Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
3 ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG THANH TOÁN QUỐC TẾ THEO PHƯƠNG THỨC TÍN DỤNG CHỨNG TỪTẠI SỞ GIAO DỊCH NGÂN HÀNG OCEANBANK VIỆT NAM

3 ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG THANH TOÁN QUỐC TẾ THEO PHƯƠNG THỨC TÍN DỤNG CHỨNG TỪTẠI SỞ GIAO DỊCH NGÂN HÀNG OCEANBANK VIỆT NAM

Tải bản đầy đủ - 0trang

nhiều năm qua, uy tín của Ngân hàng OceanBank nói chung và uy tín trong

hoạt động thanh tốn quốc tế nói riêng đãđược cơng nhận rộng rãi. Thực tế về

tổng kết cơng tác thanh tốn quốc tế của Ngân hàng, kể từ khi áp dụng hình

thức chiết khấu chứng từ đến nay phần lớn các trường hợp Ngân hàng chiết

khấu đều được ngân hàng nước ngồi thanh tốn.

Ngồi ra, Sở Giao dịch Ngân hàng OceanBank Việt Nam luôn luôn thực

hiện đúng những nghĩa vụ mà mình cam kết, phù hợp với luật pháp Việt Nam

và các thông lệ quốc tế. Trình độ cán bộ được nâng lên rất nhiều cả về mặt

nghiệp vụ, ngoại ngữ, tin học, phong cách giao dịch, ý thức chấp hành pháp

luật và các thông lệ quốc tế, có khả năng xử lý các loại hình thư tín dụng đòi

hỏi trình độ cao như thư tín dụng dự phòng, thư tín dụng xác nhận, thư tín

dụng giáp lưng, thư tín dụng chuyển nhượng… Các cán bộ cũng đã cóđược

những bài học kinh nghiệm quý báu để xử lý những bộ chứng từ xuất khẩu

một cách hoàn hảo, trong đó có cả những bộ xuất trình đến những nước bị

cấm vận, có kinh nghiệm giải quyết những tranh chấp, khiếu kiện trong q

trình thanh tốn thư tín dụng với nước ngồi.

Ngân hàng còn xúc tiến tăng cường mối quan hệ đại lý với các Ngân

hàng trên thế giới, do vậy, quan hệ thanh toán được mở rộng. Mạng lưới Ngân

hàng rộng khắp đã tạo điều kiện thuận lợi cho cơng tác thanh tốn của Ngân

hàng. Điều đó chứng tỏ uy tín của ngân hàng ngày càng được nâng lên trên

thị trường quốc tế và trong lòng khách hàng. Chính điều đó đã giúp ngân hàng

từng bước thâm nhập thị trường quốc , từng bước mở rộng nghiệp vụ Thanh

tốn quốc tế nói chung và nghiệp vụ Thanh tốn quốc tế theo phương thức tín

dụng chứng từ nói riêng.

Thơng qua phát triển phương thức thanh tốn tín dụng chứng từ, trình độ

quản lý, điều hành cũng được nâng lên. Ngân hàng OceanBank đã ban hành,

40



bổ sung, chỉnh sửa cơ bản các cơ chế, quy chế, quy trình liên quan đến thanh

tốn thư tín dụng xuất nhập khẩu để đảm bảo thực hiện nghiệp vụ chính xác,

bảo đảm quyền lợi cho khách hàng, hạn chế rủi ro cho ngân hàng, là nhân tố

quan trọng nâng cao uy tín của Ngân hàng OceanBank Việt Nam.

b)



Đối với khách hàng và nền kinh tế.



Tài trợ thơng qua các nghiệp vụ thanh tốn thư tín dụng giúp cho q

trình thực hiện thanh tốn của khách hàng được thông suốt, trôi chảy. Hoạt

động thanh toán quốc tế của Ngân hàng OceanBank Việt Nam từng bước

chiếm lĩnh thị trường phục vụ cho các hoạt động kinh doanh xuất nhập khẩu.

Ngân hàng OceanBankViệt Nam chú trọng tới công tác tư vấn khách hàng

trong các giao dịch mua bán quốc tế. Nhiều khách hàng đến với Sở Giao dịch

do tin tưởng sự phục vụ của ngân hàng, nhờ ngân hàng tư vấn chọn phương

thức thanh tốn thích hợp. Ví dụ với những trường hợp bắt buộc phải mở thư

tín dụng xác nhận, Sở Giao dịch đã tư vấn cho khách hàng các ngân hàng xác

nhận với mức phí xác nhận thấp, giúp giảm chi phí cho khách hàng.

Bên cạnh đó, để nâng cao chất lượng thanh tốn xuất khẩu, tránh rủi ro

cho khách hàng, công tác kiểm tra chứng từ được thực hiện bắt buộc qua

nhiều người trước khi gửi đi nước ngoài. Phục vụ khách hàng ngày một tốt

hơn, tranh thủ sự tín nhiệm của khách hàng, Ngân hàng OceanBankViệt Nam

còn thường xuyên tài trợ mức phí thấp cho các đơn vị thu mua hàng xuất

khẩu, đặc biệt là hàng nông sản như gạo, vừa đảm bảo chính sách khuyến

nơng của Nhà nước, vừa tạo điều kiện để cạnh tranh trên thị trường.

Tóm lại, những kết quả đạt được trong hoạt động thanh toán quốc tế theo

phương thức tín dụng chứng từ tại Ngân hàng OceanBank Việt Nam là đáng

khích lệ, góp phần quan trọng vào cơng cuộc đổi mới ngành ngân hàng nói

riêng và nền kinh tế nói chung, phục vụ đắc lực cho chiến lược phát triển kinh

tế của Việt Nam trong giai đoạn hiện nay. Đối Ngân hàng OceanBank Việt

41



Nam, dịch vụ này góp phần tăng lợi nhuận, tăng cường sức mạnh tài chính và

tạo thêm thu nhập cho nhân viên ngân hàng.

Tuy vậy hoạt động thanh toán quốc tế theo phương thức tín dụng chứng

từ của Ngân hàng OceanBankViệt Nam vẫn khơng tránh khỏi những hạn chế

bất cập. Việc nghiên cứu chỉ ra những hạn chế đó và tìm ra ngun nhân là hết

sức quan trọng để có thể hồn thiện hoạt động thanh tốn quốc tế theo phương

thức tín dụng chứng từ tại Ngân hàng OceanBank Việt Nam.

2.3.2 Một số hạn chế và nguyên nhân

a) Một số hạn chế

Một là: Các hình thức thanh tốn bằng thư tín dụng chưa đa dạng

Đối với hàng xuất, việc chiết khấu miễn truy đòi hầu như khơng thực

hiện, mặc dù có những bộ chứng từ bản thân ngân hàng cũng đánh giá là sạch

và uy tín của khách hàng là lớn. Điều này gây phiền hà, khơng hài lòng cho

khách hàng, giảm lòng tin của khách hàng đối với Ngân hàng OceanBank Việt

Nam .Đối với hàng nhập, Ngân hàng chủ yếu mở thư tín dụng theo hình thức

khơng hủy ngang, có thể có thêm xác nhận hoặc có khả năng chuyển nhượng

hoặc thư tín dụng dự phòng Bên cạnh đó, có một số thư tín dụng giáp lưng

được mở nhưng số lượng rất hạn chế, mặc dù thư tín dụng xuất khẩu có thể

xuất trình ngay tại chính Ngân hàng.\

Hai là: Sản phẩm dịch vụ còn chưa đa dạng và chưa có tính cạnh tranh

Ngân hàng OceanBank chưa có bộ phận nghiên cứu sản phẩm mới

chuyên biệt, các sản phẩm chưa thực sự cụ thể và thiết thực với thị trường

hiện tại và khách hàng mục tiêu.

Sản phẩm dịch vụ còn ít đa dạng, phụ thuộc cơ bản vào q trình ứng

dụng cơng nghệ thông tin dẫn đến việc bị cạnh tranh về dịch vụ với nhiều

ngân hàng trong nước.

Ba là: Tốc độ chu chuyển thanh tốn còn chậm

42



Thời gian kiểm tra và xử lý chứng từ thanh toán tại Ngân hàng

OceanBank Việt Nam còn chậm, qua nhiều khâu trung gian, mất thời gian

(như qua văn thư, qua phòng thanh tốn quốc tế…). Để một thư tín dụng

chính thức được phát hành ra nước ngoài, cần phải qua các khâu như xem xét

cho vay (đối với thư tín dụng mở bằng vốn vay), mua ngoại tệ (đối với thư tín

dụng ký quỹ) hay trình duyệt mở miễn ký quỹ (đối với thư tín dụng miễn ký

quỹ), sau đó phòng thanh tốn nhập khẩu mở thư tín dụng (thư tín dụng này

do kiểm sốt viên mở, qua kiểm soát viên kiểm soát rồi chuyển lên phụ trách

phòng kiểm tra lại và duyệt điện), cuối cùng là lên trung tâm thanh toán để

đẩy điện ra nước ngồi. Chỉ cần một khâu ùn tắc là thư tín dụng của khách

hàng sẽ bị phát hành chậm.

Công tác theo dõi ngân hàng nước ngoài trả tiền chưa cập nhật và hạch

tốn cũng còn chậm, qua nhiều phòng ban liên quan, điều đó làm cho tốc độ

thanh tốn bị chậm lại, giảm hiệu quả kinh doanh của khách hàng và ngân

hàng.

Bốn là: Mất cân đối trong thanh tốn thư tín dụng xuất và nhập khẩu

Trong nhiều trường hợp, việc thiếu hụt ngoại tệ để thanh tốn thư tín

dụng nhập khẩu có giá trị lớn, dẫn đến tình trạng một số thư tín dụng này bị

thanh tốn chậm và bị nước ngồi đòi lãi phạt trả chậm. Hoặc cũng có tình

trạng Ngân phải từ chối khách hàng mở thư tín dụng thanh tốn cho nước

ngồi vì đơn giản thiếu ngoại tệ để thanh toán. Nguồn thu ngoại tệ từ hoạt

động huy động và hàng xuất khơng đủ hoặc q ít, khơng có khả năng đáp

ứng được nhu cầu ngoại tệ cho hàng nhập.

Năm là: Mạng lưới ngân hàng đại lý chưa thực sự mở rộng

Mạng lưới ngân hàng đại lý của Ngân hàng OceanBank mặc dù đã mở

rộng hơn trong những năm qua nhưng vẫn là nhỏ bé so với vị thế và tiềm

năng của ngân hàng. Việc thanh toán cho ngân hàng nước ngoài hay nhận tiền

43



về vẫn phải qua một, hai ngân hàng trung gian, tốn thời gian và phí ngân

hàng.

Sáu là: Còn tiểm ẩn nhiều rủi ro trong hoạt động thanh tốn quốc tế

theo hình thức tín dụng chứng từ.

Trong thực tiễn thực hiện nghiệp vụ thanh toán xuất khẩu bằng L/C,

thanh toán viên ngân hàng đã gặp khơng ít trường hợp khơng thực hiện đúng

thời hạn kiểm tra chứng từ hoặc buộc phải từ chối không thanh toán cho

khách, lý do là người xuất khẩu tuy đã được nhắc nhở song vẫn không nộp

chứng từ kịp thời. Chứng từ khách hàng lập còn nhiều sai sót, khả năng kiểm

sốt của Sở giao dịch chưa cao, khơng tn thủ những điều kiện và điều

khoản quy định trong thư tín dụng.

Trong phương thức tín dụng chứng từ thì chứng từ phù hợp có ý nghĩa

quyết định. Điều đó liên quan đến trách nhiệm phải trả tiền của ngân hàng mở

hoặc miễn trách nếu chứng từ có sai sót. Thực tế cho thấy phần lớn các chứng

từ hàng xuất của các doanh nghiệp nước ta nói chung, doanh nghiệp xuất trình

qua Ngân hàng OceanBank Việt Nam nói riêng đều có sai sót, vì vậy khả

năng bị ngân hàng nước ngồi từ chối còn cao.

b) Nguyên nhân

(1) Nguyên nhân chủ quan

-Văn bản quy định quy trình thực hiện nghiệp vụ còn bất cập: Nhiều quy

định còn chung chung, khơng cụ thể nên nhiều trường hợp, cán bộ thanh tốn

khơng có cơ sở để giải quyết cơng việc. Ví dụ về chiết khấu chứng từ, quy trình

nghiệp vụ chỉ quy định: “khi chứng từ phù hợp, ngân hàng đại lý có uy tín,

khách hàng có tín nhiệm cam kết hồn trả…”. Những quy định này rất trừu

tượng, khơng có chỉ tiêu cụ thể nên để đáp ứng yêu cầu của khách hàng, Ngân

hàng phải chiết khấu bộ chứng từ cho họ nhưng rủi ro gặp phải là rất lớn.



44



Bên cạnh đó, việc đúc kết kinh nghiệm là hết sức cần thiết. Mặc dù đã có

những thơng lệ quốc tế nhưng thực tế giao dịch hàng ngày rất đa dạng, phát

sinh nhều trường hợp đặc biệt mà các thông lệ quốc tế không thể đề cập hết.

Tuy nhiên tại Sở Giao dịch chưa có sự ghi nhận lại những kinh nghiệm thực

tiễn đó bằng văn bản để làm tài liệu nội bộ, đào tạo nâng cao chuyên môn

nghiệp vụ cho cán bộ. Việc truyền kinh nghiệm chủ yếu là truyền miệng, cho

từng cán bộ riêng lẻ khi phát sinh nghiệp vụ liên quan, chính vì vậy vẫn có

trường hợp lặp lại những lỗi đã gặp phải.

-Việc phối hợp giữa các phòng ban chưa nhịp nhàng cũng là một yếu tố

gây nên những hạn chế trong hoạt động thanh toán quốc tế theo phương thức

tín dụng chứng từ tại Ngân hàng OceanBankViệt Nam. Việc tổ chức các

phòng ban dựa trên cơ sở nghiệp vụ cơ bản như thanh toán xuất khẩu, thanh

toán nhập khẩu, tín dụng… Giữa các phòng ban lại chưa có sự liên kết và chỉ

đạo thống nhất một cách chặt chẽ để trao đổi thơng tin, đa dạng hố sản phẩm

dịch vụ nhằm đáp ứng tốt hơn nhu cầu của khách hàng. Như vậy họ phải làm

việc với nhiều phòng ban trong một lần giao dịch, gây mất thời gian và tốn

chi phí cho khách hàng.

Phòng thanh tốn xuất khẩu và thanh tốn nhập khẩu cũng chưa có sự

phối hợp chặt chẽ mặc dù nghiệp vụ có liên quan mật thiết với nhau. Đặc biệt

trong trường hợp mở thư tín dụng đối khai hay thư tín dụng giáp lưng, sự hợp

tác chưa ăn khớp đôi khi gây ra những thiệt hại, gây khó khăn cho khách hàng

cũng như bản thân ngân hàng.

-Mạng lưới ngân hàng đại lý của Ngân hàng OceanBank mặc dù đã mở

rộng hơn trong những năm qua nhưng vẫn là nhỏ bé so với vị thế và tiềm năng

của ngân hàng. Việc thanh toán cho ngân hàng nước ngoài hay nhận tiền về vẫn

phải qua một, hai ngân hàng trung gian, tốn thời gian và phí ngân hàng.



45



-Cơng tác thẩm định khi mở thư tín dụng cũng như khi quyết định chiết

khấu một bộ chứng từ chưa được tiến hành một cách khoa học và cẩn thận.

Trừ trường hợp khách hàng sử dụng vốn vay để mở thư tín dụng, còn lại việc

thẩm định đối với từng hợp đồng ngoại thương khi tiến hành mở thư tín dụng

hầu như không được thực hiện. Ngân hàng OceanBank chủ yếu thực hiện theo

hình thức hàng năm cung cấp cho khách hàng một hạn mức mở thư tín dụng

miễn ký quỹ hoặc hạn mức chiết khấu truy đòi do hội đồng tín dụng ra quyết

định, dựa trên tình hình kinh doanh và uy tín thanh tốn của đơn vị. Chính vì

vậy rất nhiều trường hợp có những hợp đồng ngoại thương an tồn, có lợi

nhưng chỉ vì vượt hạn mức cho phép mà Sở Giao dịch từ chối mở thư tín

dụng hay từ chối chiết khấu bộ chứng từ cho khách hàng dù bộ chứng từ là

sạch. Ngược lại, có trường hợp Ngân hàng mở thư tín dụng miễn ký quỹ cho

khách vẫn trong hạn mức cho phép, nhưng khi có biến động về giá hàng hố,

khách hàng gây khó khăn, chậm trễ thanh toán khi bộ chứng từ về, làm mất

uy tín của Sở Giao dịch.

Đặc biệt đối với những thư tín dụng trả chậm nhập khẩu máy móc thiết

bị, dây chuyền sản xuất thì việc thẩm định là vơ cùng quan trọng nhằm giảm

thiểu rủi ro cho ngân hàng. Thực tế trong thời gian qua tại Ngân hàng

OceanBank Việt Nam rất nhiều trường hợp thẩm định dự án còn sơ sài, thẩm

định dự án lại không chỉ rõ được những rủi ro có thể xảy ra của dự án.

Nguyên nhân có thể do thiếu thơng tin, thời gian thẩm định ngắn, nhưng

nhiều khi vì muốn duy trì quan hệ với khách hàng truyền thống mà Sở giao

dịch bỏ qua những bước quan trọng trong q trình thẩm định. Có thể nói chất

lượng thẩm định chưa cao là nguyên nhân chính dẫn đến những rủi ro trong

nghiệp vụ bảo lãnh phát hành thư tín dụng trả chậm của Ngân hàng.

Với những khách hàng mới chưa có hạn mức miễn ký quỹ mở thư tín

dụng, Ngân hàng khơng có bước thẩm định khách hàng và giao dịch ngoại

46



thương của khách mà luôn yêu cầu khách phải ký quỹ 100% hoặc phải qua

phòng Tín dụng vay vốn . Điều này tạo khơng ít khó khăn cho những khách

hàng là những cơng ty nhỏ và cũng là một hạn chế khiến cho lượng khách

hàng này không đến với Ngân hàng. Trong cơ chế mở cửa khuyến khích ngoại

thương hiện nay, bộ phận khách hàng này là không nhỏ, với một cơ chế cứng

nhắc như vậy, Ngân hàng đã tự đánh mất lợi thế của mình, bỏ ngỏ một mảng

thị trường có thể mang lại lượng phí dịch vụđang kể.

-Trình độ cán bộ của Ngân hàng OceanBank Việt Nam còn nhiều hạn

chế: Sở giao dịch Ngân hàng OceanBankViệt Nam, mặc dù đã có một đội ngũ

cán bộ làm cơng tác thanh tốn quốc tế có uy tín trong hệ thống các ngân

hàng thương mại cả nước nhưng bên cạnh đó vẫn còn những cán bộ thiếu kiến

thức cần thiết để thực hiện công việc khó khăn quốc tế, nên có những cán bộ

khơng tránh khỏi tính ỷ lại, chưa chịu khó tìm hiểu nghiệp vụ mới, đặc biệt là

các nghiệp vụ liên quan đến môi trường quốc tế, thiếu tự tin trong việc tiếp

xúc và tư vấn cho khách hàng. Khả năng giao dịch trực tiếp qua điện thoại đối

với đối tác nước ngoài thì khơng nhiều nhân viên có thể thực hiện được.

(2) Ngun nhân khách quan.

-Các văn bản, chính sách vĩ mơ của Nhà nước còn thiếu ổn định, thường

xuyên bị điều chỉnh. Như chính sách thương mại, Chính phủ và các bộ ngành

có liên quan thường xuyên có những thay đổi về danh mục các mặt hàng được

phép xuất nhập khẩu, biểu thuế áp dụng đối với từng mặt hàng, điều kiện để

doanh nghiệp đươc phép hoạt động xuất nhập khẩu, song thời gian kể từ khi

ra quyết định đến khi quyết định có hiệu lực thi hành thường là ngắn, khơng

đủđể các doanh nghiệp dự tính sắp xếp kế hoạch cho hoạt động sản xuất kinh

doanh của mình. Có những mặt hàng trước kia cho phép nhập khẩu, song do

tình trạng hàng nhập về quá nhiều, ảnh hưởng đến sản xuất trong nước nên

Chính phủ lại cấm nhập khẩu làm cho các doanh nghiệp rất khó khăn trong

47



hướng giải quyết vì đã làm thủ tục mở thư tín dụng nhập khẩu, có nghĩa vụ

phải thanh tốn khi người bán giao hàng và xuất trình bộ chứng từ hồn hảo.

Trong hoạt động xuất nhập khẩu các thủ tục hành chính còn rườm rà,

chưa có sự liên kết phối hợp giữa các ban ngành, các quy định còn chồng

chéo gây phiền tối cho khách hàng, tốn kém thời gian và chi phí. Chính phủ

cũng chưa xác định rõ trách nhiệm và quyền lợi của ngân hàng khi tham gia

hoạt động xuất nhập khẩu. Ngồi ra, quy định về mở thư tín dụng trả chậm

chưa rõ ràng, nhiều doanh nghiệp coi đây như là một hình thức tài trợ vốn vay

dài hạn, tranh thủ nguồn vay của nước ngồi mở thư tín dụng trả chậm tràn

lan, tiền hàng thu được lại quay vòng khiến cho đến khi thư tín dụng khơng

thanh tốn được dẫn đến ngân hàng phải đứng ra trả thay.

Tỷ giá hối đối khơng ổn định, thị trường ngoại hối chưa phát triển dẫn

đến những cơn sốt về ngoại tệ, khan hiếm nguồn ngoại tệ phục vụ thanh tốn

thư tín dụng nhập khẩu, nhất là thư tín dụng trả chậm khiến doanh nghiệp

thiệt thòi, giảm hiệu quả kinh doanh và gây khó khăn cho ngân hàng trong

việc giục khách hàng thanh tốn.

-Tình trạng cán cân thanh tốn Việt Nam ln thâm hụt cũng làm ảnh

hưởng tới hoạt động thanh toán quốc tế nói chung và theo phương thức tín

dụng chứng từ nói riêng. Đây là nguyên nhân trực tiếp gây ra tình trạng mất

cân đối giữa thanh tốn xuất khẩu và thanh toán nhập khẩu tại các ngân hàng.

Cán cân thanh toán quốc tế thâm hụt cũng dẫn đến mất cân đối giữa cung và

cầu ngoại tệ, ảnh hưởng tới khả năng chi trả ngoại hối của các ngân hàng

thương mại, do vậy ảnh hưởng tới việc đáp ứng nhu cầu về nguồn ngoại tệ

phục vụ thanh toán cho đối tác nước ngoài.

-Sự cạnh tranh gay gắt giữa các ngân hàng thương mại trong nước và

các ngân hàng nước ngoài hoạt động tại Việt Nam cũng là một trong những

yếu tố chính làm cho thị phần này. Cán bộ thanh tốn thư tín dụng còn thiếu

48



những hiểu biết về luật pháp và những thơng lệ quốc tế cũng như trình độ

ngoại ngữ còn hạn chế. Vì thế, họ thiếu đi khả năng tư vấn cho khách hàng,

công tác tiếp thị thu hút khách hàng chưa được chú trọng. Nhận thức của một

số cán bộ nghiệp vụ khi thực hiện các nghiệp vụ thư tín dụng chỉ coi đó như

là một phương thức thanh tốn nhằm thu phí mà chưa đánh giá đúng mức tầm

quan trọng của phương thức này với tư cách là công cụ quan trọng để tài trợ

thương mại. Vì là ngân hàng thương mại đầu tiên và độc quyền trong một thời

gian dài thực hiện nghiệp vụ thanh tốn

thanh tốn quốc tế nói riêng và theo phương thức tín dụng chứng từ nói

chung của Ngân hàng OceanBank Việt Nam bị chia xẻ. Hiện nay trên địa bàn

Hà Nội có tới gần 100 ngân hàng hoạt động kinh doanh, cùng với những hình

thức cạnh tranh như áp dụng chế độ cho vay tài trợ xuất nhập khẩu rất thoáng

với thủ tục đơn giản, tốc độ giải ngân nhanh, ưu tiên trong mua bán ngoại tệ,

áp dụng tỉ lệ phí thấp gây ra khó khăn trong việc cạnh tranh và thu hút khách

hàng của ngân hàng OceanBank.

-Bất cập trong kiến thức ngoại thương, hành vi đạo đức của khách hàng

cũng là một trong những nguyên nhân làm hạn chế sự phát triển phương thức

tín dụng chứng từ tại OceanBank Việt Nam. Bước ra từ nền kinh tế tập trung

quan liêu bao cấp, kinh nghiệm và sự am hiểu về thông lệ và tập quán quốc tế

trong kinh doanh còn hạn chế dẫn đến việc các doanh nghiệp Việt Nam không

tránh khỏi những sơ hở khi ký kết hợp đồng ngoại thương, khơng đề phòng

rủi ro đểđến khi xảy ra vụ việc phải gánh chiụ thiệt thòi. Trong khi đó, thực

lực tài chính của các đơn vị còn q yếu kém nên hoạt động kinh doanh chủ

yếu lại dựa vào vốn vay của ngân hàng. Do vậy khi doanh nghiệp Việt Nam bị

nước ngoài lừa đảo, thua lỗ sẽ liên quan trực tiếp đến chất lượng hoạt động tín

dụng và hoạt động thanh toán quốc tế của ngân hàng.



49



Trên đây là những nét khái quát về hoạt động thanh toán quốc tế theo

phương thức tín dụng chứng từ tại Sở giao dịch Ngân hàng OceanBankViệt

Nam trong thời gian qua, cùng với những kết quả đã đạt được cũng như

nhưng hạn chế còn tồn tại và nguyên nhân. Phát triển hoạt động này được coi

là một mặt không thể thiếu được trong hoạt động kinh doanh của Sở Giao

dịch, nó bổ sung và hỗ trợ cho các mặt hoạt động kinh doanh khác của ngân

hàng như mở rộng hoạt động tín dụng tài trợ xuất nhập khẩu, giúp đỡ các

doanh nghiệp nước ta trong vấn đề vốn, hội nhập vào nền kinh tế tồn cầu để

cuối cùng thu được phí dịch vụ từ hoạt động thanh tốn này ngày càng nhiều

hơn. Chính vì vậy việc nghiên cứu để đề ra những giải pháp và kiến nghị

nhằm hồn hiện hoạt động thanh tốn quốc tế theo phương thức tín dụng

chứng từ tại Ngân hàng OceanBank Việt Nam là điều cần thiết.



50



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

3 ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG THANH TOÁN QUỐC TẾ THEO PHƯƠNG THỨC TÍN DỤNG CHỨNG TỪTẠI SỞ GIAO DỊCH NGÂN HÀNG OCEANBANK VIỆT NAM

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×