Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
3 ĐỀ XUẤT KIẾN NGHỊ

3 ĐỀ XUẤT KIẾN NGHỊ

Tải bản đầy đủ - 0trang

cho hoạt động kinh doanh ngân hàng nói chung và hoạt động thanh tốn quốc

tế nói riêng, Nhà nước cần phải:

Thứ nhất: tiếp tục bổ sung và hồn thiện khn khổ pháp luật:

Chính sách ngoại hối là một cơng cụ đắc lực cho việc thực hiện chính

sách tiền tệ. Bởi vì, thơng qua các chính sách quản lý ngoại tệ, quản lý tiền

bạc, tiền hối điều hành tỷ giá..... chính sách quản lý ngoại hối tác động đến

chính sách huy động vốn trong nước và nước ngoài, đến hoạt động xuất nhập

khẩu của nền kinh tế, vì vậy nó ảnh hưởng rất lớn đến hoạt động thanh toán

quốc tế.

Năm 1998, Nhà nước đã ban hành điều lệ quản lý ngoại hối song đến

nay còn có nhiều điểm chưa phù hợp mặc dù nó đã được sửa đổi và bổ sung

nhiều lần. Đồng thời do nhiều cấp, nhiều ngành cùng quy định một lĩnh vực

nên không tránh khỏi sự chồng chéo, mâu thuẫn và việc áp dụng nhiều khi

phải dẫn chiếu từ nhiều nguồn. Vì vậy, việc ban hành luật ngoại hối là việc

làm rất cần thiết, có như vậy mới tạo lập được môi trường pháp lý đầy đủ, làm

cơ sở cho hoạt động kinh doanh ngoại tệ và thanh toán quốc tế.

Về lý thuyết, việc vận dụng UCP600 tại nước ta gần như tuyệt đối mà

không bị bất cứ sự điều chỉnh nào, đây là nét đặc thù của Việt nam. Trong khi

đó mọi quốc gia khác đều có những luật hoặc các văn bản dưới luật quy định

về giao dịch tín dụng chứng từ trên cơ sở thơng lệ quốc tế có tính đến đặc thù

của sự phát triển kinh tế và tập quán của nước họ. Các văn bản như vậy là rất

cần thiết không chỉ đối với ngành ngân hàng mà còn là cơ sở để toà án trọng

tài áp dụng khi xét xử các vụ tranh chấp giữa các đối tác trong giao dịch tín

dụng. Hơn nữa UCP600 còn có những hạn chế nhất định bởi vì nó khơng thể

bao qt tất cả các giao dịch vô cùng phong phú của thực tiễn, không thể thay

thế luật của một quốc gia. Vì vậy, để giải quyết những bất đồng giữa thông lệ

quốc tế và tập quán quốc gia, tránh được những tranh chấp rủi ro phát sinh

63



trong q trình thực hiện hoạt động thanh tốn quốc tế nhằm tạo hành lang

pháp lý cho mọi hoạt động, nhà nước ta cần nghiên cứu và sớm ban hành các

văn bản pháp luật có liên quan đến hoạt động thanh toán quốc tế của ngân

hàng. Trong những văn bản này cần quy định rõ ràng quyền lợi và trách

nhiệm giữa các chủ thể tham gia như quyền lợi và trách nhiệm giữa các chủ

thể tham gia như quyền được nhận hàng của ngân hàng phát hành thư tín

dụng khi người nhập khẩu vay vốn của ngân hàng để nhập lơ hàng đó bị phá

sản, quyền được miễn trừ trách nhiệm thanh tốn của ngân hàng phát hành khi

có dấu hiệu tranh chấp thương mại và đã được toà án hay trọng tài tuyên bố

ngừng thanh toán. Điều này là cần thiết để bảo vệ ngân hàng và là điều mà

các toà án nhiều nước trên thế giới thường làm.

Về bản chất thư tín dụng là những giao dịch riêng biệt với hợp đồng

thương mại và các hợp đồng khác, các hợp đồng này có thể làm cơ sở để hình

thành thư tín dụng nhưng các ngân hàng bất luận trong trường hợp nào cũng

không liên quan đến hoặc không hề bị ràng buộc bởi hợp đồng. Do vậy, Chính

phủ cần sớm ban hành văn bản pháp lý cho giao dịch thanh tốn xuất nhập

khẩu theo phương thức tín dụng chứng từ. Có thể là một Nghị định về thanh

toán quốc tế đề cập đến mối quan hệ pháp lý giữa giao dịch hợp đồng ngoại

thương giữa người mua, người bán với giao dịch chứng từ giữa các ngân

hàng.

Việt Nam đã có quy chế về chiết khấu, tái chiết khấu thương phiếu, tín

phiếu… nhưng chưa có quy định về chiết khấu hối phiếu kèm chứng từ theo

thư tín dụng. Do đó trong thời gian tới cần thiết phải có những văn bản pháp

luật phân định rõ quyền lợi, nghĩa vụ của ngân hàng chiết khấu cũng như

người hưởng lợi.



64



Thứ hai: Tạo môi trường pháp lý cho hoạt động thanh toán quốc tế

Việt nam bước vào nền kinh tế thị trường và hòa nhập vào mâu dịch thế

giới từ cuối thập kỷ 80. Hoạt động thương mại và hoạt động ngân hàng luôn

sôi nổi và phát triển, nhất là từ khi có sự hiện diện ngày càng nhiều của các

nhà đầu tư nước ngoài, đặc biệt là các chi nhánh Ngân hàng lớn trên thế giới.

Thanh toán quốc tế của chúng ta phát triển nhanh chóng nhưng mặt trái

của nó là tranh chấp phát sinh ngày càng nhiều và phức tạp. Điều này đòi hỏi

có sự phán xét cơng minh của cơ quan pháp luật dựa vào luật pháp Việt Nam

và thơng lệ tập qn quốc tế.

Chính vì vậy nhà nước cần có một hệ thống luật đầy đủ và đồng bộ, các

quy chế chế tài rõ ràng hướng dẫn giao dịch thanh tốn tín dụng chứng từ. Bên

cạnh đó Chính phủ cần phối hợp chặt chẽ với các cơ quan hữu quan nhằm tạo

ra sự nhất quán cho việc ban hành cũng như áp dụng những văn bản pháp quy

này. Những văn bản này không nên đối nghich với thông lệ, tập quán quốc tế

nhưng cũng phải phù hợp với các bộ luật của Việt Nam và phải tính đến cả đặc

thù kinh tế, xã hội, tập quán và môi trường đầu tư của đất nước.

Thứ ba: Thực hiện cải cách các chính sách kinh tế đối ngoại nhằm mở

cửa và hợp tác kinh tế với nước ngoài.

Trong thời gian qua, cán cân thương mại quốc tế ở Việt nam ln trong

tình trạng thâm thụt, mức độ thâm thụt ngày càng lớn mặc dù một phần là do

đầu tư nước ngoài. Để cải thiện cán cân thương mại quốc tế thì giải pháp

làđẩy mạnh hoạt động xuất nhập khẩu, quản lý chặt chẽ hoạt động nhập khẩu

phục vụ cho sự phát triển kinh tế của đất nước. Tuy nhiên, sản phẩm xuất

khẩu của chúng ta còn nghèo nàn lại chủ yếu là sản phẩm chưa qua chế biến,

muốn đẩy mạnh hoạt động xuất nhập khẩu ta phải đẩy mạnh hoạt động

thương mại với những thị trường lớn như: Mỹ, Tây âu, Nhật bản, Trung quốc,

ASEAN....từng bước tham gia vào tổ chức kinh tế thương mại Châu á Thái

65



bình dương và tổ chức thương mại thế giới. Bên cạnh đó, nước ta cần khai

thác có hiệu quả tiềm năng về tài nguyên, sức lao động để cải tiến cơ cấu

hàng xuất khẩu cho phù hợp với nhu cầu thế giới, tăng số lượng các mặt hàng

gia công chế biến, giảm tỷ trọng sản phẩm thô, mở rộng thêm nhiều mặt hàng,

đầu tư thích đáng vào những mặt hàng ta cóưu thế như: gạo, cao su, cà phê,

dầu mỏ...

Ngoài ra, ta cần chú trọng công tác điều tra, nghiên cứu nhu cầu thị

trường của các nước để có những cải tiến các mặt hàng xuất khẩu phù hợp với

từng thị trường cụ thể, mở rộng các hình thức gia cơng sản phẩm cho nước

ngồi bằng ngun liệu của chính mình và có chính sách bảo hộ sản xuất

trong nước thơng qua việc cấp giấy phép hàng nhập khẩu, quản lý bằng hạn

ngạch, bằng công cụ thuế quan, tăng cường biện pháp chống bn lậu nhằm

bảo hộ lợi ích cho các nhà buôn sản xuất thực hiện cạnh tranh lành mạnh trên

thị trường.

Bên cạnh cải cách chính sách chế độ về xuất nhập khẩu, nhà nước cần có

biện pháp đẩy mạnh thu hút vốn đầu tư, đặc biệt làđầu tư nước ngoài và quản

lý chặt chẽ vay nợ nước ngồi. Bởi vì, với điều kiện nền kinh tế nước ta còn

nghèo, tích luỹ nội bộ trong nước thấp nên cần phải thúc đẩy thu hút vốn đầu

tư nước ngoài mới thực hiện thành cơng sự nghiệp cơng nghiệp hố, hiện đại

hốđất nước. Song song với việc đẩy mạnh thu hút vốn đầu tư nước ngồi thì

việc quản lý nợ vay cũng cần phải được quan tâm một cách thích hợp; Một

làđể nâng cao hiệu quả vốn vay; Hai là, giữ được nợ nước ngoài trong một tỷ

lệ tương ứng với năng lực trả nợ của đất nước. Vì thế, cần phải có sự kết hợp

đồng bộ giữa các ngành, các cấp trong việc thu hút vốn đầu tư và sử dụng nó

một cách có hiệu quả nhất.



66



3.3.2 Đối với Ngân hàng Nhà nước

Ngân hàng nhà nước nên nghiên cứu việc định tỷ giá mua bán ngoại tệ

cho phù hợp với thị trường, tránh tình trạng đồng Việt nam được đánh giá cao

hơn giá trị của nó; loại trừ các yếu tố đầu cơ nâng giá, ép giá làm tỷ giá biến

động sai với thực tế của nó; tạo điều kiện thúc đẩy hoạt động kinh doanh

ngoại tệ của các tổ chức tín dụng và khuyến khích việc xuất khẩu hàng hố

của các doanh nghiệp xuất khẩu.

Trong khi dự trữ ngoại tệ còn ít ỏi thì Ngân hàng nhà nước phải tăng

cường dự trữ ngoại tệ, đảm bảo điều tiết được quan hệ cung cầu ngoại tệ trên

thị trường, ổn định được đồng Việt nam, thực hiện mục tiêu chính sách tiền tệ.

Ngân hàng Nhà nước nên mở rộng đối tượng tham gia thị trường ngoại tệ liên

ngân hàng như Ngân hàng Trung ương, các ngân hàng thương mại, những

người môi giới… nhằm tạo cho thị trường hoạt động với tỉ giá chuẩn hơn, sát

thực tế hơn, đồng thời phát triển các nghiệp vụ trên thị trường như vay mượn

qua đêm, mua bán ngoại tệ kỳ hạn, hoán đổi ngoại tệ, quyền mua, quyền bán.

Chỉ khi thị trường ngoại tệ liên ngân hàng, thị trường hối đối phát triển mới

đảm bảo có được một tỉ giá linh hoạt hợp lý, góp phần kích thích kinh tế thị

trường phát triển, khuyến khích xuất khẩu và hạn chế nhập khẩu, góp phần

mở rộng sản xuất trong nước.

Để thực thi có hiệu quả quy chế hiện hành về quản lý ngoại hối, Ngân

hàng Nhà nước cần có những văn bản quy định trách nhiệm, kiểm tra tính

pháp lý của các chứng từ trước khi chuyển tiền ra nước ngồi thanh tốn cho

bên xuất khẩu. Vì hiện nay trong thanh tốn xuất nhập khẩu, các ngân hàng

khơng được hướng dẫn cụ thể việc kiểm tra giấy tờ pháp lý như Quyết định

thành lập doanh nghiệp, Đăng ký kinh doanh, Quyết định bố nhiệm giám đốc

của khách hàng khi phát hành thư tín dụng dẫn tới việc chấp hành quy định

này của các ngân hàng thương mại là khác nhau, vì vậy hậu quả tất yếu là sẽ

67



bị khách hàng lợi dụng để sử dụng một giấy phép nhập khẩu hoặc một hợp

đồng thương mại nhưng mang tới nhiều ngân hàng khác nhau mở thư tín dụng

với những mục đích thiếu trung thực trong kinh doanh.

Ngồi ra, Ngân hàng Nhà nước cũng cần rà soát lại các văn bản, xố bỏ tình

trạng văn bản chồng chéo, thiếu đồng bộ, không phù hợp với thực tế, nâng

cao hoạt động thanh tra và công tác quản lý của ngân hàng nhà nước, kiên

quyết sử lý những sai phạm, phối hợp với các ban ngành có liên quan và có

giải pháp đồng bộ, đặc biệt khi luật ngân hàng ra đời rồi thì cần sớm ban hành

đẩy đủ các văn bản hướng dẫn thi hành luật Ngân hàng.

3.3.3 Đối với khách hàng

Các doanh nghiệp cần củng cố, nâng cao trình độ nghiệp vụ ngoại

thương và thanh toán quốc tế. Doanh nghiệp nên bố trí đội ngũ cán bộ thơng

thạo nghiệp vụ ngoại thương, trình độ pháp lý trong thương mại quốc tế làm

công tác xuất nhập khẩu. Cụ thể, phải nắm vững nội dung chủ yếu của UCP

và các thông lệ quốc tế khác để hiểu rằng hợp đồng ngoại thương và Thư tín

dụng, chứng từ và hàng hố là độc lập với nhau. Việc nâng cao kỹ năng trong

việc lập chứng từ và kiểm tra nội dung Thư tín dụng là hết sức quan trọng.

Các doanh nghiệp nên chủ động nắm bắt thời cơ, thận trọng khi đàm phán ký

kết hợp đồng sao cho hợp đồng phải cụ thể, chính xác, rõ ràng, đầy đủ các

điều khoản, nêu rõ quyền lợi và nghĩa vụ của mỗi bên, phạm vi và đối tượng

xử lý khi có tranh chấp xảy ra, tránh những từ ngữ mập mờ, khó hiểu, gây bất

lợi sau này. Để làm được điều này, các doanh nghiệp nên thường xuyên cử

cán bộ tham gia các lớp huấn luyện về xuất nhập khẩu và thanh toán quốc tế

do các trường Đại học, các ngân hàng thương mại tổ chức. Ngồi ra, mỗi

doanh nghiệp nên có một bộ phận pháp chế hoặc sử dụng tư vấn pháp lý để

tránh được các bất đồng hoặc tranh chấp có thể xảy ra trong kinh doanh và

trong thanh tốn.

68



Nghiên cứu tìm hiểu kỹ thị trường để lựa chọn đúng bạn hàng. Trong xu

thế mở rộng giao lưu, bn bán với nước ngồi, doanh nghiệp khơng chỉ bó

hẹp trong phạm vi mối quan hệ với những bạn hàng truyền thống mà phải mở

rộng quan hệ ra bên ngồi. Tự bản thân doanh nghiệp khơng thể nắm vững

được khả năng tài chính cũng như tình hình hoạt động kinh doanh của đối tác,

thậm chí nhiều khi hợp đồng được ký kết thông qua các hoạt động quảng cáo

hoặc do khách hàng khách giới thiệu nên dễ xảy ra rủi ro. Doanh nghiệp có

thể thơng qua Phòng thương mại và cơng nghiệp Việt Nam, Trung tâm thơng

tin tín dụng thuộc Ngân hàng Nhà nước, các ngân hàng phục vụ mình, các tổ

chức của Việt Nam ở nước ngồi để nắm bắt thơng tin, tìm hiểu đối tác.

Các doanh nghiệp cũng cần trung thực trong các mối quan hệ làm ăn với

bạn hàng và với ngân hàng, tranh thủ sự tư vấn của ngân hàng. Trong quan hệ

với đối tác nước ngoài, doanh nghiệp Việt Nam cần tuân thủ theo đúng các

thông lệ quốc tế, không nên vì mối quan hệ trước mắt mà đánh mất uy tín của

bản thân doanh nghiệp và của các ngân hàng Việt Nam, ln có thái độ hợp

tác với ngân hàng trong việc tìm ra các biện pháp tháo gỡ khi có rủi ro xảy ra,

khơng nên đặt hết trách nhiệm cho ngân hàng. Từ khi ký kết hợp đồng đến khi

thanh toán cần tranh thủ sự tư vấn của ngân hàng để nắm bắt thơng tin và có

lựa chọn đúng đắn về thời gian thanh toán, tránh điều khoản bất lợi, qua đó

còn tranh thủ được sự hỗ trợ về vốn của ngân hàng.



69



KẾT LUẬN

Cùng với sự phát triển chung của nền kinh tế nước ta trong thời gian qua,

hoạt động xuất nhập khẩu cũng phát triển mạnh đóng góp vào thành cơng này

phải kể đến sự đóng góp tích cực của ngân hàng thương mại với tư cách là

trung gian thanh tốn. Thơng qua cơng tác thanh tốn quốc tế mà phương thức

chủ yếu là tín dụng chứng từ, các ngân hàng đã củng cố được niềm tin cho các

doanh nghiệp xuất nhập khẩu trong nước cũng như các bạn hàng nước ngồi.

Trong khn khổ của một luận văn, em tập trung vào một số vấn đề chủ

yếu sau:

1- Hệ thống hoá những lý luận cơ bản như: cơ sở hình thành, đặc điểm

cơ bản của hoạt động thanh tốn quốc tế nói chung và theo phương thức tín

dụng chứng từ nói riêng của một ngân hàng thương mại. Đồng thời, luận văn

cũng chú ý tới bối cảnh thực tiễn của nền kinh tế và những tác động tích cực,

tiêu cực của nó tới hoạt động trên của ngân hàng.

2- Trên cơ sở những nguyên nhân hạn chế hoạt động thanh tốn quốc tế

theo phương thức tín dụng chứng từ tại Ngân hàng OceanBank, đồng thời có

xem xét đến định hướng phát triển hoạt động kinh tế đối ngoại chung của Việt

Nam, định hướng phát triển hoạt động kinh doanh chung của Ngân hàng, em

đã mạnh dạn đề xuất một số giải pháp đối với hoạt động thanh toán quốc tế

theo phương thức tín dụng chứng từ như các giải pháp về nghiệp vụ, đẩy

mạnh hoạt động tài trợ thương mại, chú trọng công tác khách hàng, phát triển

quan hệ ngân hàng đại lý...

Ngoài ra, trên cơ sở nghiên cứu học tập và thực tiễn công tác, em cũng

mạnh dạn đề xuất một số kiến nghị với các cơ quan quản lý Nhà nước, Ngân

hàng Nhà nước và với các khách hàng của Ngân hàng nhằm tạo điều kiện cho

các ngân hàng thương mại nâng cao chất lượng hoạt động thanh tốn quốc tế

nói chung và theo phương thức tín dụng chứng từ nói riêng. Một số những

70



kiến nghị quan trọng nhất là hồn thiện cơ chế chính sách đồng bộ về hoạt

động ngân hàng, thường xuyên điều chỉnh kịp thời quy trình thanh tốn quốc

tế vì đây là nền tảng pháp lý cho hoạt động của ngân hàng.

Hoàn thiện hoạt động thanh toán quốc tế theo phương thức tín dụng

chứng từ tại Ngân hàng OceanBank đã trở thành một yêu cầu khách quan, đòi

hỏi từng cán bộ giao dịch cũng như ban lãnh đạo ngân hàng phải thường

xuyên tìm kiếm giải pháp, nghiên cứu. Trong khn khổ nhất định của luận

văn, dù thời gian nghiên cứu bị hạn chế, em hi vọng những suy nghĩ, giải

pháp của mình sẽ góp phần đưa Ngân hàng OceanBank Việt Nam đạt được

những thành tựu mới, hoạt động ngày một hiệu quả hơn, xây dựng được

thương hiệu riêng.



71



DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

1. GS.TS Đinh Trọng Thịnh, “Bài giảng Tài chính quốc tế”, NXB Tài

chính

2. PGS. TS Nguyễn Văn Tiến, “Giáo trình thanh toán quốc tế” , NXB

Thống kê

3. GS. TS Lê Văn Tư, “Nghiệp vụ ngân hàng thương mại quốc tế”, NXB

thống kê

4. PGS. TS Lê Văn Tề, chủ biên, “Nghiệp vụ ngân hàng thương mại”,

NXB thống kê

5. Tập quán ngân hàng tiêu chuẩn quốc tế (ISBP) dùng kiểm tra chứng từ

trong phương thức thanh tốn tín dụng chứng từ, NXB Lao động- Xã

hội

6. GS.TS Hồng Văn Châu, TH.S Tơ Bình Minh “Incoterms 2000”, giải

thích và hướng dẫn sử dụng , NXB khoa học kỹ thuật.

7. Báo cáo kết quả kinh doanh của Sở giao dịch ngân hàng OceanBank

Việt Nam

8. Trang web của Ngân hàng OceanBank Việt Nam.



72



73



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

3 ĐỀ XUẤT KIẾN NGHỊ

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×
x