tạm thời và lâu dài; iv) liên kết xã hội bao gồm tương tác giữa các nhóm xã

hội, tơn giáo và văn hóa, và sức khỏe, kỹ năng của dân cư; v) liên kết tổ chức bao gồm

các chuẩn mực và quy tắc, các tổ chức chính thức và phi chính thức; vi) liên kết hành

chính bao gồm các mối quan hệ về cơ cấu hành chính, các chuỗi quyết định chính trị

phi chính thức; và vii) liên kết môi trường bao gồm các mối quan hệ về vốn tự nhiên

và chất thải.

Trong khuôn khổ đề tài này quan tâm tới mối liên kết giữa doanh nghiệp và

nông dân trên khía cạnh kinh tế: liên kết dọc giữa doanh nghiệp và nông dân trong các

khâu sản xuất vả tiêu thụ lúa gạo ở đồng bằng sông Cửu Long.

7.2. Doanh nghiệp

Doanh nghiệp hay đúng ra là doanh thương là một tổ chức kinh tế, có tên riêng,

có tài sản, có trụ sở giao dịch ổn định, được đăng ký kinh doanh theo quy định của

pháp luật nhằm mục đích thực hiện các hoạt động kinh doanh [3].

Cũng theo Luật doanh nghiệp 2005 giải thích, Kinh doanh là việc thực hiện liên

tục một, một số hoặc tất cả các công đoạn của quá trình đầu tư, từ sản xuất đến tiêu thụ

sản phẩm hoặc cung ứng dịch vụ trên thị trường nhằm mục đích sinh lợi. Như vậy

doanh nghiệp là tổ chức kinh tế vị lợi, mặc dù thực tế một số tổ chức doanh nghiệp có

các hoạt động khơng hoàn toàn nhằm mục tiêu lợi nhuận.

Căn cứ vào Luật Doanh nghiệp 2005 thì hình thức pháp lý của các loại hình

14



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

PHẦN 1: MỞ ĐẦU

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×