Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Thời kỳ toàn phát

Thời kỳ toàn phát

Tải bản đầy đủ - 0trang

+ Ngồi ra có thể nghe ran ẩm to, nhỏ hạt, ran nổ.

1.3.6 Cận lâm sàng

- X quang phổi [19],[20],[26]

Biểu hiện sớm hơn triệu chứng thực thể vì vậy nên chụp phim phổi

sớm để chẩn đốn kịp thời. Hình ảnh viêm phổi thùy điển hình:

• Hình mờ tam giác, đỉnh ở phía trong (phía rốn phổi), đáy ở phía ngồi (phía

nách) hoặc là hình mờ đậm, đều, có bờ rõ khu trú ở một phân thuỳ hay một

thuỳ phổi.

• Có hình ảnh đường hơi phế quản bên trong.



Hình 1.2 Viêm thùy trên phổi phải[26]

Ở trẻ nhỏ hình ảnh mờ tam giác đơi khi khơng điển hình, có khi chỉ

là một đám mờ thâm nhiễm có dạng hình tròn tại một vùng của phổi, kích thước

khoảng 3 – 4 cm, bờ rõ, khơng có nốt vơi hóa. Thường gặp ở trẻ dưới 8 tuổi do



kênh Lambert và lỗ Kohn chưa phát triển hoàn chỉnh, dịch tiết sẽ ứ lại trong các

phế nang, không lan ra các vùng xung quanh như trẻ lớn. Vì vậy trên phim

chụp X quang phổi có thể thấy những đám mờ hình thể khác nhau: hình chữ

nhật, hình thang, băng dài hoặc hình ê – ke... Cần soi hoặc chụp nghiêng để xác

định tổn thương khu trú từng thuỳ, phân thuỳ.

Hình ảnh X quang nói chung xuất hiện sớm sau 24 giờ đầu. Khi

thối triển hình ảnh X quang có thể mất hẳn nhanh chóng hoặc vỡ từng

mảnh rồi mất dần hoặc bóng mờ nhạt dần và sáng đều cả phế trường.

Nếu được điều trị kịp thời hình ảnh X quang mất hẳn sau 4 - 8 ngày

điều trị, tuy nhiên cũng có thể kéo dài đến 2 – 3 tuần.

- Vi trùng học: xét nghiệm đàm[12],[33]

Việc xác định tác nhân viêm phổi gặp nhiều khó khăn. Với các phương

pháp như soi cấy, tìm kháng nguyên và huyết thanh chẩn đoán, chúng ta chỉ

phân lập được tác nhân viêm phổi trong khoảng 1/3 trường hợp.

Mẫu đàm lấy được sẽ được nhuộm gram và cấy để xác định vi trùng gây

bệnh. Mẫu đàm chỉ có giá trị khi không được lẫn vi trùng vùng miệng hầu và

phải lấy từ đường hô hấp dưới. Mẫu đàm được đánh giá đạt chuẩn dựa vào thang

điểm Barlett.

Bảng 1.5 Thang điểm Barlett[12]

MẪU BỆNH PHẨM



ĐIỂM SỐ



10 – 25 bạch cầu



+1



> 25 bạch cầu



+2



Tế bào trụ (+)



+1



10 – 25 tế bào vảy



-1



> 25 tế bào vảy



-2



Cộng các điểm lại:

• Nếu ≤ 0 điểm: Mẫu đàm khơng tin cậy để khảo sát vi trùng học.

• Nếu 1 – 2 điểm: Mẫu đàm tin cậy vừa.

• Nếu ≥ 3 điểm: Mẫu đàm rất đáng tin cậy.

Mẫu đàm sẽ được quan sát dưới vật kính dầu để ghi nhận sự hiện diện của

vi trùng. Loại vi trùng được coi là chiếm ưu thế khi chúng hiện diện trên 10

quang trường dầu, hoặc trên 50% các vi trùng thấy được trên quang trường.

Các phương pháp lấy mẫu đàm

Khạc đàm: thực hiện ở trẻ ≥ 10 tuổi, dễ ngoại nhiễm vi trùng thường trú

vùng hầu họng.

Hút dịch mũi hầu (Naso pharyngeal aspiration – NPA): Cách lấy mẫu

đàm này cũng khơng chính xác, vi trùng tìm thấy có thể là vi trùng thường trú

vùng mũi hầu, không phải vi trùng gây bệnh nhiễm trùng hơ hấp dưới.

Chọc hút khí quản qua màng giáp nhẫn (Transtracheal aspiration –

TTA): Phương pháp này được biết đến từ năm 1959 và sử dụng rộng rãi vào

nhưng năm 70. Bình thường, cây khí phế quản khơng có vi trùng. Do đó, bằng

phương pháp TTA, chúng ta có thể lấy được mẫu đàm khơng bị lẫn vi trùng

đường hô hấp trên. Theo một số nghiên cứu, độ nhạy phương pháp TTA là 44%

- 95%, độ chuyên biệt là 68% - 100%. Tuy nhiên, hiện nay người ta ít sử

dụng phương pháp này vì những biến chứng của nó như: ho ra máu ít, tràn khí

dưới da, nhiễm trùng nơi chọc hút, áp xe cạnh khí quản...

Chọc phổi xuyên qua da (Percutaneous transthoracic lung puncture

hay Transthoracic needle aspiriration – TTNA): Phương pháp này được sử

dụng từ năm 1883 như là một phương tiện chẩn đoán các sang thương phổi lành

tính hoặc ác tính. Độ nhạy của nó là 38% - 80%, độ chuyên biệt là 79%.



Các biến chứng của phương pháp này là tràn khí màng phổi (10%), ho ra máu

(5%), tràn khí dưới da.

Nội soi phế quản (Fiberoptic bronchoscopy): Phương pháp này chủ yếu

thực hiện ở những bệnh nhân cần quan sát giải phẫu đường thở, động học đường

thở và lấy bệnh phẩm. Bệnh phẩm được lấy bằng chổi quét (Protected specimens

brush – PSB) hoặc bằng rửa phế quản (Bronchoalveolar lavage – BAL). Độ nhạy

của phương pháp PSB là 54% – 85%, độ chuyên biệt là 85%. Độ nhạy của

phương pháp BAL là 38% – 58%, độ chuyên biệt là 85% .

Hút dịch qua nội khí quản (Endotracheal tube aspiration – ETA):

được sử dụng ở những bệnh nhân đang thở máy.

Hút dịch khí quản qua ngã mũi (Naso tracheal aspiration – NTA):

Đây là phương pháp chẩn đốn khơng xâm lấn, an tồn, dễ thực hiện. Mẫu đàm

lấy được có thể lẫn vi trùng hơ hấp trên. Tuy nhiên, kết quả có thể tham khảo

được nếu mẫu bệnh phẩm lấy đúng kỹ thuật.

- Các xét nghiệm khác

3



Số lượng bạch cầu: tăng nhiều từ 15000 – 40000/mm . Tỷ lệ đa nhân

3



trung tính tăng cao 70 – 80%. Nếu bạch cầu giảm dưới 5000/mm là tiên lượng

xấu.[32]

CRP, VS: là dấu chỉ điểm khơng đặc hiệu của tình trạng viêm, ít giá trị

trong điều trị. VS tăng trong viêm phổi mạn, kéo dài hoặc có biến chứng. CRP

tăng ≥ 10 mg/dl trong viêm phổi cấp tính, gợi ý do vi khuẩn.[22]

Cấy máu: là phương pháp đặc hiệu xác định tác nhân gây bệnh, tuy nhiên

kết quả dương tính thường rất thấp[23],[ 11],[16][24]



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Thời kỳ toàn phát

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×