Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ VỐN ĐẦU TƯ VÀ THU HÚT VỐN ĐẦU TƯ PHÁT TRIỂN LÂM NGHIỆP

Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ VỐN ĐẦU TƯ VÀ THU HÚT VỐN ĐẦU TƯ PHÁT TRIỂN LÂM NGHIỆP

Tải bản đầy đủ - 0trang

5



mơi trường, bảo tồn đa dạng sinh học, góp phần xố đói giảm nghèo, đặc biệt

cho người dân miền núi, góp phần ổn định xã hội và an ninh quốc phòng”1.

Lâm nghiệp có tính đặc thù, trong khi hoạch định dự án, triển khai đầu

tƣ nếu khơng hiểu tính đặc thù thì sẽ khơng biết vận dụng những cơ chế hiện

hành để tiến lập đƣa ra những nội dung đầu tƣ phù hợp thì dự án sẽ khó có

tính khả thi.

Tính đặc thù nổi bật của lâm nghiệp là:

- Chu kỳ sản xuất lâm nghiệp rất dài, phụ thuộc nhiều vào tự nhiên, tính

rủi ro cao.

- Phạm vi địa bàn sản xuất rộng, tái sản xuất tự nhiên là chủ đạo, giữa

khai thác và tái sinh tự nhiên có mối quan hệ hữu cơ và mang tính thời vụ.

- Lâm nghiệp có tính xã hội sâu sắc, có mối quan hệ mật thiết đến vấn

đề đất đai, tài nguyên, kinh tế-xã hội tại các vùng khó khăn, xa xơi, nơi có

đồng bào các dân tộc sinh sống, dân trí thấp. Nhƣ vậy khi đánh giá hiệu quả

đầu tƣ lâm nghiệp không chỉ lấy kinh tế đơn thuần làm thƣớc đo mà còn một

loạt các chỉ tiêu gián tiếp khác nhƣ góp phần phòng hộ, bảo vệ mơi trƣờng,

xố đói giảm nghèo, phát triển kinh tế-xã hội vùng sâu, vùng xa nơi đồng bào

dân tộc...

Nhƣ vậy, đầu tư trong lâm nghiệp là hoạt động tổng hợp có nhiệm vụ

sử dụng tiền vốn và các nguồn tài ngun khác, khơng ngồi khái niệm đầu tư

nói chung nhưng khi triển khai sử dụng tiền vốn và các nguồn tài nguyên đất

đai, tài nguyên rừng trong một thời gian tương đối dài nhằm bảo tồn gen và

đa dạng sinh học, đem lại những lợi ích kinh tế, nguồn nước, mơi trường, góp

phần phát triển kinh tế -xã hội và an ninh quốc phòng.



1



Kinh tế lâm nghiệp và đầu tư (2006), Cẩm nang ngành lâm nghiệp



6



1.1.2. Vốn đầu tư trong lâm nghiệp

1.1.2.1. ốn đầu tư

Mọi hoạt động của nền kinh tế muốn tiến hành đƣợc bình thƣờng đều

phải có các nguồn lực đầu vào cơ bản thể hiện dƣới hình thức tƣ liệu lao động

(TLLĐ), đối tƣợng lao động (ĐTLĐ) và sức lao động của con ngƣời. Nững

TLLĐ và ĐTLĐ ngoại trừ tài nguyên thiên nhiên: “Đất đai, hầm mỏ, nguồn

nƣớc, rừng...” về cơ bản đều do con ngƣời làm ra vì tích lũy trong các năm.

Trong thời đại ngày nay những TLLĐ và ĐTLĐ do con ngƣời làm ra

có quy mơ hết sức to lớn, phong phú và đa dạng về kết cấu và chủng loại và

ngày càng hàm chứa một trình độ khoa học và công nghệ cao. Trong nền kinh

tế thị trƣờng chúng trở thành những tài sản có giá trị, tùy theo đặc điểm vận

động của chúng trong hoạt động kinh tế mà ngƣời ta chia thành tài sản cố

định (nhà xƣởng, vật kiến trúc, máy, móc thiết bị...). Để có tài sản này trong

từng doanh nghiệp, cũng nhƣ phạm vi tồn quốc gia cần phải có các khoản tiền

ứng ra để mua săm chúng. Những khoản tiền đó đƣợc gọi là vốn.

Vốn là nhân tố đầu vào quan trọng của q trình tái sản xuất xã hội, là

tồn bộ tài sản mà nền kinh tế có đƣợc trong q trình xây dựng và phát triển.

Vốn là yếu tố quan trọng nhất đối với sự tăng trƣởng và phát triển kinh

tế của nhiều nƣớc trên thế giới, nhất là với các nƣớc đang phát triển đặc biệt

là với nền kinh tế của nƣớc ta hiện nay.

Với định nghĩa về vốn thì hiện tại vẫn chƣa có một định nghĩa chính

thức nào bằng văn bản. Tuy nhiên, trong nhiều sách, giáo trình, tài liệu của

các trƣờng, các học viện đã đƣa ra các khái niệm về vốn dƣới góc độ phân

loại thành vốn cố định, vốn lƣu động hay vốn đầu tƣ tài chính.

Vốn đầu tƣ là một bộ phận của nguồn lực biểu hiện dƣới dạng giá trị

của các tài sản quốc gia đƣợc biểu hiện bằng các tài sản hữu hình và vơ hình

nhằm sử dụng và mục đích đầu tƣ để sinh lời. Nói cách khác, Vốn đầu tƣ có

thể hiểu là tiền tích lũy của xã hội, của các cơ sở sản xuất, kinh doanh dịch

vụ, tiền tiết kiệm của dân cƣ và vốn huy động từ các nguồn vốn khác đƣa vào



7



sử dụng trong quá trình tái sản xuất xã hội nhằm duy trì và tạo ra năng lực

mới cho nền kinh tế - xã hội.

Vốn đầu tƣ là một phạm trù gắn liền với hoạt động đầu tƣ, hoạt động

đầu tƣ đƣợc hiểu là việc bỏ vốn ra hôm nay để mong nhận đƣợc một kết quả

lớn hơn trong tƣơng lai. hoạt động đầu tƣ có đặc trƣng cơ bản là:

- Khi thực hiện công việc đầu tƣ phải bỏ vốn đầu tƣ ban đầu.

- Mục tiêu của đầu tƣ là hiệu quả kinh tế, hiệu quả xã hội hoặc hiệu

quảkinh tế, xã hội.

Nếu hiểu vốn là vốn sản xuất, tức là giá trị của những tài sản đƣợc sử

dụng làm phƣơng tiện trực tiếp phục vụ cho quá trình sản xuất và dịch vụ, bao

gồm vốn lƣu động và vốn cố định.

Vốn đầu tƣ sản xuất là tồn bộ các khoản cho phí nhằm duy trì hoặc gia

tăng mức vốn sản xuất. Vốn đầu tƣ sản xuất đƣợc chia thành vốn đầu tƣ vào

tài sản lƣu động. Đến lƣợt mình, vốn đầu tƣ vào tài sản cố định lại chia thành

vốn đầu tƣ cơ bản và vốn đầu tƣ sửa chữa lớn. Vốn đầu tƣ cơ bản làm tăng

khối lƣợng thực thể của tài sản cố định, bảo đảm bù đắp số tài sản cố định bị

hao mòn và tăng thêm phần xây lắp dở dang. Còn vốn sửa chữa lớn khơng

làm tăng khối lƣợng thực thể của tài sản, do đó nó khơng có trong thành phần

của vốn đầu tƣ cơ bản. Nhƣng vai trò của vốn sửa chữa lớn tài sản cố định

cũng giống nhƣ vai trò kinh tế của vốn đầu tƣ cơ bản và nhằm đảm bảo thay

thế tài sản hƣ hỏng.

1.1.2.2. ốn đầu tư trong lâm nghiệp

* Khái niệm:

Hiểu theo nghĩa rộng, vốn đầu tƣ là số tiền đƣợc sử dụng vào hoạt động

đầu tƣ đƣợc phân thành ba quá trình: tạo vốn, huy động vốn và sử dụng vốn.

Ba quá trình trên đƣợc phản ánh qua sơ đồ:



8



Tiết

kiệm

tiềm

năng



Các thể chế tài chính

Đầu tƣ

phát

triển



Cất giữ

Sơ đồ 1.1: Q trình hình thành và sử dụng vốn đầu tư

Qua sơ đồ trên có thể có khái niệm vốn đầu tƣ trong lâm nghiệp là số

tiền tích luỹ của xã hội, của các cơ sở sản xuất kinh doanh, dịch vụ, tiền tiết

kiệm của dân, vốn huy động từ nƣớc ngoài và các nguồn khác đƣợc đƣa vào

sử dụng trong quá trình tái sản xuất lâm nghiệp nhằm duy trì các tiềm lực sẵn

có và tạo ra tiềm lực mới cho nền sản xuất lâm nghiệp.

* Đặc điểm của vốn đầu tƣ trong lâm nghiệp:

- Vốn đầu tƣ luôn luôn vận động: Do đặc điểm của hoạt động đầu tƣ dài

nên vốn đầu tƣ chu chuyển chậm, thời gian thu hồi vốn lâu. Đặc điểm trong

lâm nghiệp, do chu kỳ thành thục công nghệ của cây rừng kéo dài hàng chục

năm nên vốn đầu tƣ thƣờng bị ứ đọng lớn dƣới dạng sản phẩm dở dang là

rừng non, rừng chƣa thành thục công nghệ.....

- Vốn đầu tƣ đều có chủ sở hữu cụ thể: Mỗi dự án, mỗi chƣơng trình

đầu tƣ đều có chủ đầu tƣ và xác định chủ quản lý và và sử dụng vốn đầu tƣ

theo pháp luật hiện hành.

- Vốn đầu tƣ đều có mục đích cụ thể: Đầu tƣ cho phát triển cơ sở hạ

tầng, đầu tƣ cho xây dựng và phát triển rừng phòng hộ, rừng đặc dụng.....

- Vốn đầu tƣ có chức năng sinh lời và gia tăng lợi ích xã hội: Đây cũng

là biểu hiện hiệu ích hai mặt của vốn đầu tƣ. Ví dụ: đầu tƣ cho phát triển công

nghiệp, thuỷ điện, phát triển rừng.......



9



- Vốn đầu tƣ có giá trị về mặt thời gian: (giá trị của đồng tiền về mặt

thời gian).

- Ngoài ra trong lâm nghiệp, vốn đầu tƣ còn có tính thời vụ vì phụ

thuộc vào đặc điểm của sản xuất lâm nghiệp mang tính thời vụ rõ rệt.

1.2.2.3. Nguồn hình thành vốn đầu tư trong lâm nghiệp

- Vốn Ngân sách Nhà nƣớc: đƣợc sử dụng để đầu tƣ theo kế hoạch Nhà

nƣớc đối với các dự án xây dựng cơ sở hạ tầng kinh tế, các dự án trồng rừng

phòng hộ, rừng đặc dụng, các khu bảo tồn thiên nhiên, các cơng trình văn hố,

xã hội, phúc lợi cơng cộng, quản lý nhà nƣớc khoa học kỹ thuật, an ninh quốc

phòng và các dự án trọng điểm của nhà nƣớc do chính phủ quyết định mà

khơng có khả năng thu hồi vốn.

- Vốn ƣu đãi thuộc ngân sách Nhà nƣớc: loại vốn này đƣợc dùng để đầu

tƣ cho các chƣơng trình xây dựng cơ sở hạ tầng kinh tế và các cơ sở sản xuất

tạo việc làm, các dự án trọng điểm của nhà nƣớc trong từng thời kỳ và một số

dự án khác của các ngành có khả năng thu hồi vốn và đƣợc xác định trong cơ

cấu kế hoạch của Nhà nƣớc.

- Vốn hỗ trợ phát triển chính thức (ODA): loại vốn này đƣợc quản lý

theo Nghị định riêng. Trong năm 2011, ngành Lâm nghiệp đã mở rộng quan

hệ hợp tác nhiều mặt với các đối tác song phƣơng, đa phƣơng, đa dạng hoá

các mối quan hệ, tham gia tích cực vào các tổ chức, sáng kiến mới về lâm

nghiệp của quốc tế và vùng nhƣ REDD, FLEGHT, rừng và tăng trƣởng

xanh… Đề án thu hút và vận động ODA giai đoạn 2011-2015 đã đƣợc xây

dựng, làm cơ sở để đàm phán với các nhà tài trợ, xây dựng các dự án, chƣơng

trình ODA mới cho ngành.

Quỹ TFF và Quỹ VCF đã trở thành nguồn tài chính quan trọng, bổ sung

nguồn lực cho ngành Lâm nghiệp trong bối cảnh gặp nhiều khó khăn về vốn

sau khi Dự án trồng mới 5 triệu ha rừng kết thúc. Qua đó đã huy động và

tranh thủ đƣợc nhiều nguồn vốn ODA mới cho ngành lâm nghiệp.



10



Tuy nhiên, tiến độ triển khai công việc và giải ngân các dự án ODA

lâm nghiệp chậm hơn so với kế hoạch. Trong tổng số kế hoạch vốn đầu tƣ

ODA của 7 dự án trọng điểm của năm 2011 là 602,4 tỷ đồng, mới giải ngân

đƣợc 496,3 tỷ đồng, đạt 82% kế hoạch.

- Vốn tín dụng thƣơng mại: dùng để xây dựng mới, cải tạo mở rộng, đổi

mới công nghệ kỹ thuật, các dự án sản xuất kinh doanh, dịch vụ có hiệu quả,

có khả năng thu hồi và đủ điều kiện vay vốn theo quy định hiện hành. Vốn tín

dụng thƣơng mại áp dụng theo cơ chế tự vay, tự trả và thực hiện đầy đủ các

thủ tục vay trả.

- Vốn tự huy động: dùng để đầu tƣ cho sản xuất kinh doanh, nâng cao

chất lƣợng và khả năng cạnh tranh của sản phẩm. Doanh nghiệp phải sử dụng

đúng chế độ quản lý vốn hiện hành.

- Vốn hợp tác liên doanh với nƣớc ngoài: trƣờng hợp doanh nghiệp nhà

nƣớc đƣợc phép góp vốn liên doanh với nƣớc ngoài bằng quyền sử dụng đất,

mặt nƣớc, mặt biển, thiết bị và các cơng trình khác thuộc sở hữu nhà nƣớc

phải đƣợc cấp có thẩm quyền cho phép và làm thủ tục nhận vốn để có trách

nhiệm hồn vốn cho nhà nƣớc theo quy định hiện hành.

- Nguồn vốn trực tiếp của tƣ nhân nƣớc ngoài (FDI): Tuy là ngành có

nhiều tiềm năng và lợi thế nhƣng dòng vốn FDI vào ngành nơng-lâm nghiệp

còn tƣơng đối hạn chế so với nhu cầu của ngành. Đầu tƣ trong lĩnh vực nônglâm nghiệp chiếm tỷ trọng rất nhỏ so với tổng vốn đầu tƣ nƣớc ngoài (năm

2012 chiếm 0.6%, năm 2013 chiếm 0.8%, năm 2014 chiếm 0.5% và năm

2015 chiếm 1%). Ngồi ra, phân bổ vốn FDI trong nơng nghiệp cũng không

đồng đều, các dự án FDI chủ yếu tập trung vào một số lĩnh vực nhƣ chế biến

gỗ và lâm sản, chăn nuôi và chế biến thức ăn chăn nuôi. Vốn đầu tƣ cho các

ngành chế biến nông sản, thủy sản còn ít. Điều này đòi hỏi ngành nơng nghiệp

phải có một chiến lƣợc, định hƣớng dài hạn để thu hút vốn FDI.



11



Việc thu hút những doanh nghiệp nƣớc ngoài hợp tác với doanh nghiệp

trong nƣớc trong lĩnh vực này sẽ giúp nền nông-lâm nghiệp Việt Nam tiếp cận

công nghệ tiên tiến, công nghệ sạch trong phát triển chuỗi giá trị sản phẩm

nhằm tạo ra các sản phẩm nông nghiệp có chất lƣợng và giá trị gia tăng cao;

đồng thời sẽ giúp Việt Nam sử dụng và bảo vệ tốt tài nguyên thiên nhiên, tạo

thêm nhiều việc làm và đƣa cách thức quản lý tiên tiến ứng dụng vào ngành

nông nghiệp...

Thời gian vừa qua, một số các nhà đầu tƣ lớn từ Nhật Bản, Hàn Quốc

đã rất quan tâm đến các dự án nông nghiệp tại Việt Nam. Về phía Việt Nam,

nhiều địa phƣơng và doanh nghiệp đã chuẩn bị những dự án để hợp tác đầu tƣ

với nhà đầu tƣ nƣớc ngoài, nhƣng trên thực tế dự án mà hai bên có thể tiến tới

cùng đầu tƣ kinh doanh còn chƣa nhiều.

- Nguồn vốn viện trợ từ các tổ chức phi chính phủ (NGO)

- Nguồn vốn hình thành từ quỹ bù đắp (quỹ khấu hao) và lợi nhuận của

doanh nghiệp.

- Ngồi ra vốn đầu tƣ còn đƣợc hình thành từ nguồn nhân lực, tài

nguyên thiên nhiên và nguồn vốn khoa học cơng nghệ (nguồn đầu tƣ vơ hình)

từ sản trí tuệ của con ngƣời nhƣ các phát minh khoa học, kiểu dáng công

nghệ, ngành nghề truyền thống...

1.1.3. Thu hút vốn đầu tư trong lâm nghiệp

1.1.3.1. Quan điểm về thu hút vốn đầu tư phát triển lâm nghiệp

Trong lâm nghiệp, thuật ngữ xã hội hóa lâm nghiệp hay xã hội hóa

nghề rừng đƣợc nhắc tới nhiều trong văn bản của Đảng, Nhà nƣớc hoặc trong

các giải pháp triển khai công tác bảo vệ và phát triển rừng của các nhà quản

lý. Kết quả hoạt động thực tiễn khoảng hơn 20 năm trở lại đây cho thấy, nền

lâm nghiệp Việt Nam đang có sự chuyển biến rõ nét từ lâm nghiệp truyền



12



thống mà trong đó nhà nƣớc trực tiếp quản lý, điều hành và thực hiện là chủ

yếu sang lâm nghiệp xã hội có sự tham gia của nhiều chủ thể ngoài nhà nƣớc.

Việc giao đất giao rừng cho các tổ chức, cộng đồng, hộ gia đình, cá

nhân sử dụng vào mục đích lâm nghiệp; cho thuê đất lâm nghiệp đối với các

thành phần kinh tế ngoài quốc doanh; cổ phần hóa các doanh nghiệp lâm

nghiệp nhà nƣớc; khốn quản lý bảo vệ rừng cho các hộ gia đình và cộng

đồng dân cƣ sống ở gần rừng; nhà nƣớc và cộng đồng dân cƣ cùng tham gia

quản lý bảo vệ những khu rừng đặc dụng, phòng hộ là những hoạt động mang

tính chất xã hội cao, là những dấu hiệu rõ ràng và bƣớc đi tích cực của q

trình xã hội hóa ngành lâm nghiệp.

Vì vậy, “xã hội hóa nguồn tài chính” trong lâm nghiệp là một nội dung

cơ bản và quan trọng của xã hội hóa ngành lâm nghiệp. Thuật ngữ này có thể

hiểu một cách đơn giản là khuyến khích huy động và sử dụng tổng hợp mọi

nguồn lực tài chính của xã hội cho mục tiêu phát triển và bảo vệ rừng.

Vận dụng phƣơng pháp luận xã hội hóa nguồn tài chính ngồi ngân

sách Nhà nƣớc là cơ sở để xây dựng kịch bản về cơ cấu vốn tài chính cho phát

triển và bảo vệ rừng ở mỗi thời điểm trong giai đoạn đến năm 2020 và đƣợc

cụ thể hóa cho 3 loại rừng: Rừng sản xuất; rừng phòng hộ; và rừng đặc dụng

theo xu hƣớng giảm dần nguồn tài chính đầu tƣ trực tiếp từ ngân sách Nhà

nƣớc đƣợc mơ hình hóa nhƣ sau:

- Chính sách khuyến khích huy động và sử dụng nguồn tài chính ngồi

ngân sách Nhà nƣớc sẽ đƣợc thiết kế có trọng tâm trọng điểm theo chế độ

quản lý và sử dụng của 3 loại rừng.

- Tiếp cận theo vùng và lĩnh vực sản xuất lâm nghiệp là cơ sở để thiết

kế và xây dựng chính sách khuyến khích huy động và sử dụng nguồn tài chính

ngồi ngân sách phù hợp với đặc trƣng sản xuất lâm nghiệp nhằm hạn chế tối



13



đa bất lợi và khai thác triệt để lợi thế của Vùng, cũng nhƣ từng lĩnh vực sản

xuất lâm nghiệp: Lâm sinh – Công nghiệp rừng - Dịch vụ, thƣơng mại.

- Hài hòa lợi ích nhà đầu tƣ và nhà nƣớc, khơi thơng tiềm năng nguồn

vốn tài chính và động lực của các nhà đầu tƣ cá nhân và hộ gia đình, đáp ứng

mục tiêu “xã hội hóa nguồn tài chính” theo đề án phát triển và bảo vệ rừng.

Đối với ngành lâm nghiệp, khuyến khích huy động và sử dụng nguồn

vốn đầu tƣ từ nguồn ngân sách ngoài nhà nƣớc ln đƣợc chú ý đặt ra trong

q trình xây dựng chiến lƣợc phát triển của ngành.

1.1.3.2. Những yếu tố ảnh hưởng đến thu hút vốn đầu tư phát triển lâm nghiệp

a. Các yếu tố thuộc đặc trƣng của sản xuất lâm nghiệp

- Chu kỳ sản xuất trong lâm nghiệp rất dài.

Trong sản xuất lâm nghiệp đối tƣợng lao động chủ yếu là cây rừng. Cây

rừng là thực thể sinh học có thời gian sinh trƣởng, phát triển rất dài: hàng

chục năm thậm chí hàng trăm năm.

Do đặc điểm sản xuất dài đã ảnh hƣởng khơng nhỏ đến tình hình tổ

chức sản xuất, tình hình quản lý, sử dụng các yếu tố nguồn lực trong lâm

nghiệp. Trƣớc hết là vốn đầu tƣ lớn, vốn bị ứ đọng ở sản phẩm dở dang nằm

tại rừng, dƣới dạng rừng non, rừng chƣa thành thục cơng nghệ, do đó tốc độ chu

chuyển chậm, thời hạn thu hồi lâu và thƣờng hiệu quả đầu tƣ thấp.

Mặt khác, sản xuất lâm nghiệp phụ thuộc rất nhiều vào điều kiện tự

nhiên lại diễn ra trong thời gian dài, chắc chắn sẽ có nhiều rủi do, khó bảo vệ

thành quả lao động. Đây cũng là điểm kém hấp dẫn các nhà đầu tƣ bỏ vốn vào

kinh doanh rừng. Đặc biệt là sản xuất lâm nghiệp diễn ra trong cơ chế thị

trƣờng, giá cả luôn luôn bị tác động bởi yếu tố thời gian, chi phí cơ hội lớn,

ngƣời đầu tƣ khó có thể dự đốn đƣợc kết quả đầu ra... Trong công tác nghiên

cứu khoa học cũng gặp phải những cản trở khơng nhỏ, có những cơng trình



14



diễn ra trong thời gian dài mới có kết quả, do đó các nhà khoa học ít có cơ hội

tự đánh giá tổng kết cơng trình nghiên cứu của mình...

- Điều kiện sản xuất lâm nghiệp khó khăn và phức tạp.

Trƣớc hết sản xuất lâm nghiệp thƣờng tiến hành trên một quy mơ rộng

với diện tích đất lâm nghiệp trên 19 triệu ha chiếm 60% diện tích tự nhiên

tồn quốc, với 75% diện tích là đồi núi, dốc cao, địa hình chia cắt phức tạp,

hiểm trở, đất đai thƣờng bị xói mòn và ngay ở vùng ven biển thì đất lâm

nghiệp cũng là những loại đất cát hoặc đất chua mặn khơng có khả năng canh

tác nơng nghiệp. Trên các điều kiện tự nhiên đó, hoạt động sản xuất lâm

nghiệp lại chủ yếu tiến hành ở ngoài trời, cự ly hoạt động ngày một xa... nên

thu nhập thấp, đời sống của ngƣời làm nghề rừng gặp rất nhiều khó khăn.

Về mặt xã hội vì điều kiện tự nhiên phức tạp, cơ sở hạ tầng kém phát

triển, nên điều kiện phát triển kinh tế cũng bị hạn chế. Mặt khác, nguồn lao

động lâm nghiệp chủ yếu là dân tộc ít ngƣời, trình độ dân trí thấp kém, canh

tác lạc hậu ( du canh, du cƣ phá rừng làm nƣơng rẫy...) đã ảnh hƣởng lớn đến

phát triển lâm nghiệp. Đồng thời trên điều kiện địa bàn rộng lớn nhƣ vậy rất

khó khăn cho công tác quản lý, bảo vệ thành quả lao động, vì vậy tính rủi ro

trong sản xuất lâm nghiệp rất cao.

Xuất phát từ đặc thù này, cần phải có sự đầu tƣ thích đáng cho phát

triển lâm nghiệp và phải nhận thức việc đầu tƣ cho phát triển lâm nghiệp là

đầu tƣ cho phát triển kinh tế xã hội vùng trung miền núi, một nhiệm vụ chiến

lƣợc quan trọng của đất nƣớc.

b. Tiềm năng, lợi thế về vị trí địa lý, nguồn tài nguyên, nguồn lao động.

Đối với một quốc gia nói chung, vị trí địa lý, nguồn tài ngun khống

sản và nguồn lực lao động đều có tác động to lớn đến vốn đầu tƣ. Thực tế cho

thấy những nƣớc có đầy đủ tiềm năng nhƣ vị trí địa lý thuận lợi cho hoạt động

sản xuất - kinh doanh, nguồn tài nguyên thiên nhiên phong phú, đa dạng, lao



15



động chất lƣợng cao, đƣợc đào tạo cơ bản về kỹ năng, trình độ thì thu hút vốn

đầu tƣ sẽ thuận lợi hơn các nƣớc có ít hoặc khơng có các tiềm năng và lợi thế

nói trên.

Vị trí địa lý, tài nguyên thiên nhiên, nguồn lao động có ảnh hƣởng trực

tiếp đến kết quả sản xuất - kinh doanh. Vị trí địa lý thuận lợi khiến cho việc

giao lƣu các luồng hàng hóa giữa các vùng, miền trong nƣớc và các nƣớc trên

thế giới diễn ra dễ dàng, đồng thời với sự lƣu chuyển hàng hóa là lƣu chuyển

cơng cụ, máy móc, cơng nghệ hiện đại... Tài ngun thiên nhiên phong phú,

nguồn lao động dồi dào giúp giảm chi phí tối đa cho các hoạt động sản xuất,

nâng cao lợi nhuận kinh doanh, đó là những điều kiện quan trọng tạo sức hấp

dẫn thu hút vốn đầu tƣ. Đặc biệt đối với việc thu hút vốn đầu tƣ phát triển

nông nghiệp - ngành chịu chi phối khơng ít bởi điều kiện tự nhiên và yêu cầu

số lƣợng nhân công lớn, các yếu tố kể trên càng có tác động mạnh mẽ hơn.

c. Năng lực vốn nội tại của địa phƣơng.

Một yếu tố không kém phần quan trọng ảnh hƣởng đến thu hút vốn đầu

tƣ phát triển lâm nghiệp là năng lực vốn nội tại của địa phƣơng. Vốn đầu tƣ

đƣợc huy động tại địa phƣơng bao gồm 3 nguồn chính: vốn nhà nƣớc, vốn của

các doanh nghiệp, vốn trong dân.

Nguồn vốn nƣớc ngồi có vai trò rất lớn trong phát triển kinh tế - xã hội

của một quốc gia, song đó chỉ là nguồn vốn bổ sung. Bởi vì suy cho cùng, vốn

đầu tƣ nƣớc ngoài là một khoản nợ, bao giờ cũng đi kèm với các ràng buộc về

kinh tế, chính trị hoặc bị giám sát, quản lý. Nguồn vốn đƣợc huy động từ năng

lực nội tại của địa phƣơng là nguồn chính đóng góp vào tổng vốn đầu tƣ của

nền kinh tế.

Việt Nam trong những năm gần đây đã có sự phát triển vƣợt bậc về mọi

mặt, nhƣng do xuất phát điểm của nền kinh tế thấp, mức tích lũy từ nội bộ nền

kinh tế còn ít, dẫn đến nguồn vốn có đƣợc từ năng lực nội tại của địa phƣơng



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ VỐN ĐẦU TƯ VÀ THU HÚT VỐN ĐẦU TƯ PHÁT TRIỂN LÂM NGHIỆP

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×