Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
VẤN ĐỀ MÔI TRƯỜNG TRONG CÔNG NGHỆ SẢN XUẤT XI MĂNG POOC LĂNG

VẤN ĐỀ MÔI TRƯỜNG TRONG CÔNG NGHỆ SẢN XUẤT XI MĂNG POOC LĂNG

Tải bản đầy đủ - 0trang

Tiểu luận xi măng



Trong quá trình công nghệ, vấn đề môi trường là việc giải quyết toàn bộ

những phần không cần thiết cho sự hình thành sản phẩm, bị thải loại làm ô nghiễm

môi trường xung quanh: ô nhiễm không khí, mưa axit, nhiễm bẩn nguồn nước, năng

lượng dư gây ồn, làm nóng môi trường làm việc, phá hủy cảnh quan thiên nhiên,…

Trong chừng mực nhất định, giải quyết vấn đề môi trường gồm hai vấn đề

lớn[2]:

- Giảm thiểu ảnh hưởng xấu xuống mức hạn cho phép (những mức hạn này phụ

thuôc vào trình độ phát triển xã hội, lối sống và công nghệ,…)

- Thay đổi kỹ thuật và công nghệ để không sinh ra những tác hại đã biết tới môi

trường. Đây chính là bản chất của vấn đề môi trường.

Hiện nay, bảo vệ môi trường trở thành động lực chính trong việc thúc đẩy thay

đổi trong công nghệ sản xuất xi măng.

2.2. Những vấn đề về môi trường của cơng nghiệp sản xuất xi măng Pc lăng

2.2.1 Bụi đá và bụi xi măng

Bụi là những hạt vật chất rắn, có kích thước từ 0,001 μm đến hàng trăm

micromet. Bụi xi măng ở dạng rất mịn (cỡ hạt nhỏ hơn 3 μm) lơ lửng trong khí thải.

Đặc biệt khi hàm lượng SiO2 tự do lớn hơn 2% dễ gây ra bệnh silicon phổi và các

bệnh về hô hấp khác. Bên cạnh đó, bụi theo gió phát tán ra ngoài môi trường, lắng

xuống nước và đất gây suy thái đất và hệ thực vật[2].

Bụi phát sinh từ hầu hết các công đoạn sản xuất: nổ mìn, lấy đá, khai thác đất

sét, nghiền nguyên liệu, nghiền xi măng, vận chuyển, nung,… Khi khai thác đất sét

lượng bụi phát sinh không đáng kể do đất sét có độ ẩm tự nhiên rất cao (1620%).

Lượng bụi trong quá trình khai thác đá là[2]:

 0,4 kg bụi/tấn đá trong công đoạn nổ mìn khai thác đá hộc.

 0,14 kg bụi/tấn đá khi nghiền khô và 0,009 kg/tấn đá theo phương pháp ướt

 0,17 kg bụi/tấn đá khi bốc xếp và vận chuyển.

Theo TCVN 5937-1995 cho phép 0,380,73 mg bụi/Nm3 không khí. Công

nghiệp sản xuất xi măng hiện nay đang phấn đá 0,50 mg bụi/Nm 3 không khí. Hiện



Trang 6



Tiểu luận xi măng



nay ở khoảng 150 mg bụi/Nm3, trong khi các nước phát triển chỉ ở mức 30 mg

bụi/Nm3[2].

Để giảm tác hại của bụi, ta cần xây nhà máy tránh xa khu dân cư, rút ngắn

đườn vận chuyển và khi vận chuyển có vỏ che kín. Tất cả các thiết bị sinh bụi đều

được lắp máy khử bụi thích hợp.



Hình 2.1: Bụi ở nhà máy xi măng Kiên Lương

2.2.2. Ảnh hưởng tiếng ồn, rung động cơ học

Tiếng ồn xuất phát từ thiết bị đập nghiền, do động cơ điện, máy khoan, nổ

mìn, xe vận tải, quạt, máy khí nén,… Tiếng ồn nổ mìn vượt quá giới hạn 100dB ở

khoảng cách 300m so với điểm nổ. Tác động này không liên tục vì mỏ khá xa khu

dân cư. Tuy nhiên, các thiết bị khác thường hoạt động liên tục, dù với cường độ nhỏ

nhưng có thể gây tác hại lâu dài[2]. Tiếng ồn vượt quá giới hạn cho phép gây mệt

mỏi, mất ngủ lâu ngày dẫn tới tăng huyết áp, điếc do nghề nghiệp.

Biện pháp tốt nhất để giảm thiểu tác hại hiện nay là công nhân dùng dụng cụ

bịt tai khi sản xuất, các nhà xưởng kín và các thiết bị được thay đổi phần truyền

động nhằm giảm tiếng ồn.

2.2.3. Ảnh hưởng chất thải rắn chứa các kim loại nặng

Các kim loại nặng có độc tố ảnh hưởng tới sức khỏe là: Hg, Cd, Se, Sn, Zn,

Pb, Ag, Cr, Be, Ni, Ba, As, V. Nói chung, kim loại nặng từ nguyên liệu tồn tại trong

clinker là rất lớn [2].



Trang 7



Tiểu luận xi măng



Trong số các kim loại trên, hiện nay Cr là vấn đề phải quan tâm nhất. Khi hít

thở không khí chứa Cr (2030 mg/Nm3), có thể gây tổn thương cấp tính đường hô

hấp như hắt hơi, viêm mũi, viêm phế quản, lên cơn dị ứng, ho… Còn khi tiếp xúc

với da, Cr gây dị ứng, viêm da nghề nghiệp [2].

Các hợp chất chứa Cr có trong các loại gạch chịu lửa crom-manhezi, từ bi

nghiền bị mài lẫn vào phối liệu và tùy vùng khai thác mà trong nguyên liệu có lẫn

Cr [2]. Xu hướng dùng gạch và thép nghiền không chứa Cr đang được quan tâm.

2.2.4. Ảnh hưởng khí độc

Khí độc do khói thải từ ống khói nhà máy (chiếm tỷ lệ lớn nhất), từ các

phương tiện có động cơ đốt trong. Các khí có tác hại xấu đến môi trường là: CO 2,

SO2, NOx, CO, hydrocacbon, chì (Pb)…[2].



Hình 2.2: Khí thải từ ống khói của nhà máy xi măng Hồng Thạch

CO2 sinh ra do phân hủy CaCO3, do cháy nhiên liệu hoặc cháy các chất hữu

cơ trong nguyên liệu. CO2 không gây độc với cơ thể như CO, nhưng lại ảnh hưởng

lớn đến khí hậu trái đất do gây hiệu ứng nhà kính làm trái đất nóng lên. Lượng khí

thải, trong đó chủ yếu là CO 2, trở thành đối tượng khống chế với các quốc gia phát

triển (Hiệp ước Kyoto 2004) [2].

CO là khí thải do cháy không hoàn toàn nhiên liệu, cháy chất hữu cơ trong

điều kiện thiếu oxy. Trong nhà máy, CO chủ yếu phát sinh từ các thiết bị nung

clinker, do nhiên liệu (than) cháy khơng hết. Còn với động cơ đốt trong chủ yếu do

xe chạy xăng, động cơ dùng dầu diezen thải lượng CO ít hơn nhiều. CO vào máu



Trang 8



Tiểu luận xi măng



cản trở tuần hoàn máu, gây đau đầu, chóng mặt và với liều lượng cao có thể gây

chết người[2].

NOx hình thành do oxy hóa hỗn hợp khí cháy khi nung clinker, từ động cơ

đốt trong của các phương tiện giao thông tạo nên. Dùng thiết bị buồng calci hóa

giảm NOx có thể giảm 2040% lượng NOx trong khí thải.

SO2 phần lớn từ khí thải khi đốt nhiên liệu, do oxy hóa S trong nhiên liệu,

nguyên liệu hoặc do phân hủy các muối sunphat trong nguyên liệu. Về lý thuyết

SO2 có thể oxy hóa thành SO 3 ở nhiệt độ thấp nhưng trong thực tế 99% lượng

sunfur trong khí thải sẽ nằm trong thành phần SO2 [2].

Cả SO2 và NOx đều có tính axit, là nguyên nhân gây ăn mòn hóa học các thiết

bị, gây bệnh đường hô hấp và là nguyên nhân gây ra mưa axit hủy hoại môi trường.

2.2.5. Nước thải

Nguồn nước thải do làm nguội lò, nước thải sinh hoạt, nước làm vệ sinh thiết

bị.. chứa dầu mỡ, các hạt rắn lơ lửng bụi than, đất đá (hệ keo) [2].. Tuy không rõ tác

hại đến với cơ thể nhưng gián tiếp làm bẩn nguồn nước sạch, cảnh quan môi trường.

Kết luận :

Xi măng pooc lăng là chất kết dính vô cơ phổ biến và có vai trò rất quan

trọng đặc biệt là trong lĩnh vực xây dựng. Từ yêu cầu đặt ra về vấn đề bảo vệ môi

trường, các chất kết dính thay thế xi măng pooc lăng thân thiện hơn với môi trường

ngày càng được nghiên cứu rộng rãi và phát triển trong những năm gần đây.



Chương 3

CÁC CHẤT KẾT DÍNH THAY THẾ XI-MĂNG POOC-LĂNG

MANHEZI KIỀM TÍNH – ĐƠLƠMIT KIỀM TÍNH – GEOPOLYMER

3.1. Xi măng có cơ sở hình thành từ MgO



Trang 9



Tiểu luận xi măng



Xi măng hình thành trên cơ sở magnesium oxide hiện nay đang được phát

triển và sản xuất từ 2 khoáng khác nhau chứa Mg. xi măng từ Magnesium

carbonates (MgCO3) có bản chất là MgO hoạt tính còn đối với loại xi măng đi từ

magnesium silicates là hỗn hợp giữa MgO và magnesium carbonates ngậm nước

[1].

Qúa trình sản xuất cả hai loại xi măng này đều yêu cầu nung tuy nhiên về cơ

bản, nguyên vật liệu đầu vào của hai loại khác nhau đã dẫn đến sự tác động rất khác

biệt của hai quy trình sản xuất đến môi trường. xi măng sản xuất từ silicates thô do

thành phần tự nhiên của nó, hàm lượng carbon nội tại ít so với MgCO 3, lượng CO2

thải ra môi trường do đó cũng thấp hơn nhiều, ngược lại thì quá trình nung sản

phẩm xi măng từ magnesium carbonates thải ra lượng CO 2 tương đối lớn. Đối với

loại thứ 2 thì các tiêu chuẩn về môi trường được cấp cho xi măng sẽ phụ thuộc chủ

yếu vào sự thẩm thấu carbon và lượng CO2 mà xi măng hấp thụ được suốt vòng đời

của xi măng [1].

3.1.1. Xi măng sản xuất từ magnesium carbonates

Còn được gọi là “Eco-cements” được sản xuất từ những tiền chất của

magnesium carbonates. Trên thực tế, loại eco-cements này có 2 dạng. Một dạng

được cấu thành chủ yếu từ magnesium oxide hoạt tính, phối trộn với các phụ phẩm

công nghiệp như tro bay hoặc xỉ lò hơi. Dạng còn lại cũng là magnesium oxide hoạt

tính nhưng được trộn với clinker của xi măng pooc lăng và một loại puzzolan, tạo ra

dạng xi măng hỗn hợp [1].

MgO hoạt tính được tạo thành khi MgCO 3 được nung dưới áp suất của khí

quyển ở nhiệt độ 650oC, là nhiệt độ phân hủy của magnesium carbonates; các

khoáng magnesite là nguồn cung cấp MgCO3 tốt nhất. Trong quá trình nung tất

nhiên CO2 sẽ được tạo thành như một sản phẩm sau phản ứng, đây cũng là yếu tố

quyết định liệu eco-cements có tồn tại được trên thị trường hay không, dựa vào các

tính chất liên quan đến ảnh hưởng của nó đến môi trường được đánh giá trong suốt

quá trình sản xuất[1].

Điển hình là xi măng manhezi, hay còn gọi là xi măng sorel:



Trang 10



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

VẤN ĐỀ MÔI TRƯỜNG TRONG CÔNG NGHỆ SẢN XUẤT XI MĂNG POOC LĂNG

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×