Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Xét chung trong giai đoạn 2013-2016, sự chuyển dịch cơ cấu giữa ba khu vực không mạnh. Mục tiêu đặt ra cho khu vực công nghiệp xây dựng đến năm 2016 chiếm tỷ trọng khoảng 38% - 40% GDP đã không đạt được, khu vực dịch vụ tăng trưởng khá chậm trong khi đây

Xét chung trong giai đoạn 2013-2016, sự chuyển dịch cơ cấu giữa ba khu vực không mạnh. Mục tiêu đặt ra cho khu vực công nghiệp xây dựng đến năm 2016 chiếm tỷ trọng khoảng 38% - 40% GDP đã không đạt được, khu vực dịch vụ tăng trưởng khá chậm trong khi đây

Tải bản đầy đủ - 0trang

15

Bảng 4: Cơ cấu lao động phân theo nhóm ngành kinh tế

Đơn vị: %

Năm

Nông nghiệp

Công nghiệp

Dịch vụ



2013

63

17

20



2014

61,3

18,3

20,4



2015

57,2

21,9

20,9



2016

56

22,4

21,6



Nguồn: Cục thống kê Phú Thọ

Kết quả của việc chuyển dịch hoạt động nông nghiệp sang các ngành

khác, đã làm cho lao động trong nơng nghiệp giảm xuống còn 48,8% tổng số

cơng ăn việc làm trong năm 2016 so với mức 63% năm 2013, lao động trong

nhóm ngành cơng nghiệp - xây dựng tăng từ 17% lên 22,4%, lao động trong

nhóm ngành dịch vụ từ 20% lên 21,6%. Tuy nhiên, tỷ lệ lao động trong ngành

nông nghiệp vẫn chiếm tỷ lệ cao (55% năm 2016 gấp 2,6 lần tỷ lệ lao động

trong ngành dịch vụ).

2.3. Hạn chế thể hiện ở hiệu quả của tăng trưởng kinh tế:

- Hệ số ICOR cao:

Bảng 5: Hệ số ICOR của Phú Thọ, giai đoạn 2013-2016

Tăng trưởng

Năm

2013

2014

2015

2016



GDP (%)

6,45

5,32

8,56

8,12



Tỷ lệ đầu tư so với

GDP (%)

ICOR

50,5

7,8

51,2

9,6

59,2

6,9

63,7

7,8

Nguồn: Cục thống kê Phú Thọ



Nhìn trên góc độ cả nước, trong giai đoạn 2011 – 2014, hệ số ICOR của

Việt Nam là 4,62 thì hệ số ICOR của tỉnh Phú Thọ có thể nói là ở mức khá lý

tưởng. ICOR có xu hướng giảm trong năm 2015 nhưng lại tăng lên trong năm

2016 và bằng của năm 2013 là 7,8 điều đó nói lên rằng để tăng thêm 1% GDP

thì ngày càng phải tăng thêm tỷ lệ vốn đầu tư/GDP. Hệ số ICOR cao phản ánh

hiệu quả đầu tư ở mức thấp.



16

- Hiệu quả sử dụng lao động của tỉnh thấp thể hiện ở năng suất lao

động thấp và tôc độ tăng năng suất lao động cũng thấp:

Bảng 6: Năng suất lao động của tỉnh Phú Thọ

Năng suất lao động (giá

Năm



thực tế)



2013

2014

2015

2016



(triệu VND/người/năm)

47,66

49,79

56,11

60,82



Tốc độ tăng năng suất lao



Tốc độ tăng trưởng



động (giá so sánh) (%)



GDP (%)



1,25

1,45

3,26

3,61



6,45

5,32

8,12

8,56



Nguồn: Niên giám thống kê Phú Thọ

Năng suất lao động xã hội (được tính bằng GDP theo giá thực tế chia

cho tổng số lao động đang làm việc) của tỉnh Phú Thọ còn rất thấp: năm 2013

đạt khoảng 47,66 triệu đồng/người/năm. Đó là những con số rất khiêm tốn so

với cả nước (68,6 triệu đồng/người/năm). Trong cả giai đoạn 2013- 2016 năng

xuất lao động của tỉnh cũng có xu hướng tăng lên nhưng còn chậm và đặc biệt

năng xuất lao động năm 2016 vẫn còn thấp hơn năng xuất lao động của cả

nước năm 2016 (84,4 triệu đồng/ người/năm) rất nhiều.

Khi năng suất lao động thấp và tăng chậm, thì chẳng những tác động

không tốt tới tăng trưởng GDP mà còn chứng tỏ giá trị thặng dư tạo ra thấp,

ảnh hưởng đến tích lũy tái đầu tư để tái sản xuất mở rộng cũng như nâng cao

mức sống

2.4. Hạn chế thể hiện ở khả năng duy trì tăng trưởng kinh tế trong dài

hạn

- Chất lượng nguồn nhân lực thấp:

Từ năm 2010, tỷ lệ lao động đã qua đào tạo đạt 42,5%, năm 2016 đạt

58% nhưng trong đó, tỷ lệ lao động đã qua đào tạo nghề chỉ tăng từ 28% lên

36,5% (trung bình 1,4%/năm)

- Thu nhập bình quân đầu người:

Bảng 7: Thu nhập BQ đầu người 1 tháng ở Phú Thọ so với cả nước và

các tỉnh vùng trung du và miền núi phía bắc



17



Tỉnh



Thu nhập BQ đầu



Thu từ



người 1 tháng (nghìn



tiền



đồng)



lương,

tiền cơng



Chia theo nguồn thu (%)

Thu từ

Thu từ

nơng lâm

phi nơng

Thu khác

nghiệp,

nghiệp

thuỷ sản



Trung du và miền

1

2

3

4

5

6

7

8

9

10



núi phía Bắc

Quảng Ninh

Thái Ngun

Vĩnh Phúc

Bắc Giang

Phú Thọ

Lào Cai

Yên Bái

Tuyên Quang

Lạng Sơn

Cao Bằng



2.033,0

3.791,0

3.023,0

2.847,0

2.767,0

2.367,0

1.853,0

1.802,0

1.757,0

1.684,0

1.640,0



44,6

52,2

53,7

51,4

44,9

51,5

39,9

42,9

42,0

48,0

53,7



27,4

13,1

18,3

11,9

21,3

22,6

24,7

27,5

29,5

27,1

25,5



18,4

23,8

21,8

26,7

21,1

13,0

30,4

20,5

18,7

16,3

12,0



9,5

10,9

6,2

10,1

12,8

13,0

5,0

9,1

9,8

8,5

8,9



Nguồn: Kết quả điều tra mức sống năm 2016, Tổng cục thống kê

Trong 10 tỉnh trên, Phú Thọ xếp thứ 5 về mức thu nhập bình quân đầu

người, bằng 62,43% so với tỉnh đứng đầu là Quảng Ninh (3.791 nghìn đồng),

nhưng chênh lệch không nhiều so với các tỉnh đứng thứ 2 đến thứ 4 (từ 3.023

ở Thái Nguyên đến 2.767 nghìn đồng ở Bắc Giang1.640 nghìn đồng ở tỉnh

thấp nhất là Cao Bằng). Nhìn chung, thu nhập bình quân đầu người của tỉnh

có tăng trưởng qua từng năm nhưng vẫn chỉ đạt ở mức trung bình so với bình

quân chung của cả vùng trung du và miền núi phía bắc.

- Tăng trưởng làm gia tăng ô nhiêm môi trường

Sự phát triển kinh tế trong thời gian qua của Phú Thọ mang trong mình

những hiểm họa về mơi trường sinh thái. Do chú trọng vào tăng trưởng kinh

tế ít chú ý tới bảo vệ môi trường, nên hiện tượng khai thác bừa bãi và sử dụng

lãng phí tài nguyên thiên nhiên, gây nên suy thối mơi trường và làm mất cân

đối các hệ sinh thái đang diễn ra phổ biến. Q trình đơ thị hoá tăng nhanh

kéo theo sự khai thác quá mức nguồn nước ngầm, ơ nhiễm nguồn nước mặt,

khơng khí và ứ đọng chất thải rắn...

Trong những năm gần đây, môi trường đơ thị và cơng nghiệp của Phú

Thọ có những biến đổi theo những chiều hướng khác nhau đan xen giữa tích



18

cực và tiêu cực. Cùng với sự phát triển kinh tế, sự gia tăng dân số và đơ thị

hố, sự gia tăng các phương tiện giao thông cơ giới, nếu khơng có các biện

pháp quản lý, bảo vệ hợp lý thì mơi trường đơ thị và cơng nghiệp của Phú Thọ

sẽ còn biến đổi theo chiều hướng xấu đi. Tuy các hoạt động bảo vệ mơi

trường đã có những tiến bộ đáng kể, chẳng hạn như mở rộng diện tích đất có

rừng che phủ, bảo tồn thiên nhiên và bảo vệ đa dạng sinh học; tăng số hộ

được sử dụng nước sạch, tăng tỷ lệ thu gom chất thải đơ thị... Nhưng mức độ

ơ nhiễm, sự suy thối và suy giảm chất lượng môi trường vẫn tiếp tục gia

tăng, ảnh hưởng rất lớn đến sản xuất và sức khoẻ của con người.

3. Đánh giá chung chất lượng tăng trưởng kinh tế tỉnh Phú Thọ

Tóm lại, mặc dù cho đến nay, tỉnh Phú Thọ đã đạt được những thành

tựu về tăng trưởng kinh tế rất ấn tượng, tốc độ tăng trưởng kinh tế trong 4

năm 2013 - 2016 liên tục tăng trưởng năm sau cao hơn năm trước, đây là

động lực lớn, là điều kiện cần thúc đẩy và nâng cao chất lượng tăng trưởng

kinh tế của tỉnh Phú Thọ trong những năm tiếp theo. Bên cạnh những yếu tố

thành cơng bề nổi khi nhìn vào tốc độ tăng trưởng kinh tế của tỉnh Phú Thọ,

nhìn một cách tồn diện xét trên chất lượng tăng trưởng thì tốc độ tăng trưởng

chưa xứng với tiềm năng của tỉnh. Quan trọng hơn, đã xuất hiện nhiều dấu

hiệu cảnh báo về chất lượng tăng trưởng của nền kinh tế.

Trên góc độ kinh tế, nếu xét về quan hệ với biến động cơ cấu kinh tế

của các khu vực, các thành phần kinh tế, cũng như các ngành, nhóm ngành và

quan hệ với các chỉ tiêu hiệu quả sản xuất, ta có thể thấy quá trình tái cơ cấu

kinh tế diễn ra chậm chạp. Nếu xét theo quan hệ với các chỉ tiêu hiệu quả kinh

tế và khả năng cạnh tranh, thì chất lượng tăng trưởng càng bộc lộ nhiều hạn

chế, nhất là năng suất lao động quá thấp, điều này chứng tỏ rằng tỷ suất lợi

nhuận thấp và hiệu quả sử dụng vốn của nền kinh tế đang ở mức đáng báo

động. Những dấu hiệu này cho thấy nền kinh tế có hiệu quả thấp, sức cạnh

tranh yếu và ít có sức hút với các nhà đầu tư nước ngồi.



19

Trên góc độ xã hội - môi trường, những thành công trong tăng trưởng

kinh tế đã góp phần giải quyết cơng ăn việc làm cho lực lượng lao động ngày

càng tăng, là nguyên nhân cơ bản khiến tỷ lệ nghèo đói giảm nhanh, cũng như

làm cơ sở cho việc nâng cao phúc lợi xã hội; thể hiện ở mức thu nhập tăng, tỷ

lệ nghèo đói giảm, hỗ trợ các dịch vụ cơng tăng, phát triển tốt dịch vụ y tế và

chăm sóc sức khoẻ cho người dân. Tuy vậy, tăng trưởng kinh tế đang kéo theo

sự phân hoá giàu nghèo ngày càng sâu sắc. Đồng thời, mơi trường tự nhiên

đang suy thối nhanh chóng dưới áp lực tăng trưởng bằng mọi giá, tăng

trưởng theo kế hoạch đề ra.



CHƯƠNG III: GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG TĂNG

TRƯỞNG KINH TẾ TỈNH PHÚ THỌ TỚI NĂM 2020

I. Mục tiêu và định hướng nâng cao chất lượng tăng trưởng kinh tế

tỉnh Phú Thọ tới năm 2020:

1. Mục tiêu tăng trưởng kinh tế tới năm 2020

Tiếp tục duy trì tốc độ tăng trưởng nhanh và bền vững. Xây dựng Phú

Thọ trở thành Trung tâm kinh tế Vùng: là một trong những trung tâm khoa

học, công nghệ; giáo dục – đào tạo, y tế, văn hóa, thể thao, du lịch của vùng

trung du và miền núi Bắc Bộ; là đầu mối giao thông quan trọng nội Vùng và

là thành phố lễ hội về nguồn của dân tộc Việt Nam; đồng thời, là địa bàn trọng

điểm chiến lược về quốc phòng, an ninh của Vùng cũng như của cả nước. Đến



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Xét chung trong giai đoạn 2013-2016, sự chuyển dịch cơ cấu giữa ba khu vực không mạnh. Mục tiêu đặt ra cho khu vực công nghiệp xây dựng đến năm 2016 chiếm tỷ trọng khoảng 38% - 40% GDP đã không đạt được, khu vực dịch vụ tăng trưởng khá chậm trong khi đây

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×