Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
CHƯƠNG 2 LƯỢC KHẢO TÀI LIỆU

CHƯƠNG 2 LƯỢC KHẢO TÀI LIỆU

Tải bản đầy đủ - 0trang

2.2. Giá trị sử dụng, giá trị kinh tế và thành phần dinh dưỡng của cải bẹ

xanh

2.2.1. Giá trị sử dụng và giá trị kinh tế của cây cải bẹ xanh

Theo Trần Khắc Thi và ctv (2009), cải bẹ xanh được trồng để thu hoạch lá non

và có thể để phát triển đầy đủ để thu hoạch cuống lá, có thể dùng được tất cả

các phần trên mặt đất. Cải bẹ xanh là thành phần chính của món súp và có thể

để phơi khơ. Người Trung Quốc đã dùng cuống và lá rau cải bẹ xanh để trang trí

các món ăn. Cải bẹ xanh rất ít dùng ăn sống và không bao giờ dùng cải bẹ xanh

để muối dưa, cải bẹ xanh dùng để luộc, xào, nấu canh…

2.2.2. Thành phần dinh dưỡng

Theo Trần Khắc Thi và ctv (2009), hàm lượng nước trong cây cải bẹ xanh rất

lớn chiếm 95 - 96%. Nguồn dinh dưỡng cung cấp cho con người chủ yếu là

Vitamin C, khoáng chất như: Ca, P, Fe,…

Theo Trần Khắc Thi và ctv (2009), thành phần dinh dưỡng có trong 100 g cải bẹ

xanh ăn tươi được:

Thành phần dinh dưỡng

Canxi (mg)

Cacbohydrat (g)

Năng lượng (Kcal)



Khối lượng

105,0

2,18

13,0



Chất xơ (g)



1,0



Magie (mg)



19,0



Chất béo đơn (g)



1,015



Protein (g)



1,5



Lipit tổng số (g)



0,2



Vitamin A (mg)



3000,0



Vitamin B1 (mg)



0,05



Vitamin B2 (mg)



0,07



Vitamin B3 (mg)



0,5



Vitamin C (mg)



45,0



Nước (g)



95,32



Kẽm (mg)



0,19



13



2.3. Nhu cầu và lợi ích

Theo Trần Khắc Thi và ctv (2009), do cây cải bẹ xanh là cây ngắn ngày, nên có

khả năng giải quyết rau trái vụ, giúp cho người trồng rau thu hoạch đáng kể từ

việc thu nhập rau trái vụ.

Theo Tạ Thu Cúc (2008), cải bẹ xanh có tác dụng giải nhiệt, lợi tiểu. Cải bẹ

xanh dùng làm rau sống khi cây có 2 lá mầm ăn cả rễ hoặc 3 lá – 4 lá thật, nấu

lẫu, xào luộc, nấu canh…

2.4. Đặc điểm sinh học cây cải bẹ xanh

Theo Nguyễn Mạnh Chinh (2007), đây là những loại rau cải khơng cuộn, có

nhiều đặc tính sinh học giống nhau. Thích hợp khí hậu ơn hòa, mát mẻ. Riêng

đối với cây cải bẹ xanh thì chịu được nhiệt độ cao hơn.

Cây cải bẹ xanh bộ rễ ăn nông và bộ lá lớn nên chịu hạn hạn kém. Rất mẫn cảm

với phân hóa học, lưu giữ các hóa chất và vi sinh vật trên cây thường nhiều và

lâu. Cây cải bẹ xanh có thời gian sinh trưởng ngắn, dùng làm rau trung bình

khoảng 30 – 40 ngày, nếu ăn sống có khi chỉ 15 – 20 ngày.

2.4.1. Rễ

Theo Tạ Thu Cúc (2008), hệ rễ của cải bẹ xanh ăn nông, cạn, phân bố chủ yếu

tầng đất mặt. Hệ rễ nhìn chung khơng chịu hạn và cũng không chịu ngập úng.

Theo Trần Khắc Thi và ctv (2009), cây cải bẹ xanh thuộc loại rễ chùm, phân

nhánh, phân bố chủ yếu tầng đất mặt. Hệ rễ không chịu được ngập úng.

2.4.2. Thân

Theo Trần Khắc Thi và ctv (2009), thân của cải bẹ xanh là cây thân thảo, mọc

thẳng và được trồng hằng năm, trong giai đoạn sinh trưởng sinh dưỡng sinh

thực cây cao đến 70 cm.

Theo Tạ Thu Cúc (2008), ở giai đoạn đầu sinh trưởng, thân phát triển kém, chỉ

đến khi có nụ thì thân (ngồng, bụp) mới vươn cao và phân nhiều tầng nhánh.

2.4.3. Lá

Theo Nguyễn Mạnh Cường và Phạm Anh Cường (2007), nhóm cải bẹ xanh có

cuống lá nhỏ và hơi tròn, phiến lá nhỏ và hẹp, bản lá mỏng có màu từ xanh

vàng đến xanh đậm, chịu được nóng và mưa khá nên trồng vụ Xuân Hè để

chống giáp vụ rất tốt.

Theo Tạ Thu Cúc (2008), lá cải bẹ xanh rất lớn, mặt lá nhẵn láng như cải thìa đế

nhăn nheo như cải bẹ, cải bẹ xanh diềm lá gợn sóng hoặc trơn. Lá có 2 phần chủ



14



yếu: cuống lá và phiến lá. Cuống lá rộng, dày. Phiến lá của cải bẹ xanh rộng

lớn.

Theo Trần Khắc Thi và ctv (2009), nhóm cải bẹ xanh có cuống lá hơi tròn,

phiến lá hơi dài và dẹp, bản lá mỏng, có màu xanh vàng hoặc xanh thẫm, là

nhóm rau chịu nóng và chịu ẩm khá nên thường được trồng để giải quyết rau

giáp vụ.

2.4.4. Hoa - Quả - Hạt

Theo Tạ Thu Cúc (2008), đặc điểm hoa cải bẹ xanh tương tự như họ thập tự.

Hoa màu vàng khi nở có 4 cánh điều nhau, thụ phấn nhờ cơn trùng (ong). Vì

vậy khi sản xuất hạt giống cần phải gieo trồng ở những nơi riêng biệt.

Theo Trần Khắc Thi và ctv (2009), khi ra hoa có 1 cành với các bơng hoa màu

vàng nhạt chiều dài khoảng 1 cm. Hoa lưỡng tính hồn chỉnh.

Theo Tạ Thu Cúc (2008), quả của cải bẹ xanh thuộc loại quả giác có 2 mảnh vỏ.

Khi quả chín già và khơ, quả tách làm hai, hạt rơi ra ngồi. Vì vậy khi thu hoạch

quả giống cần thu hoạch khi quả chín vàng. Hạt cải bẹ xanh rất nhỏ, màu nâu đỏ

hoặc nâu sẫm. Hạt nhẵn hoặc dạng lưới.

2.5. Phân bố và diện tích trồng trồng rau ở Việt Nam

Theo Trần Thị Ba (2008), trong thời gian 8 năm gần đây diện tích rau của

ĐBSCL phát triển nhanh chóng ngày càng có tính chun biệt cao. Năm 2007,

ĐBSCL có 233.809 ha đất trồng rau (khoảng 20% diện tích trồng rau của cả

nước), lớn nhất cả nước Việt Nam. Các tỉnh có diện tích trồng rau lớn như Tiền

Giang 31.994 ha, An Giang 31.052 ha, Trà Vinh 25.894 ha, Sóc Trăng 24.427

ha, Vĩnh Long 15.000 ha.

2.6. Sơ lược về sự sinh trưởng và phát triển của cải bẹ xanh

2.6.1. Nhiệt độ

Theo Trần Khắc Thi và ctv (2009), cải bẹ xanh có khả năng chịu đựng cao với

khí hậu nóng ẩm. Trong mùa lạnh, cải bẹ xanh sinh trưởng nhanh và cho năng

suất cao trên đất nhiều mùn, thoát nước tốt. Nhiệt độ thích hợp cho cải bẹ xanh

là 15 – 20 0C, nhiệt độ để cải bẹ xanh nở hoa và kết hạt thuận lợi là 20 – 25 0C .

2.6.2. Ánh sáng

Theo Trần Khắc Thi và ctv (2009), cải bẹ xanh ưa ánh sáng vừa phải. Có khả

năng chịu bóng râm hơn các loại rau ăn lá khác.

Theo Tạ Thu Cúc (2008), cải bẹ xanh ưa thích ánh sáng vừa phải, có khả năng

chịu bóng râm hơn các loại cây ăn quả. Do vậy nhiều giống cải có thể trồng dày,

15



trồng xen để tăng năng suất trên cùng đơn vị diện tích. Ánh sáng mạnh cùng với

nhiệt độ cao sẽ làm rau cải sinh trưởng không tốt, cây nhỏ bé, còi cọc, dẫn đến

năng suất và chất lượng giảm.

2.6.3. Nước

Theo Tạ Thu Cúc (2008), các giống cải bẹ xanh có hệ rễ cạn, lá trên cây nhiều

và lớn vì vậy cây cần độ ẩm thường xuyên trong thời gian sinh trưởng. Độ ẩm

đất từ 70 - 85% và độ ẩm khơng khí cao sẽ có lợi cho sự sinh trưởng thân lá.

Đất khơ, thiếu ẩm sẽ làm cho cây còi cọc, năng suất và chất lượng giảm. Thiếu

nước nghiêm trọng sẽ làm cho cây cải bẹ xanh có vị đắng, ăn khơng ngon.

Đất ẩm ướt, rễ cây sinh trưởng khó khăn, cây dễ bị sâu bệnh phá hại. Mặt khác

nước trong đất nhiều sẽ làm cho chất lượng, độ ngọt và độ giòn của cải bẹ xanh

bị giảm.

Theo Trần Khắc Thi và ctv (2009), cây cải bẹ xanh không ưa nhiều nước, nếu

đất quá ẩm kéo dài 3 – 5 ngày sẽ làm cho rễ cây bị ngộ độc và phải sống trong

điều kiện yếm khí, khơng tốt trong q trình phát triển của rễ.

2.6.4. Đất đai và dinh dưỡng

2.6.4.1. Đất đai

Theo Trần Khắc Thi và ctv (2009), cải bẹ xanh sinh trưởng được trên nhiều loại

đất khác nhau nhưng sinh trưởng tốt nhất trên nền đất tươi xốp, thoát nước tốt,

mùn cao, độ pH từ 5,5 – 7,0.

Theo Tạ Thu Cúc (2008), cải bẹ xanh có thể sinh trưởng trên nhiều đất nhưng

tốt nhất nên gieo trồng trên đất tốt, màu mỡ và tươi xốp. Độ chua của đất (pH)

vừa phải, đất cần phải phơi ải, cày bừa kỹ, sạnh cỏ dại. Không gieo trồng cải bẹ

xanh ở những nơi gần khu công nghiệp, hầm mỏ, gần nguồn nước thải thành

phố…

2.6.4.2. Chất dinh dưỡng

Theo Tạ Thu Cúc (2008), nhìn chung tất cả các lồi cây cải đều có thời gian

sinh trưởng ngắn nhưng năng suất lại cao nên không thể xem nhẹ vấn đề dinh

dưỡng cho cây.

Đạm rất cần thiết cho cải bẹ xanh trong suốt thời gian sinh trưởng. Đạm làm

cho cải bẹ xanh sinh trưởng tốt, lá lớn, cây to. Thiếu đạm cây vàng, lá nhỏ, năng

suất và chất lượng giảm.

Lân và kali sẽ giúp cây sinh trưởng cân đối, tăng chất lượng sản phẩm. Ở những

ruộng sản xuất hạt giống phải bón lân đầy đủ. Lân làm tăng chất lượng và năng

suất hạt giống cải bẹ xanh.

16



2.7. Kỹ thuật canh tác cây cải bẹ xanh

2.7.1. Thời vụ

Theo Trần Thị Ba (2008), cây cải bẹ xanh có thể trồng quanh năm, mùa nắng

cần có đủ nước tưới để cải phát triển tốt và cho năng suất cao hơn mùa mưa

nhưng có nhiều sâu bệnh cần lưu ý phòng trừ. Mùa mưa (tháng 5 – tháng 10

dương lịch) khó trồng, cây tăng trưởng kém, dễ bị rách lá nhưng bán được giá

cao.

Theo Nguyễn Văn Thắng và Trần Khắc Thi (2000), vụ mùa trồng cải bẹ xanh:

Vụ Đông Xuân (còn gọi là vụ cải mùa): gieo hạt từ tháng 8 đế tháng 11 dương

lịch. Cây giống được khoảng 25 ngày tuổi thì nhổ để cấy ra ruộng sản xuất.

Vụ Xuân Hè (hay gọi là vụ cải chiêm): gieo từ tháng 2 đến tháng 6 dương lịch.

Tuổi cây giống 30 – 35 ngày thậm chí đến 40 ngày thì nhổ cây để ăn hoặc bán.

Theo Nguyễn Mạnh Chinh (2007), cải bẹ xanh có thể trồng quanh năm nhưng

năng suất cao thường là ở vụ Đông Xuân. Vào mùa mưa nên làm giàn che để

bảo vệ cây tránh dập lá.

2.7.2. Giống

Theo Trần Thị Ba (2008), sử dụng các giống có năng suất cao, chất lượng tốt,

thích hợp với sản xuất và tiêu thụ. Cải bẹ xanh để giống dễ dàng trong vụ Đông

Xuân từ tháng 10 đến tháng 2 dương lịch, vì vậy nơng dân có thể tự để giống.

Do cải bẹ xanh là cây thụ phấn chéo nên có nhiều dạng hình của thân lá, qua

tuyển lựa của nơng dân mà giống trồng cũng phong phú, đa dạng ở mỗi địa

phương.

Cải bẹ xanh ta: thời gian từ gieo đến thu hoạch là khoảng 40 ngày đến 45 ngày,

lá xanh vàng, mỏng, cọng nhỏ, bẹ dẹt, năng suất cao và ăn ngon. Giống của

Viện Khoa Học Miền Nam, công ty giống Miền Nam.

Cải bẹ xanh mốc hay cải bẹ xanh tiều: cây to, lá xanh đạm, bẹ to, tròn, năng

suất cao nhưng vị đắng, thích hợp ăn xào hoặc nấu canh, thời gian thu hoạch

khoảng 40 ngày đến 45 ngày sau khi gieo như cải bẹ xanh Trang Nông.

Theo Trần Khắc Thi và ctv (2009), ở Việt Nam có nhiều giống cải như: cải bẹ

xanh Hà Nội, cải Tiền Giang. Các giống chọn lọc có cải bẹ xanh vàng TG1 của

Viện Khoa Học Nông Nghiệp Miền Nam.

2.7.3. Làm đất, trồng cây

Theo Nguyễn Mạnh Chinh (2007), cây cải bẹ xanh được trồng trên nhiều loại

đất khác nhau. Đất phơi ải từ 7 – 10 ngày trước khi lên luống. Luống rộng 0,8 –

17



1,0 m, mùa mưa lên luống cao hơn, khoảng 20 cm. Đất trước khi gieo trồng bón

5 – 6 kg vôi bột cho 100 m 2 đất để hạn chế nấm và tuyến trùng. Mùa mưa nên

che phủ đất bằng rơm, trấu hoặc nilon.

Cải bẹ xanh thường được trồng bằng cây con hoặc gieo vãi, trồng cây con

khoảng cách 15 x 20 cm. Nếu gieo vãi, khi cây con có 2 – 3 lá thật thì nhổ tỉa để

ăn ngay, còn lại để khoảng cách 12 x 15 cm thu hoạch về sau.

Theo Tạ Thu Cúc (2008), tùy theo cách trồng ta có thể làm luống hẹp hoặc

rộng. Nếu gieo ươm cây giống rồi trồng thì làm luống hẹp 1 – 1,2 m. Nếu gieo

thẳng thì làm luống rộng để tăng hiệu quả sử dụng đất đai, luống rộng từ 1,2 –

1,5 m. Chiều cao luống tùy theo mùa vụ, thời tiết khơ ráo, mưa ít thì làm luống

thấp khoảng 15 – 20 cm. Khi gieo trồng trong mùa mưa cần lên luống cao từ 25

– 30 cm.

Theo Trần Thị Ba (2008), gieo hạt trực tiếp ngoài đồng sẽ đỡ công cấy, nhưng

tốn hạt giống và công tỉa. Lượng hạt gieo sạ cho 1.000 m 2 khoảng 500 gram.

Hạt giống ngâm trong nước 3 – 4 giờ vớt ra để ráo nước, ủ ấm một đêm rồi đem

gieo hạt sẽ nẩy mầm nhanh và đều hơn gieo hạt khô. Tưới dầm liếp trước khi

gieo, sau khi gieo rải lớp tro trấu mỏng phủ hạt và rắc thuốc trừ kiến, các loại

sâu hại khác (sâu non, bọ nhẩy, dế, kiến…). Trên liếp phủ một lớp rơm mỏng và

tưới đủ ẩm.

Gieo cây con: lượng hạt giống cần thiết để đủ cây con cấy trên 1.000 m 2 khoảng

100 – 150 g, gieo trên 70 m 2 đất. Liếp ương nơi khô ráo có đầy để ánh nắng.

Cây con có 3 – 4 lá thật khoảng 15 – 20 ngày tuổi thì đem cấy, mật độ 25.000 –

30.000 cây/1000 m2. Trồng khoảng cách (15 – 20 cm ) x 15 cm, 1 hốc 1 cây để

ruộng thơng thống hạn chế sâu bệnh. Liếp rộng 1 m cấy được 6 – 8 hàng cải,

cấy dày, cây cao, thân lá nhỏ, năng suất cao.

2.7.4. Sử dụng phân bón và cách bón

Theo Nguyễn Mạnh Chinh (2007), cải bẹ xanh bón lót 1,3 – 1,5 tấn phân

chuồng hoai mục + 14 – 15 kg super lân. Bón thúc 2 - 3 lần, mỗi lần 5 - 6 kg

urê + 7 – 10 kg KCl, hòa nước tưới.

Theo Tạ Thu Cúc (2008), khối lượng các loại phân bón cho 1000 m 2 đất gieo

trồng như sau:

Phân hữu cơ và phân hóa học hoai mục: 1,3 – 1,5 tấn. Khơng được dùng phân

tươi, phân chưa hoai bón cho rau và rau cải.

Phân Đạm Urê: 13 – 20 kg

Phân Supe Photphat: 30 kg

18



Phân Clorua Kali: 17 kg

Nếu là phân Sunphat Kali: 20 kg

Có thể thay thế các loại phân bón trên bằng các loại phân bón: NPK tổng hợp,

Ba con cò…

Phương pháp bón: bón vào rãnh hoặc trộn đều phân bón vào đất trước khi gieo

trồng.

Bón lót trước khi trồng tồn bộ phân hữu cơ và phân hóa học hoai mục, phân

Lân và 1/3 tổng lượng Kali. Phân Đạm và Kali (2/3) dùng để bón thúc cho cây

trong thời gian sinh trưởng.

Theo Nguyễn Văn Thắng và Trần Khắc Thi (2000), cải bẹ xanh là loại cây rất

ngắn ngày nên khi để cây rau bị đói phân, đói nước, năng suất giảm rất đáng kể.

Do vậy phải bón thúc cho cải cho cải từ 3 – 4 lần bằng phân đạm Urê với lượng

khoảng 45 – 100 kg/ha.

2.7.5. Tưới nước

Theo Trần Khắc Thi và Trần Ngọc Hùng (2002), cải bẹ xanh là cây ngắn ngày

và rất cần nước để sinh trưởng nên phải giữ ẩm thường xuyên sau khi trồng,

mỗi ngày tưới 1 lần, sau đó 2 – 3 ngày tưới 1 lần, kết hợp các lần tưới với các

đợt bón phân. Nhặt cỏ dại và xới xáo vun gốc từ 1 – 2 lần.

Theo Tạ Thu Cúc (2008), sau khi gieo phải tưới nước để hạt nẩy mầm. Có thể

tưới bằng thùng gương sen, tưới phun mưa, nếu đất bằng phẳng có thể tưới

rãnh. Phải dùng nước sạch để tưới. Ở những ruộng mới trồng, ngồi những cách

tưới trên còn có thể bằng gào, tưới cách gốc 5 – 7 cm. Cần phải giữ ẩm thường

xuyên thì mới đảm bảo được năng suất cao và chất lượng rau ngon.

2.7.6. Phòng trừ sâu bệnh

Theo Tạ Thu Cúc (2008), biện pháp phòng trừ thực hiện đầy đủ chương trình

tổng hợp. Coi trọng các biện pháp luân canh, vệ sinh đồng ruộng, bón phân cân

đối… khi cần thiết dùng thuốc bảo vệ thực vật, phải tuân theo sự hướng dẫn của

ngành bảo vệ thực vật.

Theo Trần Thị Ba (2008), thì các biện pháp canh tác như sau:

Luân canh: để hạn chế các sâu bệnh hại có thể chu chuyển và gây hại nặng,

khơng nên trồng liên tục nhiều vụ cùng họ cải trên cùng một chân đất. Nên luân

canh bắt buộc với các cây khác họ như: xà lách, rau dền, mồng tơi hoặc rau gia

vị… tốt nhất nên luân canh với các cây họ hòa thảo như: bắp, lúa nước chẳng

hạn.

19



Theo Trần Khắc Thi và ctv (2009), có thể trồng xen cây cải bẹ xanh, cải ngọt

với các cây trồng khác nhằm gián đoạn nguồn thức ăn và xua đuổi sâu hại. Luân

canh rau với các cây trồng khác như: lúa nước, cây họ cà, cây họ đậu… để hạn

chế sự gây hại của sâu bệnh trên đồng ruộng.

2.7.7. Thu hoạch

Theo Trần Khắc Thi và Trần Ngọc Hùng (2002), cho biết khi thu hoạch cần loại

bỏ các lá gốc, lá già, lá bị sâu bệnh, chú ý rửa sạch, không bị dập nát cho vào

bao bì sạch để sử dụng. Nếu làm đúng theo quy trình trên có thể đạt 15 – 20

tấn/ha.

Theo Tạ Thu Cúc (2008), khi xác định thời điểm thu hoạch cần căn cứ vào đặc

điểm của giống, thời gian sinh trưởng và đặc biệt là cách sử dụng. Ví dụ: rau cải

bẹ xanh dùng để ăn sống thì thu hoạch có 1 – 2 lá thật. Nếu dùng cải bẹ xanh để

ăn gỏi cá thì thu hoạch khi cây có 5 – 7 lá. Cải bẹ xanh dùng để luộc, xào, nấu

canh thì sau khi gieo 30 – 35 ngày có thể thu hoạch.

Khi thu hoạch cần chọn ngày nắng ráo, mát trời có thể nhổ cả cây hoặc dùng

dao cắt sát gốc. Sau khi thu hoạch cần nhanh chóng chuyển về nơi mát để làm

sạch. Tỉa bỏ lá già vàng úa, rửa sạch trong nước mát. Thao tác trong quá trình

thu hoạch, làm sạch, vận chuyển nhẹ nhàng. Sau khi thu hoạch cải mất nước rất

nhanh, vì vậy cần nhanh chóng vận chuyển đến nơi tiêu thụ.

2.8. Sơ lược đặc điểm sâu bệnh hại trên cây cải bẹ xanh

2.8.1. Sâu hại thường gặp trên cải bẹ xanh

2.8.1.1. Sâu tơ (Plutella xylostella)

Theo Trần Văn Hai và Phạm Hoàng Oanh (2007), sâu tơ có tên gọi khác là sâu

dù, sâu chỉ, sâu đu, sâu bay, sâu kén mỏng, sâu bướm muỗi. Bướm có chiều dài

sải cánh 12 – 15 mm, màu nâu xám, cánh sau có màu xám và có lơng nhỏ, dài

mịn. Trứng hình bầu dục có màu vàng nhạt được đẻ khắp cây thành cụm rời 10

– 15 trứng hoặc thành ổ 50 – 70 trứng. Sâu dạng hình thoi, hai đầu nhọn, phân

đốt rất rõ, chiều dài trung bình 10 mm, màu xanh lá cây. Nhộng màu nâu được

được bọc trong kén mỏng màu trắng xốp nằm dưới mặt lá.

Vòng đời sâu tơ khoảng 15 – 17 ngày. Sâu tơ mới nở đục lá tạo thành rãnh, ở

tuổi lớn ăn tồn bộ biểu bì khiến lá bị thủng lổ. Mùa mưa sâu tơ giảm mật số rất

rõ.

Biện pháp sinh học: sử dụng thiên địch của sâu tơ như nhóm ăm mồi, nhóm ong

ký sinh, vi sinh vật gây bệnh.



20



Biện pháp canh tác: bố trí thời vụ thích hợp, vụ Đơng Xn ít sâu hơn vụ Xn

Hè. Luân canh với cây khác không cùng ký chủ, dùng bẫy dính màu vàng theo

dõi bướm sâu tơ, trồng xen với cây họ cà để đuổi được bướm sâu tơ, tưới phun

mù sẽ giảm mật số bướm.

Dùng thuốc hóa học gốc cúc ở liều thấp kết hợp với thuốc vi sinh để hạn chế

mức thấp nhất số lần phun thuốc hóa học trên vụ như: Success, Alphan.

2.8.1.2. Sâu ăn tạp (Spodoptera litura)

Theo Trần Văn Hai và Phạm Hoàng Oanh (2007), thành trùng là loại bướm đêm

rất to, cánh nâu đên giữa có một vạch trắng. Trứng đẻ thành từng ổ hình tròn ở

dưới mặt phiến lá nên gọi là sâu ổ, khi lớn lên phân tán dần, mình có màu xanh

xám với khoang đen lớn ở phía sau lưng sau đầu, ăn thủng lá có dạng bất định

hoặc cắn đứt cây con.

Biện pháp phòng trừ: làm đất kỹ trước khi trồng vụ sau để diệt sâu và nhộng

sống trong đất, xử lý bằng thuốc hạt. Có thể ngắt ổ trứng hoặc ngắt sâu non tập

trung. Khi sử dụng thuốc hóa học thì nên thay đổi loại thuốc thường xuyên:

Peran, Polytrin, Cyperan.

2.8.1.3. Sâu xanh da láng (Spodoptera exigua)

Theo Trần Văn Hai và Phạm Hoàng Oanh (2007), thành trùng là loại bướm đêm

màu trắng xám hơi ngã nâu. Sâu non có màu xanh nhạt da bóng lống, trên lưng

có 5 sọc, 2 sọc ở 2 bên hông rất to và đậm, sọc ở giữa lưng có màu đen xen kẽ

màu trắng. Sâu non ăn rất mạnh, cắn phá thành từng lỗ bất dạng trên lá non.

Mặc dù sâu gây hại tương đối, nhưng ngồi thiên nhiên cũng có nhiều loại thiên

địch cũng như bệnh tấn công làm chúng giảm mật số đáng kể, một số loài như

ong ký sinh, ruồi ký sinh.

Ngoài ra, ngắt bỏ ổ trứng sẽ diệt phần lớn sâu non sắp nở. Thăm đồng thường

xuyên, phun thuốc khi sâu non mới nở sẽ có hiệu quả cao. Phun các loại thuốc

tương tự như đối với sâu ăn tạp. Nên thay đổi luân phiên thuốc thường xuyên,

phun vào chiều mát hay sáng sớm.

2.8.1.4. Bọ nhảy (Phyllotreta striolata)

Theo Trần Văn Hai và Phạm Hoàng Oanh (2007), thành trùng của bọ nhảy rất

nhỏ, dài 1,8 – 2,4 mm, hình bầu dục, giữa cánh cứng có sọc cong, hình dáng

tương tự như vỏ đậu phộng, màu vàng nhạt chạy theo cánh. Đốt đùi chân sau

khỏe giúp thành trùng nhảy xa. Thành trùng đẻ trứng dưới đất và trên rễ cây, đôi

khi rải rác trên lá. Mỗi con đẻ 25 – 200 trứng. Ấu trùng hình ống màu vàng nhạt

dài khoảng 4 mm, cạp rễ, làm nhộng dưới đất ở độ sâu 3 – 7 cm. Bọ nhảy xuất

hiện rộ và phá hại mạnh nhất vào tháng 4 – 5 khi bắt đầu có mưa.

21



Biện pháp phòng trừ: cần phải vệ sinh ruộng trồng cải sau khi thu hoạch, thu

gom các lá cải hay cây cải vào một nơi để tiêu diệt. Luân canh các loại cây

trồng khác không phải là ký chủ của sâu hại cũng phần nào hạn chế thiệt hại của

sâu ở vụ sau. Sử dụng thuốc trừ sâu gốc lân để trị, nhất là đối với ấu trùng, nên

phun xịt sát gốc cây cải để diệt ấu trùng sống dưới đất như Basudin, Kinalux

hoặc rãi bằng Basudin 10H hay phun Forvin 85WG. Nhưng chú ý thời gian thu

hoạch.

2.8.1.5. Rầy mềm: Rhopalosiphum pseudobrassicae, Brevicoryne brassicae,

Myzus percicea

Theo Trần Văn Hai và Phạm Hồng Oanh (2007), rầy mềm hay còn gọi là rầy

mật, rầy nhớt. Ấu trùng lẫn thành trùng đều rất nhỏ, độ dài 1 – 2 mm, màu xanh

lục đến xanh vàng. Chúng có rất nhiều thiên địch như bọ rùa, dòi ăn thịt, kiến

nhện… Chỉ phun thuốc khi mật số quá cao. Phun các loại thuốc phổ biến ít độc

như Cyperan, Bassan, Actara.

2.8.2. Bệnh hại thường gặp trên cây cải bẹ xanh

2.8.2.1. Bệnh héo cây con: nấm Rhizoctonia solani

Theo Trần Văn Hai và Phạm Hoàng Oanh (2007), bệnh thường gặp gây hại cho

cây con trên liếp ương hoặc sau khi trồng 1 tháng. Vết bệnh thường xuất hiện ở

phần thân ngay trên mặt đất. Nấm tấn công vào gốc làm gốc cây bị thối nhũn

khiến cây ngã gục, phần cây bên trên vẫn còn tươi xanh, sau đó cây bắt đầu héo

đi.

Biện pháp khắc phục: sử dụng phân đã hoai mục làm bầu cây con, không để

vườn ương quá ẩm. Trộn thuốc trừ nấm vào đất để khử mầm bệnh. Phun ngừa

hoặc phòng trị bằng thuốc Appencarb, Validan.

2.8.2.2. Bệnh đốm vòng: nấm Alternaria brassica

Trên lá vết bệnh hình tròn lớn có nhiều vòng đồng tâm màu nâu nhạt, nâu sẫm,

vết bệnh thường lớn đến 1 cm, nhiều vết bệnh có thể liên kết tạo thành hình bất

kỳ, bệnh xuất hiện nhiều khi cây đã lớn. Những lá là bên dưới bị hại trước rồi

đến lá non phía trên. Bệnh xuất hiện khi cây thiếu phân hoặc bón thừa phân vơ

cơ, thời tiết nóng ẩm, mưa xen kẽ khơ hạn bệnh sẽ phát triển mạnh. Nấm tồn tại

trên tàn dư lá bệnh, hạt giống là nguồn lây lan cho vụ sau.

Biện pháp phòng trừ: như vệ sinh đồng ruộng, tỉa lá già bệnh, thu gọn tàn dư lá

bệnh sau khi thu hoạch. Không sử dụng hạt giống của cây bệnh để làm giống

cho vụ sau, luân canh với cây khác họ. Xử lý hạt trước khi gieo, phun ngừa

bằng một số loại thuốc trừ nấm thông dụng như Score, Tilt Super.

22



2.9. Tổng quan về phân hữu cơ

2.9.1. Định nghĩa phân hữu cơ

* Phân hữu cơ

Theo Phạm Anh Cường và Nguyễn Mạnh Chinh (2010), phân hữu cơ là phân có

nguồn gốc thực vật hoặc động vật. Thành phần của hữu cơ chủ yếu là các chất

hữu cơ, trong đó chứa carbon và nhiều nguyên tố dinh dưỡng thiết yếu cho cây

trồng, ngoài ra còn có một lượng đáng kể các vi sinh vật.

Theo Hiệp hội phân bón Việt Nam (2005), xu thế hiện nay trên thế giới đang

quan tâm đến việc sử dụng phân hữu cơ, nhất là từ cuối thế kỷ XX (nói chung là

phân sinh học) bao gồm: phân chuồng, phân ủ, phân xanh các loại, phân sinh

vật biển, phân hữu cơ...

Trung Quốc sử dụng phân hữu cơ từ các nguồn phân chuồng, rơm rạ, phân

xanh, khơ dầu, ước tính tương đương 9,8 triệu tấn NPK nguyên chất. Phân sinh

học sử dụng cho 1 ha tương đương 65 kg (N + P 2O5 + K2O). Ấn Độ hàng năm

sản xuất khoảng 286 triệu tấn phân ủ (compost) từ các chất thải nơng thơn và

thành phố, bình qn bón 2 tạ/ha/năm, ước tính tương đương 3,5 – 4,0 triệu tấn

NPK. Có khoảng 6,7 triệu ha cây phân xanh, mỗi ha thu được tương đương 40 –

50 kg N, ước tính cho được 0,3 triệu tấn N. Cả 2 nước lớn là Trung Quốc và Ấn

Độ có truyền thống sử dụng phân sinh học, sau nhiều năm gần đây cũng đưa ra

kết luận: dinh dưỡng từ phân hữu cơ chưa đáp ứng nhu cầu cho cây trồng đạt

năng suất cao, mà phải dùng thêm phân hóa học bổ sung với số lượng cần thiết.

Ngồi ra còn rất nhiều nước đang có xu thế dùng phân hữu cơ như: Mỹ, Nhật,

Pháp, Úc, Thái Lan...

Trước thế kỷ 19, nơng nghiệp thế giới nói chung và nơng nghiệp Việt Nam nói

riêng vốn là nền nơng nghiệp hữu cơ. Ở châu Âu, khi chưa có phân hóa học, 1

ha trồng trọt khơng cung cấp đủ lương thực cho 1 người.

Ở Việt Nam, cách đây hơn 20 năm, bình qn bón mỗi vụ cho 1 ha gieo trồng

khoảng 5 – 6 tấn phân hữu cơ. Hiện nay ước tính cũng chỉ bón được 5 – 6 tấn,

trừ một số vùng thâm canh cao lượng bón đạt trên 10 tấn/ha gieo trồng.

* Chế phẩm phân hữu cơ trong nông nghiệp

Tại các nước Tây Âu, trong năm qua thị trường tiêu thụ các chế phẩm vi sinh

cho mục đích nông nghiệp đạt 33 triệu đôla. Trong ba năm tới khối lượng tiêu

thụ chúng sẽ tăng gấp ba. Các chế phẩm sinh học được dùng phổ biến nhất

trong sản xuất thức ăn gia súc, dùng làm chất thay thế phân bón hóa học và

cũng được dùng làm thuốc trừ sâu bệnh côn trùng cho cây cối.

23



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

CHƯƠNG 2 LƯỢC KHẢO TÀI LIỆU

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×