Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
CHƯƠNG 4 KẾT QUẢ THẢO LUẬN

CHƯƠNG 4 KẾT QUẢ THẢO LUẬN

Tải bản đầy đủ - 0trang

Giai đoạn 7 NSG nghiệm thức HH có chiều cao thấp nhất (1,50 cm), nghiệm

thức HC có chiều cao cây 1,79 cm, nghiệm thức HH + HC có chiều cao cây cao

nhất 1,93 cm. Do ở giai đoạn này cây cải bẹ xanh sử dụng nguồn dinh dưỡng

chủ yếu từ hạt và một phần lấy từ đất nên chiều cao cây có sự khác biệt. Nền

đất trồng chủ yếu là cát nên cây cũng có phần kém phát triển, nhất là nghiệm

thức HH, trong quá trình làm đất cũng bổ sung phân HC cho đất nhưng chưa có

tác dụng trong giai đoạn đầu, 2 nghiệm thức là HC và nghiệm thức HC + HH

khơng có sự khác biệt về mặt ý nghĩa.

Hình 2: Chiều cao cải bẹ xanh qua các giai đoạn phát triển

Theo kết quả Hình 2, ở giai đoạn 14 NSKG có sự khác biệt, nghiệm thức sử

dụng phân HH vượt lên có chiều cao cây cao nhất là 4,54 cm, nghiệm thức HH

+ HC có chiều cao thấp hơn 3,64 cm và nghiệm thức có chiều cao cây thấp nhất

là nghiệm thức HC 2,68 cm. Do vào giai đoạn này đã có sự bổ sung phân bón,

cây đã hút dinh dưỡng từ đất và hấp thụ lượng phân đã bón nên có sự khác biệt,

nghiệm thức HH có sự vượt trội hơn và phát triển hơn so với 2 nghiệm thức còn

lại.

Giai đoạn 21 NSKG chiều cao cây nghiệm thức HH và HC + HH có sự khác

biệt hoàn toàn với nghiệm thức HC với mức ý nghĩa là 5%. Nghiệm thức HH

cao nhất 7,86 cm, nghiệm thức HH + HC là 7,41 cm và nghiệm thức HC có

chiều cao thấp nhất 4,19 cm. Ở giai đoạn này cho thấy nghiệm thức HH được

bổ sung đầy đủ lượng phân bón nên cây phát triển rất mạnh do phân HH tác

dụng nhanh, nghiệm thức HH + HC cũng được bổ sung một nửa phân HH nên

cũng phát triển tốt và nghiệm thức HC phát triển chậm do phân HC có tác dụng

chậm và lâu dài nên cây chưa phát triển mạnh như 2 nghiệm thức trước.

Vào giai đoạn 28 NSKG có sự khác biệt rất lớn giữa 3 nghiệm thức là HH, HH

+ HC và nghiệm thức HC với mức ý nghĩa 5%. Cao nhất là nghiệm thức HH

22,41 cm, nghiệm thức HH + HC là 18,15 cm và thấp nhất là nghiệm thức HC

9,31 cm.

Nhìn chung, chiều cao cây gia tăng từ giai đoạn 7 NSG đến hết quá trình sinh

trưởng nhưng cây tăng chiều cao nhanh ở giai đoạn 21 NSKG và 28 NSKG. Sự

gia tăng này chủ yếu phụ thuộc vào lượng phân bón và loại phân bón bổ sung

cho cây. Tác dụng nhanh nhất là nghiệm thức phân HH 22,41 cm, thứ 2 là

nghiệm thức HH + HC 18,15 cm và thấp nhất là nghiệm thức HC 9,31 cm

(Hình 2).



30



4.2.2. Chiều dài lá

Kết quả khảo sát ghi nhận có sự khác biệt thống kê với mức ý nghĩa 5% giữa

chiều dài lá ở các giai đoạn 14 NSKG, 21 NSKG và 28 NSKG.

Theo kết quả Hình 3, ở giai đoạn 14 NSKG ghi nhận có sự khác biệt thống kê

hồn tồn giữa nghiệm thức HH, HC + HH và nghiệm thức HC. Nghiệm thức

HH có chiều dài lá dài nhất 3,64 cm, nghiệm thức HH + HC là 3,13 cm và ngắn

nhất là nghiệm thức HC 2,07 cm.

Hình 3: Chiều dài lá cải bẹ xanh qua các giai đoạn phát triển

Giai đoạn 21 NSKG, ghi nhận chiều dài lá có sự khác biệt hồn toàn giữa các

nghiệm thức. Nghiệm thức HH và nghiệm thức HH + HC khơng có sự khác biệt

nhưng 2 nghiệm thức này có sự khác biệt hồn tồn so với nghiệm thức HC.

Chiều dài lá dài nhất là nghiệm thức HH 6,52 cm, nghiệm thức HH + HC là

6,16 cm và ngắn nhất là nghiệm thức HC chỉ dài 3,62 cm.

Giai đoạn 28 NSKG ghi nhận có sự khác biệt hoàn toàn về chiều dài lá giữa 3

nghiệm thức. Nghiệm thức HC có chiều dài lá ngắn nhất 8,6 cm, nghiệm thức

HH + HC có chiều dài lá 17,79 cm và dài nhất là nghiệm thức HH 18,98 cm.

Nhìn chung chiều dài lá gia tăng từ giai đoạn 7 NSKG nhưng do tác dụng phân

bón và dinh dưỡng trong đất nên sự sinh trưởng không đều vào giai đoạn 14

NSKG, 21 NSKG, 24 NSKG. Nghiệm thức sử dụng hoàn toàn phân HH phát

triển chiều dài lá nhất, thứ 2 là nghiệm thức HH + HC và ngắn nhất là nghiệm

thức HC. Phân HH cho cây sinh trưởng mạnh, tác dụng phân bón cung cấp vào

cho đất và cây hấp thu nhanh hơn so với phân HC.

4.2.3. Chiều rộng lá

Kết quả khảo sát ghi nhận có sự khác biệt thống kê với mức ý nghĩa 5% của

chiều rộng lá ở các giai đoạn 14 NSKG, 21 NSKG và 28 NSKG.

Theo Hình 4, giai đoạn 14 NSKG ghi nhận có sự khác biệt hoàn toàn về chiều

rộng lá giữa nghiệm thức HH + HC và 2 nghiệm thức HH và HC. Chiều rộng lá

nghiệm thức HH + HC cao nhất 2,07 cm, chiều rộng lá giữa nghiệm thức hóa

học và HC sự khác biệt là khơng có ý nghĩa. Tuy nhiên, nghiệm thức HH vẫn

cao hơn 1,55 cm, thấp nhất là nghiệm thức HC 1,33 cm.

Theo Hình 4, giai đoạn 21 NSKG ghi nhận có sự khác biệt hồn tồn về chiều

rộng lá giữa các nghiệm thức HH và HH + HC với nghiệm thức HC. Nghiệm

thức HH phát triển mạnh nhất và chiều rộng lá 5,42 cm, nghiệm thức HH + HC

5,35 cm và thấp nhất là nghiệm thức HC 2,79 cm.

31



Hình 4: Chiều rộng lá cải bẹ xanh qua các giai đoạn phát triển

Ở giai đoạn 28 NSKG có sự khác biệt về chiều rộng lá giữa các nghiệm thức,

nghiệm thức HH và nghiệm thức HH + HC khơng có khác biệt về mặt ý nghĩa,

nhưng so với nghiệm thức HC thì có sự khác biệt về mặt ý nghĩa. Nghiệm thức

HH có chiều rộng lá rộng nhất 9,73 cm, nghiệm thức HC + HH 9,41 cm và thấp

nhất vẫn là nghiệm thức HC 6,02 cm.

Sự gia tăng chiều rộng lá chủ yếu là sự ảnh hưởng của phân bón và một phần là

sự ảnh hưởng của đặc tính giống, nghiệm thức HH có sự gia tăng mạnh nhất,

tiếp theo là nghiệm thức HC + HH và cuối cùng là nghiệm thức HC. Chiều rộng

lá tăng tối đa và ổn định ở giai đoạn 21 NSKG nên nghiệm thức HH và HH +

HC tuy có khác nhau nhưng khác biệt khơng có ý nghĩa với mức 5%.

4.2.4. Đường kính tán

Kết quả khảo sát ghi nhận đường kính tán giai đoạn 21 NSKG và 28 NSKG,

giữa các nghiệm thức có sự khác biệt thống kê với mức ý nghĩa 5%. Giai đoạn

21 NSKG có sự khác biệt về ý nghĩa của 3 nghiệm thức HH với HH + HC và

nghiệm thức HC. Trong đó, nghiệm thức HH có đường kính tán cao nhất 9,06

cm, nghiệm thức HH + HC 6,98 cm và thấp nhấp là nghiệm thức HC 3,1 cm

(Bảng 1).

Theo Bảng 1, ở giai đoạn 28 NSKG cải bẹ xanh ở nghiệm thức HH có đường

kính tán cao nhất 22,09 cm, tiếp theo là nghiệm thức HH + HC là 16,01 cm và

thấp nhất vẫn là nghiệm thức HC 7,17 cm.

Bảng 1: Đường kính tán lá của cải bẹ canh

Đvt: cm

Nghiệm thức



Ngày sau khi gieo

21 NSG



28 NSG



HH



9,06 a



22,09 a



HH + HC



6,98 b



16,01 b



HC



3,10



F



**



CV(%)



3,46



c



7,17

**

3,77



Trong cùng một cột, các số có chữ số theo sau giống nhau thì khơng khác biệt

qua phân tích thống kê theo phép thử Duncan: ** là khác biệt mức ý nghĩa

dưới 5%.

32



c



Sự khác biệt này chủ yếu là do sự ảnh hưởng của lượng phân bón bổ sung cho

cây và loại phân. Nghiệm thức sử dụng phân HH cho tác dụng nhanh và cây

phát triển mạnh không chỉ về chiều cao, chiều dài lá, chiều rộng lá mà cả về

đường kính tán. Quan sát thấy đặc điểm bên ngồi nghiệm thức bón phân HH

cho thấy cây sinh trưởng mạnh, hấp thu nhiều nước và dinh dưỡng nên lá xòe

xa 2 bên, còn nghiệm thức HC cây sinh trưởng bình thường nhưng lá có phần

đứng thẳng hình chữ V hơn là nghiệm thức HH nên đường kính tán nhỏ hơn.

Còn về nghiệm thức HH + HC do có bổ sung 50% là HH nên cây vẫn phát triển

bình thường dù không phát triển mạnh bằng nghiệm thức HH, so với nghiệm

thức HC thì lại có phần vượt hơn do tác dụng một phần của phân HH.

4.3. Trọng lượng tươi trung bình của cây cải bẹ xanh

Theo kết quả Bảng 2 cho thấy trọng lượng trung bình 1 cây cải bẹ xanh giữa 3

nghiệm thức có sự khác biệt về thống kê với mức ý nghĩa 5%. Tuy nhiên

nghiệm thức HH + HC khơng có sự khác biệt về ý nghĩa với nghiệm thức HH

và cả nghiệm thức HC. Tuy nhiên, nghiệm thức HH có sự khác biệt hồn toàn

về mặt ý nghĩa so với nghiệm thức HC. Nghiệm thức HH có trọng lượng tươi

trung bình 1 cây cao nhất 44,46 gam, nghiệm thức HH + HC 31,84 gam và thấp

nhất là nghiệm thức HC 23,34 gam. Điều này cho thấy sự ảnh hưởng của phân

bón và nhất là phân HH ảnh hưởng rất lớn đến quá trình sinh trưởng cũng như

trọng lượng tươi của cây.

Bảng 2: Trọng lượng tươi trung bình và phần trăm vật chất khơ của cây cải bẹ

xanh.

Nghiệm thức



Trọng lượng tươi trung Phần trăm vật chất khơ

bình 1 cây (gam)

(%)



HH



44,46 a



7,40



HH + HC



31,84 b



7,62



HC



23,34 b



8,27



F

CV(%)



*



ns



16,15



16,12



Trong cùng một cột, các số có chữ số theo sau giống nhau thì khơng khác biệt

qua phân tích thống kê theo phép thử Duncan: * là khác biệt mức ý nghĩa 5%,

ns là không khác biệt với mức ý nghĩa 5%.

4.4. Phần trăm vật chất khô của cải bẹ xanh

Theo kết quả Bảng 2 cho thấy phần trăm vật chất khơ của 3 nghiệm thức khơng

có sự khác biệt về ý nghĩa thống kê. Tuy không khác biệt về ý nghĩa thống kê

nhưng vẫn có sự chênh lệch về phần trăm vật chất khô, nghiệm thức cho phần

33



trăm vật chất khô cao nhất lại là nghiệm thức HC 8,27%, nghiệm thức HH +

HC 7,62% và thấp nhất là nghiệm thức HH 7,40%. Điều này cho thấy tuy rằng

trọng lượng tươi của nghiệm thức HH tuy cao nhất nhưng về phần trăm vật chất

khô lại là thấp nhất, do cây tăng trọng lượng chủ yếu là nước, còn ở nghiệm

thức HC tuy rằng trọng lượng tươi nhỏ hơn nhưng phần trăm vật chất khô cao

hơn so với nghiệm thức HH do cây hấp thu nước ít . Nhìn chung vật chất khô 3

nghiệm thức nằm trong khoảng từ 7,4 – 8,27%.

4.5. Năng suất cải bẹ xanh

4.5.1. Năng suất lý thuyết

Theo kết quả Bảng 3 cho thấy 3 nghiệm thức có năng suất lý thuyết có sự khác

biệt về thống kê với mức ý nghĩa 5%. Nghiệm thức HH có sự khác biệt với 2

nghiệm thức còn lại là nghiệm thức HH + HC và nghiệm thức HC. Tuy nhiên,

nghiệm thức HC + HH khơng có khác biệt thống kê với nghiệm thức HC.

Nghiệm thức HH cho năng suất cao nhất 2,35 tấn/1000 m 2, kế tiếp là nghiệm

thức HH + HC 1,96 tấn/1000 m2 và thấp nhất là nghiệm thức HC 1,7 tấn/1000

m2. Kết quả này cho thấy tác dụng phân bón khơng chỉ ảnh hưởng đến sinh

trưởng mà còn ảnh hưởng rất lớn đến năng suất cây cải xanh. Phân HC giúp cho

cây sinh trưởng và phát triển bình thường nhưng không đem lại năng suất cao

như phân HH.

Bảng 3: Năng suất lý thuyết và năng suất thực tế của cải bẹ xanh

Nghiệm thức



Năng suất lý thuyết



Năng suất thực tế



(tấn/1000 m2)



(tấn/1000 m2)



HH



2,35 a



3,98 a



HH + HC



1,96 b



2,81 b



HC



1,70 b



2,29



*



**



15,45



4,55



F

CV(%)



c



Trong cùng một cột, các số có chữ số theo sau giống nhau thì khơng khác biệt

qua phân tích thống kê theo phép thử Duncan: ** là khác biệt mức ý nghĩa

dưới 5%, * là khác biệt mức ý nghĩa 5%.

4.5.2. Năng suất thực tế

Theo kết quả Bảng 3, năng suất thực tế ở 3 nghiệm thức có sự khác biệt về ý

nghĩa thống kê với mức ý nghĩa 5%. Nghiệm thức HH có năng suất cao nhất

3,98 tấn/1000 m2, nghiệm thức HH + HC là 2,81 tấn/1000 m 2 và thấp nhất là

nghiệm thức HC 2,29 tấn/1000 m2.

34



Sự chênh lệch năng suất do ảnh hưởng của phân bón giữa các nghiệm thức khác

nhau và loại phân bón sử dụng, nghiệm thức phân HH cho năng suất cao nhất,

kế tiếp là nghiệm thức HH + HC và cuối cùng là nghiệm thức HC. Nguyên

nhân năng suất thực tế cao hơn lý thuyết là do đất nơi bố trí thí nghiệm lần đầu

tiên trồng cải xanh nên sâu bệnh hại rất ít, được chủ động nguồn nước tưới đầy

đủ cho cây, quản lý cỏ dại ngay từ đầu vụ nên cây trồng phát triển rất tốt, giống

cũng ảnh hưởng một phần đến năng suất cải, phân bón cung cấp đầy đủ cho cây

theo từng nghiệm thức. Tuy nhiên, bố trí thí nghiệm nhưng vẫn tuân thủ thời

gian cách ly phân bón và thuốc BVTV (sử dụng thuốc sinh học tỏi ớt gừng)

nhằm trồng cải xanh theo hướng an toàn.



35



CHƯƠNG 5

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ

5.1. Kết luận

Sự gia tăng chiều cao của 3 nghiệm thức từ 7 NSKG đến khi thu hoạch, nhưng

tăng mạnh nhất vào giai đoạn 21 NSKG và 28 NSKG. Trong đó nghiệm thức

HH cao nhất, giai đoạn 21 NSKG là 7,86 cm đến giai đoạn 28 NSKG là 22,41

cm.

Chiều dài lá tăng mạnh của các nghiệm thức từ giai đoạn 7 NSKG đến thu

hoạch, nhưng tăng mạnh nhất vào giai đoạn 21 NSKG và 28 NSKG và vẫn tiếp

tục phát triển cho đến khi thu hoạch. Nghiệm thức có chiều dài lá dài nhất là

nghiệm thức HH 18,98 cm.

Chiều rộng lá của nghiệm thức HH cao hơn so với 2 nghiệm thức còn lại là HH

+ HC và nghiệm thức HC. Nghiệm thức HH giai đoạn 21 NSKG 5,42 cm và ở

giai đoạn 28 NSG 9,73 cm.

Đường kính tán của nghiệm thức HH cao hơn so với 2 nghiệm thức còn lại là

HH + HC và nghiệm thức HC. Giai đoạn 21 NSKG nghiệm thức HH 9,06 cm

và giai đoạn 28 NSKG là 22,09 cm.

Trọng lượng tươi trung bình 1 cây của nghiệm thức HH là cao nhất so với 2

nghiệm thức còn lại là HH + HC và nghiệm thức HC. Nghiệm thức HH là 44,46

gam, HH + HC 31,84 gam và thấp nhất là nghiệm thức HC 23,34 gam.

Nghiệm thức HC có thành phần phần trăm chất khơ lớn nhất so với 2 nghiệm

thức còn lại. Nghiệm thức HC đạt 8,27% và thấp hơn là HH + HC 7,62%, thấp

nhất là nghiệm thức HH 7,40%.

Nghiệm thức HH cho năng suất lý thuyết cao nhất 2,35 tấn/1000 m 2 và năng

suất thực tế cũng cao nhất 3,98 tấn/1000 m2. Thấp hơn là nghiệm thức HH + HC

cho năng suất lý thuyết 1,96 tấn/1000 m2 và năng suất thực tế 2,81 tấn/1000 m 2.

Thấp nhất là nghiệm thức HC cho năng suất lý thuyết 1,70 tấn/1000 m 2 và năng

suất thực tế là 2,29 tấn/1000 m2.

Điều này cho thấy rằng bón phân HH cho hiệu quả cao nhất so với 2 nghiệm

thức khác là HH + HC và nghiệm thức HC. Phân HC chưa phát huy tác dụng,

nên chưa làm tăng năng suất cải xanh.

5.2. Kiến nghị

Theo kết quả thí nghiệm ban đầu cho thấy nghiệm thức sử dụng phân HH cho

hiệu quả cao nhất và vượt trội hơn 2 nghiệm thức còn lại là HH + HC và

nghiệm thức HC. Tuy nhiên đây chỉ là là kết quả thí nghiệm ban đầu cần tiến

36



hành thêm nhiều thí nghiệm nữa để có thế biết được chính xác hiệu quả của

từng loại phân khác nhau nhằm tiến đến một nền nông nghiệp xanh và bền

vững.



37



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

CHƯƠNG 4 KẾT QUẢ THẢO LUẬN

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×