Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Lao động là hoạt động có mục đích, có ích cho con người tác động lên tự nhiên, xã hội nhằm mang lại của cải vật chất cho bản thân và cho xã hội.

Lao động là hoạt động có mục đích, có ích cho con người tác động lên tự nhiên, xã hội nhằm mang lại của cải vật chất cho bản thân và cho xã hội.

Tải bản đầy đủ - 0trang

Formatted: Font: Times New Roman



6



những ngƣời thuộc tình trạng khác (bao gồm cả những ngƣời nghỉ hƣu trƣớc

tuổi quy định).

- Chất lƣợng lao động: Thể hiện trình độ chun mơn, tay nghề (trí lực)

và sức khoẻ (thể lực) của ngƣời lao động, ý thức, văn hóa, đạo đức.

Sơ đồ cơ cấu lực lƣợng lao động đƣợc thể hiện qua sơ đồ 3.1.

Dân số trong tuổi lao động quy định



Có việc làm



Khơng có việc làm

U



E

Muốn làm việc



- Chủ động tìm việc

- Sẵn sàng làm việc



Lực lƣợng lao động



Không muốn làm việc



Không Chủ động tìm

việc



Khơng thuộc lực lƣợng

lao động



N



Hình 1.1: Cơ cấu lực lƣợng lao động

E: Ngƣời có việc làm

U: Ngƣời thất nghiệp

N: Ngƣời không tham gia hoạt động kinh tế.

Từ những quan niệm của các nhà nghiên cứu trên thế giới và Việt Nam,

có thể đƣa ra quan niệm về lực lƣợng lao động nhƣ sau: “Lực lƣợng lao động

bao gồm số lƣợng và chất lƣợng những ngƣời từ đủ 15 tuổi trở lên đang có

việc làm hoặc khơng có việc làm, nhƣng có nhu cầu làm việc và sẵn sàng làm

việc”.



7



1.1.2. Lý luận về việc làm, thất nghiệp, thiếu việc làm

Có nhiều cách quan niệm khác nhau về việc làm, song xét cho cùng

thực chất của việc làm là sự kết hợp sức lao động của con ngƣời với tƣ liệu

sản xuất.

Khái niệm việc làm theo Bộ luật Lao động của nƣớc ta bao gồm một

phạm vi rất rộng; từ những công việc đƣợc thực hiện trong các doanh nghiệp,

công sở đến mọi hoạt động lao động hợp pháp nhƣ các cơng việc nội trợ,

chăm sóc con, cháu trong gia đình...đều đƣợc coi là việc làm.

Việc làm là mối quan tâm thƣờng nhật của ngƣời lao động và giải quyết

việc làm cho lao động xã hội là công việc quan trọng của tất cả các quốc gia.

Cuộc sống của bản thân và gia đình ngƣời lao động phụ thuộc rất lớn vào việc

làm của họ. Sự tồn tại và phát triển của mỗi quốc gia cũng gắn liền với tính

hiệu quả của chính sách giải quyết việc làm. Với tầm quan trọng nhƣ vậy,

việc làm đƣợc nghiên cứu dƣới nhiều góc độ khác nhau nhƣ kinh tế, xã hội

học, lịch sử... Khi nghiên cứu dƣới góc độ lịch sử thì việc làm liên quan đến

phƣơng thức lao động kiếm sống của con ngƣời và xã hội loài ngƣời. Các nhà

kinh tế coi sức lao động thơng qua q trình thực hiện việc làm của ngƣời lao

động là yếu tố quan trọng của đầu vào sản xuất và xem xét vấn đề thu nhập

của ngƣời lao động từ việc làm.

Ở Việt Nam trƣớc đây, trong cơ chế kế hoạch tập trung, quan liêu bao

cấp, ngƣời lao động đƣợc coi là có việc làm và đƣợc xã hội thừa nhận chỉ khi

làm việc trong thành phần kinh tế xã hội chủ nghĩa (quốc doanh, tập thể).

Trong cơ chế đó, xã hội khơng thừa nhận việc làm ở các thành phần kinh tế

khác và cũng không thừa nhận thiếu việc làm, thất nghiệp...

Quan niệm về việc làm đã từng bƣớc đƣợc mở rộng hơn theo hƣớng

khuyến khích các loại hình tổ chức kinh tế, hộ gia đình và ngƣời lao động

cùng tham gia tạo việc làm, tạo thu nhập mà không bị pháp luật cấm. Điều 13,



Formatted: Font: Times New Roman



8



Formatted: Font: Times New Roman



chƣơng II Bộ luật Lao động Nƣớc cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam quy

định: “Mọi hoạt động lao động tạo ra nguồn thu nhập không bị pháp luật

cấm đều được thừa nhận là việc làm”[101].



Formatted: Vietnamese



Theo quan niệm trên, việc làm là các hoạt động lao động bao gồm: các

loại cơng việc làm th có trả tiền cơng, tiền lƣơng hoặc một hình thái hiện

vật có giá trị tƣơng đƣơng với giá trị do cơng việc đó tạo ra; những cơng việc

tự làm mang lại lợi ích vật chất thay thế cho thu nhập của bản thân hoặc gia

đình, những cơng việc tự làm thƣờng khơng đƣợc trả cơng bằng tiền hoặc

hiện vật, nhƣng có ý nghĩa về kinh tế đối với bản thân và gia đình ngƣời lao

động. Nhƣ vậy, có thể diễn giải một hoạt động lao động đƣợc coi là việc làm

cần thoả mãn hai điều kiện: Một là, phải có ích, tạo ra thu nhập và mang lại

lợi ích cho ngƣời lao động và các thành viên trong gia đình. Hai là, khơng bị

pháp luật cấm hay đƣợc pháp luật thừa nhận là hợp pháp. Hai điều kiện trên

có quan hệ chặt với nhau, là điều kiện cần và đủ của một hoạt động đƣợc thừa

nhận là việc làm.

Quan niệm trên đã góp phần mở rộng khái niệm về việc làm, phản ánh

đầy đủ các yếu tố cơ bản nhất của việc làm dƣới góc độ khoa học và pháp luật.

* Khái niệm thất nghiệp

Có nhiều quan điểm khác nhau về thất nghiệp, nhƣng nội dung cơ bản

của thất nghiệp là đề cập về việc ngƣời lao động có khả năng làm việc, mong

muốn làm việc nhƣng không đƣợc làm việc. Samuelson - nhà kinh tế học của

trƣờng phái hiện đại cho rằng: “Thất nghiệp là những ngƣời khơng có việc

làm nhƣng đang chờ để trở lại việc làm hoặc đang tích cực tìm việc làm”[17].

Theo tổ chức lao động Quốc Tế (ILO) thì: Tình trạng thất nghiệp là tình

trạng khi một bộ phận ngƣời trong độ tuổi lao động, có khả năng làm việc,

muốn làm việc, nhƣng khơng tìm đƣợc việc làm ở mức tiền công nhất định

mà xã hội thừa nhận. Nói cách khác, ngƣời thất nghiệp là ngƣời lao động



Formatted: Vietnamese



9



Formatted: Font: Times New Roman



trong độ tuổi, có khả năng lao động, nhƣng khơng có việc làm và đang tìm

việc làm [122].

Một cách tiếp cận khác cho rằng, thất nghiệp là hiện tƣợng xã hội, trong

đó có một bộ phận ngƣời lao động bị mất thu nhập do khơng có khả năng tìm

đƣợc việc làm trong khi họ đang trong độ tuổi lao động, có khả năng làm việc

và đã đăng ký tìm việc làm ở cơ quan mơi giới về việc làm, nhƣng chƣa đƣợc

giải quyết việc làm phù hợp với khả năng lao động của họ. Nhƣ vậy, những

ngƣời thất nghiệp tất yếu phải thuộc lực lƣợng lao động hay dân số hoạt động

kinh tế với 3 tiêu chuẩn sau:

- Mong muốn tìm việc làm và đã đăng ký tìm việc tại cơ quan mơi giới

việc làm;

- Có khả năng làm việc;

- Đang chƣa có việc làm phù hợp với khả năng lao động và với mức thu

nhập đƣợc xã hội thừa nhận.

Với cách hiểu trên đây, không phải bất kỳ ai có sức lao động nhƣng

chƣa làm việc đều đƣợc coi là thất nghiệp. Do đó để xác định một ngƣời có

thể đƣợc coi là đối tƣợng thất nghiệp hay khơng thì phải biết đƣợc ngƣời đó

có muốn làm việc hay không. Bởi lẽ, trên thực tế nhiều ngƣời trong tuổi lao

động, có sức khoẻ, có nghề nghiệp song khơng có nhu cầu làm việc, họ sống

chủ yếu dựa vào “nguồn tài chính dự trữ” kế thừa của bố mẹ hoặc nguồn tài

trợ từ xã hội hoặc từ ngƣời khác.

Các kết quả nghiên cứu về lao động và thất nghiệp cho đến nay đã phân

ra các loại hình thất nghiệp nhƣ sau:

- Thất nghiệp tự nhiên: Là loại thất nghiệp xảy ra khi có một tỷ lệ nhất

định số lao động lâm vào tình trạng khơng có việc làm do xã hội không thể

tạo đủ việc làm cho họ.



Formatted: Vietnamese



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Lao động là hoạt động có mục đích, có ích cho con người tác động lên tự nhiên, xã hội nhằm mang lại của cải vật chất cho bản thân và cho xã hội.

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×