Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
1 ĐẶC ĐIỂM GIẢI PHẪU, SINH LÝ BỘ MÁY HÔ HẤP TRẺ EM

1 ĐẶC ĐIỂM GIẢI PHẪU, SINH LÝ BỘ MÁY HÔ HẤP TRẺ EM

Tải bản đầy đủ - 0trang

Hầu:

Hầu là ngã tư đường hô hấp và đường tiêu hóa. Hầu cấu tạo là ống cơ

mạc đi từ nền sọ tới bờ dưới sụn nhẫn (ngang mức đốt sống cổ 6). Hình thể của

hầu được chia ba phần: hầu mũi, hầu miệng, và hầu thanh quản.

Lúc sơ sinh khoang hầu họng rất hẹp, sau rộng dần ra trước và 2 bên

nhờ cột sống cổ uốn cong dần, kết hợp với sự phát triển xương sọ mặt.

Tổ chức lympho ở niêm mạc họng chưa phát triển hoàn chỉnh nên dễ

bị nhiễm trùng. Hạch hạnh nhân phát triển tối đa từ 4 – 10 tuổi và teo dần cho

đến tuổi dậy thì.

Thanh quản:

Thanh quản nối hầu với khí quản, có nhiệm vụ phát âm và dẫn khí.

Thanh quản được cấu tạo bởi những mảnh sụn khớp với nhau và được giữ chặt

bằng các màng, các dây chằng, trong có các dây thanh âm rung chuyển khi luồng

khơng khí đi qua tạo nên các âm thanh khác nhau. Thanh quản nằm ở trước cột

sống cổ từ C3 – C6.

Trẻ càng nhỏ thanh quản càng hẹp do xương sụn mềm, có nhiều mơ

liên kết và mao mạch. Khi bị viêm, dễ bị chít hẹp và gây khó thở. Phản xạ thanh

quản gây ức chế hơ hấp ở sơ sinh rất mạnh. Việc hít sặc và kích thích hóa thụ thể

thanh quản ở trẻ non tháng, nhất là khi trẻ thiếu máu, hạ đường huyết hoặc ngay

cả khi ngủ có thể gây ngưng thở.

Khí phế quản:

Khí quản là một ống dẫn khí nằm trong cổ và ngực. Từ đốt sống cổ 6

khí quản đi xuống dưới và ra sau theo đường cong của cột sống hơi lệch sang

phải, đến đốt sống ngực 4 – 5, bao gồm từ 16 – 20 sụn khí quản hình chữ C nối

tiếp nhau bởi một loạt các dây chằng vòng do các màng sợi phủ bên ngồi sụn

tạo thành.



Từ đốt sống ngực 4 hoặc 5, khí quản phân đơi thành hai phế quản:

0



chính phải và chính trái. Hai phế quản chính này hợp thành một góc 70 , phế

quản chính phải to hơn, chếch hơn và ngắn hơn so với phế quản chính trái do đó

dị vật thường rơi vào phế quản chính phải.

Đường dẫn khí từ phế quản đến ống phế nang tăng dần về đường kính

mơ đàn hồi, cùng với sự xuất hiện của những vòng có trơn, xung quanh đường

dẫn khí làm cho kháng lực ngày càng giảm. Vòng sụn nhỏ dần và biến mất ở các

tiểu phế quản. Cấu tạo từ nay chỉ là những vòng cơ trơn, càng xuống dưới chỉ

còn vài sợi cơ trơn mõng. Từ đọan này trở đi, đường dẫn khí được mở thơng qua

áp lực làm mở phế nang nên rất dể bị xẹp.

Đường kính khí quản tăng gấp 2 lần lúc 5 tuổi. Phế quản gốc tăng 2

lần lúc 6 tuổi. Tiểu phế quản tăng 40% lúc 2 tuổi. Trẻ sơ sinh niêm mạc khí quản

nhiều mạch máu và tương đối khô (do các tuyến chưa phát triển đầy đủ). Sụn khí

quản mềm, dễ biến dạng, khi bị viêm nhiễm dễ bị phù nề, hẹp.

Phổi:

Phổi là cơ quan chủ yếu của hệ hô hấp là nơi trao đổi khí giữa máu

và khơng khí. Hai phổi nằm trong lồng ngực giới hạn nên trung thất. Mỗi phổi

được bọc trong một bao thanh mạc gổm hai lá gọi là màng phổi.

Hình thể ngồi của phổi:

Phổi được ví như một phần hai hình nón gồm một đáy, một đỉnh, hai

mặt và hai bờ.

• Đáy phổi: hay mặt hồnh lõm, nằm áp sát lên vòm hồnh, do đó liên quan với

các tạng trong ổ bụng nhất là gan.

• Đỉnh phổi: ở phía trên, nhô lên khỏi xương sườn thứ nhất qua lỗ trên lồng ngực

và nằm ngay ở nền cổ.

• Mặt sườn: là mặt nhẵn và lồi, áp sát vào thành trong lồng ngực ở phía ngồi

và phía sau, nên có các vết ấn lên của xương sườn.

-



- Phổi phải: có khe chếch và khe ngang chia phổi phải ra làm ba thùy: thùy

trên, thùy giữa và thùy dưới.

- Phổi trái: không có khe ngang chỉ có khe chếch nên có hai thùy: trên và dưới,

nhưng lại có một mẩu phổi lồi ra ở phiá trước dưới như cái lưỡi nên gọi là lưỡi

phổi.

Chỗ các mặt thùy phổi áp sát nhau gọi là mặt gian thùy.

• Mặt trong hay mặt trung thất: hơi lõm và quay vào phía trong, gồm hai phần:

phần cột sống phía sau liên quan với cột sống và phần trung thất phía trước

quây lấy các thành phần trong trung thất sau.

• Bờ trước: là bờ sắc, là ranh giới giữa hai mặt: sườn và trung thất. Phần dưới

bờ trước phổi trái có khuyết tim.

• Bờ dưới: qy lấy mặt hoành và gồm hai đoạn: đoạn thẳng ở trong ngăn cách

mặt hoành với mặt trung thất, đoạn cong ở ngoài ngăn cách mặt hoành với mặt

sườn.

Giữa mặt sườn và mặt trung thất ở phía sau, phổi uốn cong lồi sát vào

cột sống, nên phổi khơng có bờ sau.

Trên bề mặt phổi có các diện hình đa giác to nhỏ khác nhau, đó là đáy

của các tiểu thùy phổi.



Hình 1.1 Mặt ức sườn của phổi: (a) phổi phải; (b) phổi trái[2]

Cấu tạo của phổi

Phổi được cấu tạo do các thành phần cuống phổi như phế quản chính,

động mạch và tĩnh mạch phổi, động mạch và tĩnh mạch phế quản, bạch huyết và

các sợi thần kinh của đám rối phổi phân nhánh tỏa nhỏ dần trong phổi và mô liên

kết xen kẽ các thành phần trên và bao quanh phổi.

• Cây phế quản

Mỗi phế quản chính chui vào rốn phổi sẽ chia thành các phế quản

thùy dẫn khí cho một thùy phổi, rồi chia thành các phế quản phân thùy dẫn khí

cho một phân thùy phổi, rồi lại chia thành các phế quản hạ phân thùy, và chia

nhiều lần nữa cho đến tận tiểu phế quản tiểu thùy dẫn khí cho một tiểu thùy phổi.

Tiểu thùy phổi là đơn vị cơ sở của phổi. Một tiểu phế quản tiểu thùy đi vào tiểu



thùy phổi sẽ chia ngay thành sáu tiểu phế quản tận, rồi lại chia tiếp thành các tiểu

phế quản hơ hấp dẫn khí vào ống phế nang rồi vào túi phế nang và sau cùng là

phế nang. Bao quanh phế nang là là mạng lưới mao mạch, đây là nơi xảy ra q

trình trao đổi khí.

Về cấu tạo, đường dẫn khí được lót bên trong bằng thượng mơ nằm

trên một lá riêng bằng mơ liên kết. Bên ngồi lá riêng là lớp dưới niêm mạc cũng

được cấu tạo bằng mơ liên kết, vùi trong đó là cơ trơn, các tuyến, các mảnh sụn,

các mạch máu, mô bạch huyết và thần kinh. Sụn có mặt từ khí quản đến các phế

quản nhỏ nhất nhưng vắng mặt ở tiểu phế quản.

Bảng 1.1 Sự phân chia thùy – hạ phân thùy 2 phổi[2]

PHỔI PHẢI

1. Phân thùy đỉnh

Thùy trên



Thùy giữa



2. Phân thùy sau



1,2. Phân thùy đỉnh – sau

3. Phân thùy trước



3. Phân thùy trước

4. Phân thùy bên



4. Phân thùy lưỡi trên



5. Phân thùy giữa

6. Phân thùy đỉnh



5. Phân thùy lưỡi dưới

6. Phân thùy đỉnh



6'. Phân thùy dưới đỉnh

Thùy dưới



PHỔI TRÁI



6'. Phân thùy dưới đỉnh



7. Phân thùy đáy giữa



7. Phân thùy đáy giữa



8. Phân thùy đáy trước



8. Phân thùy đáy trước



9. Phân thùy đáy bên



9. Phân thùy đáy bên



10. Phân thùy đáy sau



10. Phân thùy đáy sau



• Ngồi ra còn có hệ các động mạch phổi, tĩnh mạch phổi, động – tĩnh mạch phế

quản làm nhiệm vụ dẫn máu trao đổi khí và dinh dưỡng cho phổi.

• Màng phổi

Màng phổi gồm hai lá: thành và tạng, giữa hai lá là ổ màng phổi.

Màng phổi tạng bọc sát và dính chặt vào nhu mơ phổi, lách vào các khe gian



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

1 ĐẶC ĐIỂM GIẢI PHẪU, SINH LÝ BỘ MÁY HÔ HẤP TRẺ EM

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×