Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Các tiềm năng thế mạnh

Các tiềm năng thế mạnh

Tải bản đầy đủ - 0trang

10

Thọ có nhiều tiềm năng phát triển cơng nghiệp chế biến nơng - lâm lâm

nghiệp

- Phú Thọ có một số loại khống sản có giá trị kinh tế như Cao lanh trữ

lượng 30 triệu tấn, Fenspat khoảng 5 triệu tấn, nước khống 48 triệu lít… Đây

là một số lợi thế cho phép Phú Thọ phát triển các ngành công nghiệp như xi

măng, đá xây dựng, các loại vật liệu xây dựng có ưu thế cạnh tranh.

- Tỉnh Phú Thọ hiện có 7 KCN tập trung được Thủ tướng chính phủ

phê duyệt quy hoạch với diện tích hơn 2000 ha. Ngồi ra còn có 02 CCN

trọng điểm UBND tỉnh giao Ban quản lý các KCN quản lý với tổng diện tích

là 120ha (CCN Bạch Hạc 79ha và CCN Đồng Lạng 41 ha). Các KCN, CCN

đều được kết nối với nút lên xuống của đường cao tốc Hà Nôi- Lào Cai,

đường Hồ Chí Minh và Quốc lộ 2, có vị trí thuận lợi về giao thông đường bộ,

đường thuỷ và đường sắt, thơng thương với Thủ đơ Hà Nội, Cảng Hải phòng;

các tỉnh Tây Bắc và tỉnh Vân Nam - Trung Quốc.

- Là vùng đất cổ đậm đặc di sản văn hóa, trong đó Khu di tích lịch sử

Quốc gia đặc biệt quan trọng Đền Hùng là một khơng gian văn hóa có một

khơng hai, có Hát Xoan Phú Thọ vừa được UNESCO vinh danh là di sản văn

hóa phi vật thể của nhân loại; vườn quốc gia Xuân Sơn là một trong mười ba

Vườn quốc gia của Việt Nam, có mỏ nước khống nóng Thanh Thủy có trữ

lượng lớn hàm lượng ngun tố vi lượng hữu ích… Ngồi ra, Phú Thọ còn có

những di sản nổi bật trên với 1.372 di tích văn hóa, lịch sử và các địa điểm

liên quan đến di tích... Tất cả đã tạo cho Phú Thọ một tiềm năng vơ cùng to

lớn về du lịch, có thể phát triển khá đa dạng các loại hình du lịch sinh thái,

văn hóa, lịch sử, tham quan, nghỉ dưỡng.

- Nguồn lao động dồi dào, chi phí nhân cơng rẻ, bằng 65% so với Hà

Nội và 40% so với thành phố Hồ Chí Minh. Nguồn nhân lực trong độ tuổi lao

động khoảng 800.000 người (tỷ lệ 60% dân số) trong đó lực lượng lao động

trẻ chiếm 65%, tỷ lệ lao động qua đào tạo nghề trên 40%. Hầu hết lao động có



11

trình độ học vấn, đức tính cần cù, siêng năng chịu khó, thơng minh, nhanh

nhẹn, dễ thích nghi với nghề nghiệp.

II. Chất lượng tăng trưởng kinh tế của tỉnh Phú Thọ

1. Kết quả đạt được:

1.1. Tốc độ tăng trưởng kinh tế

Tăng trưởng kinh tế có tầm quan trọng hàng đầu, khổng chỉ chống nguy

cơ tụt hậu xa hơn về kinh tế, để sớm thốt khỏi tình trạng kém phát triển, mà

còn làm tiền đề để thực hiện nhiều mục tiêu kinh tế - xã hội khác của tỉnh như

chống lạm phát, giảm thất nghiệp, tăng thu ngân sách, phát triển giáo dục, y

tế, văn hố, xóa đói giảm nghèo...

Kể từ năm 1996 tới nay, Phú thọ luôn đạt tốc độ tăng trưởng dương với

con số khá cao, thể hiện qua các thời kỳ: thời kỳ 1996-2000 tốc độ tăng

trưởng xấp xỉ đạt 6,7%, giai đoạn 2001-2005 tốc độ tăng trưởng của tỉnh bình

quân là 7,2% và giai đoạn 2005-2010 là 6,4%, giai đoạn 2010 - 2015 là

5,87%.

Tốc độ tăng trưởng quy mô GRDP khá nhanh. Năm 2014, Tổng sản

phẩm trong tỉnh (GRDP) giá 2010 ước đạt 27.183 tỷ đồng, tăng 5,63% so với

năm 2013; GRDP theo giá hiện hành ước đạt 36.665 tỷ đồng; GRDP bình

quân đầu người ước đạt 26,9 triệu đồng; năm 2015, GRDP bình quân đầu

người đạt 29,5 triệu đồng (đứng thứ 3 trong các tỉnh vùng Tây Bắc); năm

2016, GRDP của tỉnh (giá 2010) đạt 33.077 tỷ đồng tăng 8,12% so với năm

2015, cao hơn tăng trưởng bình quân chung của cả nước, GRDP bình quân

đầu người đạt 33,2 triệu đồng. Có thể thấy, trong những năm qua, GRDP liên

tục tăng, nhờ đó thu nhập bình quân đầu người cũng tăng khá, đời sống nhân

dân được nâng cao.

Cùng với sự tăng trưởng kinh tế của đất nước, từ năm 1996 đến nay,

kinh tế Phú Thọ ln có tốc độ tăng trưởng kinh tế khá cao, bình quân là

6,9%, đây là tốc độ tăng trưởng khá. Tính đến nay, tỉnh Phú Thọ đã có 30 năm

liên tục tăng trưởng. có thể nói, kinh tế của tỉnh đạt được trong dài hạn.



12

1.2. Sự dịch chuyển cơ cấu ngành kinh tế:

Bên cạnh tốc độ tăng trưởng cao, cơ cấu kinh tế của tỉnh Phú Thọ trong

những năm qua, đã có sự chuyển dịch tích cực, với tỷ trọng các lĩnh vực kinh

tế có giá trị gia tăng cao ngày càng tăng. Xem xét cơ cấu kinh tế theo ba nhóm

ngành thì thấy rằng tỷ trọng nơng - lâm - thuỷ sản trong GDP đã giảm đều đặn

và tỷ trọng công nghiệp - xây dựng và dịch vụ đã tăng lên tương ứng. Điều

này phù hợp với xu hướng chuyển dịch cơ cấu trong q trình cơng nghiệp

hóa, hiện đại hóa, nâng cao chất lượng tăng trưởng và phát triển kinh tế chung

của đất nước.

Bảng 1: Cơ cấu kinh tế tỉnh Phú Thọ phân theo nhóm ngành (giá hiện hành)

Đơn vị tính: %

Năm



Tổng số



2014

2015

2016



100

100

100



Nơng, lâm nghiệp



Cơng nghiệp



và thuỷ sản

26,79

24.88

24,04



và xây dựng

36,01

37,99

39,65



Dịch vụ

37,19

37,13

36,31



Nguồn: Niên giám thống kê Phú Thọ

Có thể thấy rõ, cơ cấu kinh tế của Phú Thọ chuyển dịch đúng hướng

tích cực, tỷ trọng của nhóm ngành nơng nghiệp trong GDP của tỉnh Phú Thọ

giảm dần theo thời gian, từ 26,79% xuống 24,04% trong thời kỳ 2014-2016,

trong khi cơng nghiệp đóng vai trò ngày càng quan trọng trong nền kinh tế, từ

36,01% tăng lên 39,65% trong cùng thời kỳ. Khu vực dịch vụ chưa chiếm tỷ

trọng lớn nhất trong ba khối ngành và lại có xu thế đi xuống, chỉ ở mức

36,31% trong 3 năm trở lại đây.

1.3. Tăng trưởng kinh tế đã tạo nền tảng phát triển xã hội:

Bên cạnh việc tập trung tăng trưởng kinh tế, Phú Thọ cũng rất quan tâm

tới các vấn đề xã hội.

Trong giai đoạn 2010 -2015 đã giải quyết việc làm cho trên 115 nghìn

lao động (trung bình mỗi năm giải quyết việc làm cho 22 nghìn lao động),

năm 2016 là 14,5 nghìn lao động.



13

Tỷ lệ thất thiệp thành thị xuống mức 2,6 % (thấp hơn bình quân chung

cả nước) giai đoạn 2012 – 2015.

Tỷ lệ đói nghèo giảm mạnh từ 20,34 % năm 2010 xuống 7,89% năm

2015 (bình quân giảm 2%/năm), đến nay tỉnh đã được đưa ra khỏi danh sách

các tỉnh nghèo.

Trong giai đoạn 2010 - 2015, tỉnh đã sớm hoàn thành mục tiêu phổ cập

giáo dục mầm non cho trẻ 5 tuổi. Kinh phí đầu tư từ ngân sách cho các cơ sở

đào tạo, dạy nghề tăng 64,3%, quy mô đào tạo tăng 35,5% so với giai đôạn

2005 - 2010. Tổng số nhân lực đào tạo mới đạt 179,2 nghìn người (bình quân

35,84 nghìn người/năm).

Trong giai đoạn 2010 – 2015, tỉnh đã đưa vào khai thác một số dự án

du lịch thế mạnh tại các khu du lịch trọng điểm của tỉnh. Lượng khách đến

thăm quan, du lịch và thực hành tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương hàng năm

đạt 6 - 7 triệu lượt; doanh thu du lịch tăng 17,9%/năm, gấp 2,25 lần so với

năm 2010. Đặc biệt, tỉnh đã xây dựng và bảo vệ thành công hai di sản văn hoá

phi vật thể “Hát Xoan Phú Thọ” và “Tín ngưỡng Thờ cúng Hùng Vương ở

Phú Thọ” được UNESCO cơng nhận và vinh danh, góp phần khẳng định giá

trị lịch sử, văn hóa và tạo sự lan tỏa của khơng gian văn hóa vùng Đất Tổ.

2. Một số hạn chế:

2.1. Hạn chế thể hiện ở trạng thái tăng trưởng kinh tế:

Tăng trưởng kinh tế cao nhưng chưa ổn định, nhất là nhóm ngành cơng

nghiệp xây dựng thể hiện trong 4 năm từ 2013 – 2016.

Bảng 2: Tốc độ tăng trưởng của các nhóm ngành kinh tế

Đơn vị: %

Năm

Tốc độ tăng trưởng chung

Nông lâm nghiệp

CN xây dựng

Dịch vụ



2013

6,45

5,63

6,76

6,73



2014

5,32

3,82

5,2

6,42



2015

8,56

3,02

15,16

6,09



2016

8,12

5,16

11,66

6,99



14

Nguồn: Cục thống kê Phú Thọ

Trong 4 năm qua, xét theo tỷ trọng giá trị tăng thêm trong GDP, cơ

cấu kinh tế chủ yếu biến đổi theo sự chuyển dịch của hai nhóm

ngành nơng - lâm - thủy sản và cơng nghiệp - xây dựng. Nhưng

xét chung trong giai đoạn 2013 - 2016, tốc độ tăng trưởng của 2

khu vực này chưa đều, nhất là nhóm ngành cơng nghiệp xây dựng.

2.2. Hạn chế thể hiện ở phương thức của tăng trưởng kinh tế:

Xét chung trong giai đoạn 2013-2016, sự chuyển dịch cơ cấu giữa

ba khu vực không mạnh. Mục tiêu đặt ra cho khu vực công nghiệp

xây dựng đến năm 2016 chiếm tỷ trọng khoảng 38% - 40% GDP

đã không đạt được, khu vực dịch vụ tăng trưởng khá chậm trong

khi đây là những khu vực có rất nhiều cơ hội và tiềm năng phát

triển.

Bảng 3: Đóng góp của các ngành trong GDP tính theo tỷ lệ %

Năm



Tổng số



2014

2015

2016



100

100

100



Nơng, lâm nghiệp



Cơng nghiệp



và thuỷ sản

26,79

24,88

24,04



và xây dựng

36,01

37,99

39,65



Dịch vụ

37,19

37,13

36,31



Nhìn từ góc độ dài hạn, chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng cơng

nghiệp hố, hiện đại hố còn chậm, q trình chuyển dịch cơ cấu chưa diễn ra

theo một quy hoạch chiến lược tổng thể có tầm nhìn xa, với một lộ trình hợp

lý và được bảo đảm thực hiện nghiêm ngặt. Những năm qua là giai đoạn diễn

biến cơ cấu được định hướng bởi các quy hoạch mang tính cục bộ ngành và

địa phương, nhằm phục vụ cho các lợi ích cục bộ và ngắn hạn, thậm chí mang

tính chụp giật. Chính vì thế, quy hoạch tổng thể thường bị điều chỉnh, phá vỡ,

hiệu quả đầu tư thấp, cơ cấu chuyển dịch không đúng yêu cầu thúc đẩy tăng

trưởng cao, bền vững, nâng cao sức cạnh tranh và theo hướng từng bước phát

triển kinh tế tri thức.

Kéo theo đó là cơ cấu lao động của tỉnh chuyển dịch vẫn chậm:



15

Bảng 4: Cơ cấu lao động phân theo nhóm ngành kinh tế

Đơn vị: %

Năm

Nơng nghiệp

Công nghiệp

Dịch vụ



2013

63

17

20



2014

61,3

18,3

20,4



2015

57,2

21,9

20,9



2016

56

22,4

21,6



Nguồn: Cục thống kê Phú Thọ

Kết quả của việc chuyển dịch hoạt động nông nghiệp sang các ngành

khác, đã làm cho lao động trong nông nghiệp giảm xuống còn 48,8% tổng số

cơng ăn việc làm trong năm 2016 so với mức 63% năm 2013, lao động trong

nhóm ngành công nghiệp - xây dựng tăng từ 17% lên 22,4%, lao động trong

nhóm ngành dịch vụ từ 20% lên 21,6%. Tuy nhiên, tỷ lệ lao động trong ngành

nông nghiệp vẫn chiếm tỷ lệ cao (55% năm 2016 gấp 2,6 lần tỷ lệ lao động

trong ngành dịch vụ).

2.3. Hạn chế thể hiện ở hiệu quả của tăng trưởng kinh tế:

- Hệ số ICOR cao:

Bảng 5: Hệ số ICOR của Phú Thọ, giai đoạn 2013-2016

Tăng trưởng

Năm

2013

2014

2015

2016



GDP (%)

6,45

5,32

8,56

8,12



Tỷ lệ đầu tư so với

GDP (%)

ICOR

50,5

7,8

51,2

9,6

59,2

6,9

63,7

7,8

Nguồn: Cục thống kê Phú Thọ



Nhìn trên góc độ cả nước, trong giai đoạn 2011 – 2014, hệ số ICOR của

Việt Nam là 4,62 thì hệ số ICOR của tỉnh Phú Thọ có thể nói là ở mức khá lý

tưởng. ICOR có xu hướng giảm trong năm 2015 nhưng lại tăng lên trong năm

2016 và bằng của năm 2013 là 7,8 điều đó nói lên rằng để tăng thêm 1% GDP

thì ngày càng phải tăng thêm tỷ lệ vốn đầu tư/GDP. Hệ số ICOR cao phản ánh

hiệu quả đầu tư ở mức thấp.



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Các tiềm năng thế mạnh

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×