Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Vấn đề tạo việc làm cho người lao động ở huyện Kim Bôi vẫn đang là một vấn đề bức thiết đối với chính quyền và nhân dân huyện đòi hỏi phải có sự quan tâm giải quyết của các cấp, các ngành. Qua việc nghiên cứu khái quát tình hình lao động nông thôn và...

Vấn đề tạo việc làm cho người lao động ở huyện Kim Bôi vẫn đang là một vấn đề bức thiết đối với chính quyền và nhân dân huyện đòi hỏi phải có sự quan tâm giải quyết của các cấp, các ngành. Qua việc nghiên cứu khái quát tình hình lao động nông thôn và...

Tải bản đầy đủ - 0trang

78



Formatted: Font: Times New Roman



3.5.2.1. Mở rộng tạo việc làm trong sản xuất nông nghiệp

- Theo Nghị quyết Đại hội Đảng bộ huyện Kim Bôi lần thứ XXII, nhiệm

kỳ 2015 – 2020 đã nêu mở rộng diện tích trồng cây ăn quả, cây lấy hạt, đƣa vào

trồng thử nghiệm và nhân rộng các loại cây có giá trị kinh tế cao; tiếp tục thực

hiện chủ trƣơng hỗ trợ đổi mới giống cây trồng có chất lƣợng cao trong sản xuất

– lâm nghiệp; tăng cƣờng công tác quản lý nhà nƣớc đối với khâu sản xuất, bảo

đảm cho nông nghiệp tăng trƣởng bền vững và có khả năng cạnh tranh.

- Hiện nay UBND huyện Kim Bơi đang khuyến khích thành lập mơ hình

Hợp tác xã kiểu mới, với mơ hình này sẽ tập hợp đƣợc ngƣời dân cùng chia sẻ

hỗ trợ nhau mọi mặt trong sản xuất nông nghiệp, tham gia hợp tác xã ngƣời

dân còn đƣợc hỗ trợ và bao tiêu sản phẩm nơng nghiệp của mình.

Ngồi ra, UBND huyện Kim Bơi đã phê duyệt dự án “Xóa vƣờn tạp”

giai đoạn 2016 -2020 cho ngƣời dân với kinh phí trên 30 tỉ đồng. Huyện Kim

Bơi hiện có 3.154 ha đất vƣờn tạp, với diện tích vƣờn tạp trên các chủ vƣờn

chỉ trồng cây theo cảm tính, khơng có kế hoạch. Nhiều chủ hộ còn chƣa quan

tâm đến việc sử dụng đất vƣờn cải tạo vƣờn, để đất trống và chƣa tận dụng

đƣợc nguồn lao động và thời gian nhàn rỗi của gia đình. Thơng qua dự án

giúp ngƣời dân nâng cao chất lƣợng sản phẩm, góp phần đảm bảo an toàn

thực phẩm, nâng cao hiệu quả kinh tế hộ gia đình, góp phần quan trọng trong

việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế của huyện, giúp ngƣời dân thốt nghèo từ

chính mảnh đất của mình. Cải tạo vƣờn tạp góp phần tích cực về cơng tác xã

hội nhƣ tạo việc làm cho ngƣời lao động, đặc biệt là lao động nhàn rỗi, góp

phần xóa đói, giảm nghèo, tạo đà cho phát triển nơng nghiệp ở địa phƣơng

gắn với cơng nghiệp hóa, hiện đại hóa. Ngồi ra còn hỗ trợ các hộ dân tiếp

cận với những tiến bộ khoa học kỹ thuật mới áp dụng vào sản xuất, thúc đẩy

quá trình chuyển đổi giống cây trồng có giá trị kinh tế cao, bảo vệ môi trƣờng

sinh thái bền vững.



Formatted: Condensed by 0,2 pt



79



Formatted: Font: Times New Roman



3.5.2.2. Kết hợp truyền nghề với đào tạo chính quy, phát huy thế mạnh của

các ngành nghề thủ công truyền thống

Kim Bôi là huyện đa dân tộc với những sắc thái văn hóa độc đáo, đa

dạng. Vì thế, việc phát triển nghề, sản phẩm từ nghề thủ cơng truyền thống

các dân tộc có vai trò quan trọng góp phần phát triển kinh tế du lịch…

Những năm qua, việc sản xuất các mặt hàng thủ công truyền thống trên

địa bàn huyện đã có những bƣớc phát triển, sản xuất các sản phẩm thủ công

phục vụ khách du lịch tham quan và mua sắm. Nhƣng số lƣợng các mặt hàng

còn hạn chế, việc tổ chức sản xuất hầu hết đƣợc thực hiện trong các hộ gia

đình và vào lúc nơng nhàn, thiếu nguồn nhân lực có tay nghề. Các sản phẩm

còn đơn điệu về mẫu mã và chủng loại, vì vậy khả năng cạnh tranh thấp.

Trên địa bàn huyện, sản phẩm nghề thủ công truyền thống của đồng

bào các dân tộc đƣợc chia thành 3 nhóm: sản phẩm dệt thổ cẩm, sản phẩm

mây tre đan, sản xuất các nhạc cụ truyền thống, Nhu cầu sử dụng đối với

nhóm hàng dệt thổ cẩm, mây tre đan, các nhạc cụ truyền thống là rất lớn.

Tháng 8 năm 2016 Trung tâm dạy nghề huyện Kim Bôi và Trung tâm

giáo dục thƣờng xuyên của huyên đã sát nhập thành Trung tâm giáo dục nghề

nghiệp – Giáo dục thƣờng xuyên huyện Kim Bôi. Đây là một bƣớc ngoặt lớn

và cũng là một cơ hội giúp cho các em học sinh vừa đƣợc giáo dục văn hóa

vừa đƣợc đào tạo nghề chính quy. Trung tâm giáo dục nghề nghiệp – Giáo

dục thƣờng xuyên đã liên kết với các trƣờng trung cấp nghề trong cả nƣớc, sẽ

mở các lớp dạy nghề theo đăng ký của học sinh. Sau 3 năm các em học sinh

sẽ đƣợc cấp cả 2 bằng; Bằng văn hóa và bằng trung cấp nghề chính quy.

- Các tổ chức đồn thể nhƣ hội phụ nữ, hội nơng dân, đồn thanh niên

vận động hội viên và có các hình thức tín dụng ƣu đãi cho sản xuất các ngành

nghề thủ công truyền thống . Đồng thời hỗ trợ ngƣời dân về kỹ thuật, vốn và

tìm đầu ra cho các sản phẩm.



Formatted: Pattern: Clear



80



3.5.2.3. Đẩy mạnh công tác đào tạo nghề

Căn cứ vào thực trạng cơng tác đào tạo nghề đƣợc phân tích ở phần 2

cho thấy: “Đẩy mạnh đào tạo nghề cho lao động nông thôn, thúc đẩy đƣa

công nghiệp vào nông thôn, giải quyết việc làm và chuyển dịch nhanh cơ cấu

lao động nông thôn” là một trong những nội dung của Chƣơng trình mục tiêu

quốc gia về xây dựng nơng thơn mới giai đoạn 2010 - 2020. Đây đƣợc coi là

giải pháp giảm nghèo nhanh và phát triển bền vững, cần đƣợc triển khai thực

hiện đồng bộ từ Trung ƣơng đến địa phƣơng, cùng các bộ, ngành liên quan.

Tuy nhiên, phải bảo đảm yêu cầu phù hợp với đặc điểm về tự nhiên, mơi

trƣờng, kinh tế, văn hóa, xã hội và vấn đề dân tộc của từng vùng, miền. Đây

cũng đƣợc Đảng và Nhà nƣớc ta coi là một nhiệm vụ chiến lƣợc của sự

nghiệp cơng nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nƣớc đối với địa bàn nông nghiệp,

nông thôn.

Để đáp ứng nhu cầu mới chuyển dịch cơ cấu kinh tế, phân cơng lại lao

động trong q trình cơng nghiệp hố, hiện đại hoá đến năm 2020 nâng tỷ lệ

lao động qua đào tạo từ 51,38 % lên 64,5% tức là khoảng 20.000 – 24.000 lao

động qua đào tạo. Huyện cần phối hợp với trung ƣơng, cơ sở đầu tƣ mạnh vào

giáo dục,đào tạo, coi đây là nền kinh tế sản xuất là mục tiêu quan trong trong

chiến lƣợc phát triển kinh tế xã hội. Trong bối cảnh hiện nay khi mà nền kinh

tế đang có xu hƣớng đa phƣơng hố, đa dạng hố thì việc đào tạo tay nghề

cho ngƣời lao động cũng cần phải năng động, linh hoạt và đa dạng. Huyện có

thể áp dụng các hình thức đào tạo nghề:

- Vừa học vừa làm.

- Vừa làm vừa học.

- Chuyên học nghề.

Huyện Kim Bôi cũng nên phối hợp với các tổ chức kinh tế, các trƣờng

dạy nghề, các địa phƣơng khác... mở các lớp đào tạo ngắn hạn, dài hạn tại địa



Formatted: Font: Times New Roman



81



phƣơng với các ngành nghề phù hợp nằm trong chiến lƣợc phát triển, tạo điều

kiện cho ngƣời lao động học nghề, nâng cao tay nghề và đào tạo lại cho phù

hợp với xu hƣớng phát triển hiện nay.

Với mục tiêu dạy nghề cho lao động nông thôn bảo đảm nâng cao kỹ

năng để ngƣời nơng dân sản xuất có hiệu quả, tăng thu nhập, có cơ hội tìm

đƣợc số việc làm ổn định từ 70% - 80%; từng bƣớc tổ chức lại sản xuất tiến

tới sản xuất hàng hóa, chuyển đổi cơ cấu lao động trong nông nghiệp, nông

thôn nhằm xây dựng nông thôn mới phải xác định quyết tâm cao cùng với thái

độ trách nhiệm của cả hệ thống chính trị để thực hiện có hiệu quả một số biện

pháp sau đây:

- Các địa phƣơng tập trung quy hoạch vùng sản xuất nông nghiệp với

quy mô cấp xã theo Thông tƣ số 07/2010/TT-BNNPTNT, ngày 8-2-2010, của

Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, gắn với quy hoạch xây dựng nông

thôn mới để làm cơ sở xác định ngành nghề cần đào tạo cho ngƣời nông dân.

Coi đây là nhiệm vụ trọng tâm trong thực hiện Đề án đào tạo nghề cho lao

động nông thơn; đồng thời rà sốt để bổ sung Đề án, Chƣơng trình của huyện

và xã cho phù hợp.

- Thực hiện tốt Quyết định của Chính phủ: việc dạy nghề cho lao động

sản xuất nông nghiệp do ngành nông nghiệp đảm nhiệm; dạy nghề cho lao

động phi nông nghiệp do Bộ Lao động - Thƣơng binh và Xã hội chủ trì cùng

các bộ, ngành liên quan tổ chức thực hiện.

- Dạy nghề cho lao động nông thôn phải xác định mục tiêu để nơng dân

làm kinh tế, tìm cơ hội có việc làm, tăng thu nhập và thoát nghèo, tránh việc

tổ chức học nghề chỉ mang tính phong trào, hình thức gây lãng phí. Do vậy,

Bộ Lao động - Thƣơng binh và Xã hội, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông

thôn chủ trì cùng các bộ liên quan phải xây dựng nội dung hƣớng dẫn cụ thể,

chi tiết về điều kiện tổ chức dạy nghề cho ba chủ thể: cho cơ sở đƣợc tổ chức



Formatted: Font: Times New Roman



82



học nghề; cho cơ sở dạy nghề và điều kiện đƣợc học nghề của cá nhân, gia

đình học viên. Đặc biệt, phải xây dựng tiêu chí thực hiện và quản lý Đề án

dạy nghề cho lao động nông thôn ngay trong năm 2016 theo yêu cầu về lộ

trình thực hiện Đề án của Chính phủ.

3.5.2.4. Đẩy mạnh hoạt động xuất khẩu lao động

Hiện nay với số ngƣời thất nghiệp ở huyện khá lớn (chiếm 11%) lao

động trong nơng nghiệp còn tình trạng dƣ thừa, nhàn rỗi, chƣa sử dụng hết.

Số ngƣời đến tuổi lao động hàng năm tăng lên trên 1500 ngƣời/năm. Các

ngành kinh tế và các thành phần kinh tế địa phƣơng chƣa đáp ứng đƣợc nhu

cầu giải quyết việc làm của địa phƣơng. Xu hƣớng “Đa dạng hoá và đa dạng

hoá các quan hệ” và tồn cầu hố nền kinh tế đòi hỏi nền kinh tế phải hợp tác

với bên ngồi trên tất cả các lĩnh vực trong đó có lĩnh vực lao động. Về lĩnh

vực này trong những năm qua Kim Bơi đã có quan hệ với một số cơ sở sản

xuất kinh doanh ở trong nƣớc và nƣớc ngoài, đƣa lao động của địa phƣơng

đến làm việc nhƣng thực tế hiệu quả chƣa cao và số lƣợng ngƣời đi xuất khẩu

lao động còn hạn chế. Để giải quyết một phần về sức ép làm việc, tạo việc

làm khác cần tăng cƣờng hình thức xuất khẩu lao động. Có thể thơng qua các

hình thức sau:

- Gia cơng cho bên ngồi nhằm tạo việc làm tại chỗ, dùng nhân lực tại

chỗ, nhân lực nông nghiệp trong lúc nhàn rỗi, đồng thời tận dụng các thế

mạnh về giá cả, tay nghề... để tạo công ăn việc làm ngay tại địa phƣơng.

- Tăng tỷ trọng các sản phẩm xuất khẩu thông qua các hợp đồng với bên

ngồi về các sản phẩm nơng nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, nhằm phát triển các

ngành nghề kinh tế của địa phƣơng để thu hút thêm nhiều lao động.

- Đƣa nhân lực có trình độ chun mơn và nhân lực có trình độ giản đơn ra

bên ngồi làm việc theo hợp đồng nhằm tạo công việc từ bên ngoài, giảm sức ép

thất nghiệp của địa phƣơng, tạo thu nhập để phát triển kinh tế ở địa phƣơng.



Formatted: Font: Times New Roman



83



- Mở rộng thị trƣờng xuất khẩu lao động, một mặt khai thác các thị

trƣờng truyền thống nhƣ: Malaixia, Đài Loan... đồng thời mở rộng xuất khẩu

lao động sang các thị trƣờng có thu nhập cao và có nhu cầu lớn về lao động

nhƣ đƣa ngƣời lao động đi làm nghề nông ở Mỹ, Nhật Bản hay xuất khẩu lao

động sang Châu Âu, Trung Đông... các thị trƣờng vốn ổn định và đƣa lại thu

nhập cao cho ngƣời lao động.

3.5.2.5. Giảm sức ép về việc làm và chính sách dân số

Dân số và kế hoạch hố gia đình là vấn đề quan trọng hàng đầu của

chiến lƣợc phát triển kinh tế xã hội ở nƣớc ta, với mục tiêu “thực hiện gia

đình ít con, khoẻ mạnh, tạo điều kiện để cuộc sống ấm no hạnh phúc...” Hiện

nay Kim Bôi tỷ lệ gia tăng dân số là 1,34%, tỷ lệ sinh là 2,2% thì điều gì sẽ

xảy ra? Câu trả lời tổng quát là cản trở tốc độ phát triển kinh tế gây nhiều khó

khăn cho việc cải thiện đời sống cũng nhƣ trí tuệ văn hố của các tầng lớp dân

cƣ, nhất là vấn đề việc làm cho ngƣời lao động vốn đã phức tạp, bức xúc lại

càng trở nên phức tạp hơn.

- Theo số liệu của phòng Dân số kế hoạch hóa gia đình huyện Kim Bơi

tỉ lệ sinh con thứ 3 có chiều hƣớng tăng lên đã có 23/28 xã, thị trấn có tỷ lệ

sinh con thứ 3. Ngồi ra số vụ tảo hơn cũng tăng mạnh vấn đề dân số đang là

vấn đề rất bất cập trên địa bàn.

Tốc độ tăng dân số ảnh hƣởng đến tăng quy mô nguồn cung lao động, tạo

sức ép lâu dài về việc làm cho khu vực nông thôn, ảnh hƣởng đến chất lƣợng của

ngƣời lao động. Để giảm tỷ lệ tăng dân số, Kim Bôi cần thực hiện các biện pháp

sau:

- Tăng cƣờng công tác giáo dục dân số, truyền thơng dân số đến từng gia

đình, từng cá nhân, phát triển nhận thức và nâng cao hiểu biết về tình hình dân

số, mỗi gia đình chỉ có từ 1 đến 2 con, chống tƣ tƣởng bảo thủ, gia trƣởng, trọng

nam khinh nữ.



Formatted: Font: Times New Roman



84



- Nâng cao năng lực quản lý của bộ máy và năng lực chuyên môn cho

cán bộ cộng tác viên làm công tác kế hoạch hóa gia đình.

- Thơng qua hoạt động của các đoàn thể, các tổ chức xã hội nhƣ Đoàn

thanh niên, hội phụ nữ... thực hiện giáo dục dân số và kế hoạch hóa gia đình cho

mọi đối tƣợng.

- Có hình thức xử lý nghiêm đối với những gia đình khơng thực hiện kế

hoạch hóa gia đình, sinh con thứ 3 trở lên.

Theo Nghị quyết Đại hội Đảng bộ huyện Kim Bôi lần thứ XXII, nhiệm

kỳ 2015 – 2020, phấn đấu giảm tỷ lệ gia tăng dân số tự nhiên xuống còn 1%.

3.5.2.6. Phát triển và đa dạng hóa các loại hình tổ chức sản xuất kinh doanh,

tạo việc làm cho người lao động

* Phát triển kinh tế hộ gia đình trong từng ngành kinh tế trên địa

bàn huyện

Phát triển mạnh kinh tế hộ và kinh tế trang trại ở nông thôn: Đẩy mạnh

phát triển kinh tế hộ ở nông thôn trong tất cả các lĩnh vực, ngành hoạt động

mà kinh tế hộ có thể tham gia. Kinh tế hộ gia đình nơng dân đã đƣợc xác định

là những đơn vị kinh tế tự chủ trong sản xuất nông, lâm, ngƣ nghiệp, và đã

chứng tỏ khả năng phát triển không chỉ trong sản xuất kinh doanh nông, lâm,

ngƣ nghiệp, mà còn mở rộng ra các lĩnh vực hoạt động khác. Tuy nhiên, để

phát triển kinh tế hộ lâu dài và ngày càng mở rộng quy mô, nâng cao chất

lƣợng sản phẩm và dịch vụ tạo ra, cần thực hiện một số biện pháp sau:

- Có chính sách thích hợp hỗ trợ phát triển kinh tế hộ nông dân sản xuất

hàng hố theo đặc thù sản xuất của từng vùng, đó là các chính sách về đất đai,

thuế, tín dụng, khoa học và công nghệ và thị trƣờng tiêu thụ sản phẩm; Kiên

trì thực hiện chủ trƣơng khuyến khích "ai giỏi làm nghề gì làm nghề đó", trên

cơ sở đó đa dạng hoạt động kinh tế từng hộ theo tiềm năng nội tại, khuyến

khích kinh tế hộ sử dụng lao động làm thuê tại chỗ hoặc lao động từ nơi khác



Formatted: Font: Times New Roman



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Vấn đề tạo việc làm cho người lao động ở huyện Kim Bôi vẫn đang là một vấn đề bức thiết đối với chính quyền và nhân dân huyện đòi hỏi phải có sự quan tâm giải quyết của các cấp, các ngành. Qua việc nghiên cứu khái quát tình hình lao động nông thôn và...

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×