Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
CHƯƠNG 3 PHƯƠNG TIỆN VÀ PHƯƠNG PHÁP THÍ NGHIỆM

CHƯƠNG 3 PHƯƠNG TIỆN VÀ PHƯƠNG PHÁP THÍ NGHIỆM

Tải bản đầy đủ - 0trang

3.2.2. Quy trình canh tác cải bẹ xanh

- Kỹ thuật canh tác:

Xử lý hạt giống: ngâm hạt giống trong nước ấm (2 sơi + 3 lạnh).

Xử lí đất: rãi thuốc trừ kiến và côn trùng bằng thuốc Regent 10H.

Xuống giống: bằng cách gieo vãi. Lượng hạt dùng 100 g, sau đó tỉa lại với mật

độ 15 cm x 15 cm.

Nghiệm thức PHH (đối chứng):

Theo Nguyễn Mạnh Chinh (2007), liều lượng phân bón trung bình cho 1.000 m 2

trồng cải bẹ xanh: 1,3 tấn phân chuồng hoai mục, 15 kg Đạm + 15 kg Supe Lân

+ 10 kg KCl.

Liều lượng này được sử dụng làm công thức phân nền để làm cơng thức phân

chuẩn cho các nghiệm thức còn lại cho mỗi lô, với mỗi lô là 10 m 2 cách bón

như sau:

Trước khi gieo hạt giống, bón lót 1 lơ (10 m2): 13 kg phân chuồng + 0,15 kg

phân Lân Long Thành.

Bón thúc:

Lần 1: 7 NSKG bón 0,025 kg Đạm Cà Mau/20 lít nước và 0,033 kg phân Kali

miểng.

Lần 2: 14 NSKG bón 0,05 kg Đạm Cà Mau/20 lít nước và 0,033 kg phân Kali

miểng.

Lần 3: 21 NSKG bón 0,075 kg Đạm Cà Mau/20 lít nước và 0,033 kg phân Kali

miểng.

Nghiệm thức PHC + PHH: hàm lượng hóa học xuống 50% + 50% phân hữu

cơ vi sinh. Liều lượng dùng cho 1 lơ 10 m2:

Bón lót: 13 kg phân chuồng và 0,075 kg phân Lân Long Thành.

Bón thúc:

Lần 1: 7 NSKG bón 0,0125 kg Đạm Cà Mau + 0,0165 kg phân Kali miểng + 20

ml phân cá.

Lần 2: 14 NSKG bón 0,025 kg Đạm Cà Mau + 0,0165 kg phân Kali miểng + 20

ml Vitazyme.

Lần 3: 21 ngày SKG bón 0,0375 kg Đạm Cà Mau + 0,0165 kg phân Kali miểng

+ 0,1 g DS - 80.

26



Nghiệm thức PHC: chỉ sử dụng phân hữu cơ để bón cho cây:

Lơ 10 m2 dùng phân:

Bón lót: 13 kg phân chuồng.

Bón thúc:

Lần 1: 7 NSKG bón 40 ml phân cá

Lần 2: 14 NSKG bón 40 ml Vitazym.

Lần 3: 21 NSKG bón 0,2 g phân DS – 80.

3.2.3. Sâu bệnh hại xuất hiện trên cải bẹ xanh

Sử dụng các biện pháp sinh học để bảo vệ cải bẹ xanh và phòng trị sâu bệnh:

bắt sâu bằng tay, đặt bẫy chua ngọt và sử dụng thuốc sinh học ớt tỏi để trị sâu và

một số loài sâu hại khác. Bệnh nếu nhẹ có thể sử dụng nước vơi trong để phòng

trị và nếu bệnh nặng thì sử dụng các loại thuốc có nguồn gốc sinh học để phòng

trừ. Tn thủ thời gian cánh li an tồn.

3.3. Chỉ tiêu theo dõi

3.3.1. Chỉ tiêu sinh trưởng

Mỗi lô chọn cố định 10 cây để ghi nhận chỉ tiêu sinh trưởng, bắt đầu đo khi cây

được 7 NSKG, sau đó 7 ngày lấy chỉ tiêu 1 lần.

Chiều cao cây: đo từ mặt đất đến chót lá cao nhất.

Chiều dài lá: mỗi cây chọn 1 lá thành thục, đo từ cuống lá đến chót lá.

Chiều rộng lá: mỗi cây chọn 1 lá đo chỗ rộng nhất của lá, chọn lá đã đo chiều

dài ở trên.

Chiều rộng tán: đo khoảng cách 2 lá xòe rộng nhất để xác định chiều rộng tán.

3.3.2. Năng suất và trọng lượng cây

3.3.2.1. Trọng lượng tươi trung bình 1 cây

Cân trọng lượng tươi của 10 cây cải bẹ xanh lúc thu hoạch. Tính được trọng

lượng tươi trung bình của 1 cây.

3.3.2.2. Năng suất thực tế

Năng suất thực tế/diện tích lơ thí nghiệm (10 m 2). Từ đó tính được năng suất

thực tế trên diện tích 1000 m2 của mỗi lô.



27



3.3.2.3. Năng suất lý thuyết

Năng suất lý thuyết: (cân 10 cây/10) x số cây/ diện tích thực của 1 lơ thí nghiệm

(10 m2) . Từ đó tính được năng suất lý thuyết trên diện tích 1000 m2.

3.3.2.4. Phần trăm vật chất khô

Mỗi lô chọn 10 cây, cân trọng lượng tươi trước khi sấy. Đem sấy khô ở nhiệt độ

105 0C đến trọng lượng khơng đổi. Từ đó tính được phần trăm vật chất khô,

theo công thức:

% vật chất khô = (trọng lượng khô/trọng lượng tươi) x 100

3.4. Phương pháp xử lí số liệu

Xử lí số liệu bằng phần miềm Microsoft Excel.

Phân tích số liệu bằng phần mềm SPSS of Window.



28



CHƯƠNG 4

KẾT QUẢ THẢO LUẬN

4.1. Ghi nhận tổng quát về thí nghiệm

4.1.1. Đất đai

Thí nghiệm được bố trí tại khu thực nghiệm trường Đại Học An Giang. Trước

thí nghiệm đất được làm rất kỹ, cuốc, xới, dọn sạch cỏ dại, tàn dư thực vật, san

phẳng đất trồng, lên liếp, tạo rãnh (tưới nước, bón phân, đo chỉ tiêu và theo dõi

chăm sóc cây). Trường Đại Học An Giang trước kia là vùng trũng (cánh đồng

hoang) được bơm cát để xây dựng trường học và nhiều khu khác nên đất trồng

ở khu thực nghiệm chủ yếu là cát, phần đất thịt hầu như rất ít nên cũng gây

nhiều khó khăn cho việc bố trí thí nghiệm.

4.1.2. Nước tưới

Ruộng thí nghiệm nằm gần bồn trữ nước của trường nên thuận lợi cho việc tưới

tiêu, nguồn nước được trường chủ động bơm thường xuyên nên không bị thiếu.

4.1.3. Cỏ dại

Do đất chuẩn bị kỹ và xử lý cỏ trước gieo hạt nên cỏ dại trên ruộng cũng rất ít

khơng gây ảnh hưởng nhiều đến sự sinh trưởng và năng suất cây cải xanh. Cỏ

dại trên ruộng chủ yếu có 2 loại là mần trầu và cỏ mần ri, và được làm bằng tay.

4.1.4. Tình hình sâu bệnh trên ruộng thí nghiệm

Do ruộng thí nghiệm là lần đầu canh tác trồng cải bẹ xanh nên sâu hại và bệnh

hại cũng rất ít.

Về sâu hại có xuất hiện vào khoảng giai đoạn 20 NSKG chủ yếu là sâu ăn tạp

và xuất hiện nhiều nhất ở nghiệm thức phân hóa học. Do mật độ ít nên sử dụng

thuốc sinh học tỏi ớt gừng phun, nhận thấy nhiều sâu chết và không xuất hiện

lại đến khi thu hoạch.

Về bệnh chỉ xuất hiện vào giai đoạn cây con và khoảng 7 – 10 NSKG. Bệnh

héo cây con do nấm Rhizoctonia solani gây ra nhưng do phát hiện sớm bệnh

nên phun nước vôi trong thấy đạt hiệu quả, bệnh dần hết và cũng khơng gây ảnh

hưởng gì đến năng suất do cây chưa lớn và đã được 1 lần dặm cây lại.

4.2. Chỉ tiêu sinh trưởng

4.2.1. Chiều cao cây

Kết quả khảo sát ghi nhận có sự khác biệt chiều cao ở giai đoạn 7 NSKG, 14

NSKG, 21 NSKG, 28 NSKG.

29



Giai đoạn 7 NSG nghiệm thức HH có chiều cao thấp nhất (1,50 cm), nghiệm

thức HC có chiều cao cây 1,79 cm, nghiệm thức HH + HC có chiều cao cây cao

nhất 1,93 cm. Do ở giai đoạn này cây cải bẹ xanh sử dụng nguồn dinh dưỡng

chủ yếu từ hạt và một phần lấy từ đất nên chiều cao cây có sự khác biệt. Nền

đất trồng chủ yếu là cát nên cây cũng có phần kém phát triển, nhất là nghiệm

thức HH, trong quá trình làm đất cũng bổ sung phân HC cho đất nhưng chưa có

tác dụng trong giai đoạn đầu, 2 nghiệm thức là HC và nghiệm thức HC + HH

khơng có sự khác biệt về mặt ý nghĩa.

Hình 2: Chiều cao cải bẹ xanh qua các giai đoạn phát triển

Theo kết quả Hình 2, ở giai đoạn 14 NSKG có sự khác biệt, nghiệm thức sử

dụng phân HH vượt lên có chiều cao cây cao nhất là 4,54 cm, nghiệm thức HH

+ HC có chiều cao thấp hơn 3,64 cm và nghiệm thức có chiều cao cây thấp nhất

là nghiệm thức HC 2,68 cm. Do vào giai đoạn này đã có sự bổ sung phân bón,

cây đã hút dinh dưỡng từ đất và hấp thụ lượng phân đã bón nên có sự khác biệt,

nghiệm thức HH có sự vượt trội hơn và phát triển hơn so với 2 nghiệm thức còn

lại.

Giai đoạn 21 NSKG chiều cao cây nghiệm thức HH và HC + HH có sự khác

biệt hoàn toàn với nghiệm thức HC với mức ý nghĩa là 5%. Nghiệm thức HH

cao nhất 7,86 cm, nghiệm thức HH + HC là 7,41 cm và nghiệm thức HC có

chiều cao thấp nhất 4,19 cm. Ở giai đoạn này cho thấy nghiệm thức HH được

bổ sung đầy đủ lượng phân bón nên cây phát triển rất mạnh do phân HH tác

dụng nhanh, nghiệm thức HH + HC cũng được bổ sung một nửa phân HH nên

cũng phát triển tốt và nghiệm thức HC phát triển chậm do phân HC có tác dụng

chậm và lâu dài nên cây chưa phát triển mạnh như 2 nghiệm thức trước.

Vào giai đoạn 28 NSKG có sự khác biệt rất lớn giữa 3 nghiệm thức là HH, HH

+ HC và nghiệm thức HC với mức ý nghĩa 5%. Cao nhất là nghiệm thức HH

22,41 cm, nghiệm thức HH + HC là 18,15 cm và thấp nhất là nghiệm thức HC

9,31 cm.

Nhìn chung, chiều cao cây gia tăng từ giai đoạn 7 NSG đến hết quá trình sinh

trưởng nhưng cây tăng chiều cao nhanh ở giai đoạn 21 NSKG và 28 NSKG. Sự

gia tăng này chủ yếu phụ thuộc vào lượng phân bón và loại phân bón bổ sung

cho cây. Tác dụng nhanh nhất là nghiệm thức phân HH 22,41 cm, thứ 2 là

nghiệm thức HH + HC 18,15 cm và thấp nhất là nghiệm thức HC 9,31 cm

(Hình 2).



30



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

CHƯƠNG 3 PHƯƠNG TIỆN VÀ PHƯƠNG PHÁP THÍ NGHIỆM

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×