Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
2 TÍN DỤNG CHỨNG TỪ- PHƯƠNG THỨC CHỦ YẾU TRONG THANH TOÁN QUỐC TẾ CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI

2 TÍN DỤNG CHỨNG TỪ- PHƯƠNG THỨC CHỦ YẾU TRONG THANH TOÁN QUỐC TẾ CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI

Tải bản đầy đủ - 0trang

phát hành đại diện, do đó tiếng nói chính thức của nhà nhập khẩu không được

thể hiện trong L/C

-L/C độc lập với hợp đồng cơ sở và hàng hóa

Về bản chất, L/C là một giao dịch hoàn toàn độc lập với hợp đồng ngoại

thương hoặc hợp đồng khác mà hợp đồng này là cơ sở để hình thành giao dịch

L/C. Trong mọi trường hợp, ngân hàng không liên quan đến hoặc bị ràng buộc

vào hợp đồng như vậy ngay cả khi L/C có bất cứ dẫn chiếu nào đến hợp đồng

này.

Khi L/C đã được mở và đã được các bên chấp nhận thì dù nội dung của

L/C có đúng với hợp đồng ngoại thương hay không cũng không làm thay đổi

quyền lợi và nghĩa vụ của các bên có liên quan đến L/C.

- L/C chỉ giao dịch bằng chứng từ và thanh toán chỉ căn cứ vào chứng

từ

Các chứng từ trong giao dịch L/C có tầm quan trọng đặc biệt vì nó là

bằng chứng về việc giao hàng của người bán, là đại diện cho giá trị hàng hóa

đã được giao, do dó chúng trở thành căn cứ để ngân hàng trả tiền và là căn cứ

cho nhà nhập khẩu hoàn trả tiền cho ngân hàng, là chứng từ đi nhận hàng của

nhà nhập khẩu. Việc nhà xuất khẩu có thu được tiền hay không phụ thuộc duy

nhất vào xuất trình chứng từ có phù hợp, đồng thời ngân hàng cũng chỉ trả

tiền khi xuất trình bộ chứng từ phù hợp.

- L/C tuân thủ chặt chẽ yêu cầu của bộ chứng từ

Vì giao dịch chỉ bằng chứng từ và căn cứ vào chứng từ nên yêu cầu tuân

thủ chặt chẽ của chứng từ là nguyên tắc cơ bản của giao dịch L/C. Để được

thanh toán, người xuất khẩu phải lập được bộ chứng từ phù hợp, tuân thủ chặt

chẽ các điều khoản và điều kiện của L/C, bao gồm số loại, số lượng mỗi loại

và nội dung chứng từ phải đạp ứng được chức năng của chứng từ yêu cầu.



14



- L/C là cơng cụ thanh tốn, hạn chế rủi ro nhưng cũng có thể được sử

dụng như cơng cụ từ chối thanh tốn và lừa đảo.

L/C có ưu điểm vượt trội so với các phương thức thanh toán khác trong

việc thanh toán, hạn chế rủi ro cho nhà xuất khẩu và nhà nhập khẩu. Tuy

nhiên, do sự tách rời giữa L/C và hợp đồng kinh doanh mà trong thực tiễn

thương mại quốc tế L/C có thể bị lạm dụng để trở thành công cụ để từ chối

nhận hàng và từ chối thanh tốn hoặc trở thành cơng cự để gian lận, lừa đảo

1.2.4 Phân loại L/C

1.2.4.1 Các loại L/C cơ bản:

- Thư tín dụng có thể huỷ ngang (Revocable L/C): là L/C mà người

mở( nhà nhập khẩu) có quyền đề nghị Ngân hàng phát hành sửa đổi bổ sung

hoặc hủy bỏ bất cứ lúc nào mà khơng cần có sự chấp thuận và thông báo

trước của người thụ hưởng ( nhà xuất khẩu)

- Thư tín dụng khơng thể huỷ ngang (Irrevocable L/C): là loại Thư tín

dụng mà sau khi đã mở thì Ngân hàng phát hành khơng được sửa đổi bổ sung

hay hủy bỏ trong thời gian hiệu lực của L/C nếu khong có sự đồng thuận của

người thụ hưởng và Ngân hàng xác nhận.

- Thư tín dụng khơng thể huỷ ngang có xác nhận (Irrevocable confirmed

L/C): là loại Thư tín dụng khơng thể huỷ ngang được một ngân hàng thứ ba

đứng ra đảm bảo thanh toán bên cạnh ngân hàng phát hành Thư tín dụng.



15



1.2.4.2 Các loại L/C đặc biệt:

- Thư tín dụng có thể chuyển nhượng ( transferable L/C): là loại Thư tín

dụng khơng huỷ ngang trong đó người hưởng lợi thứ nhất chuyển nhương một

phần hoặc toàn bộ nghĩa vụ thực hiện L/C cũng như quyền đòi tiền mà mình

có được cho những người hưởng lợi thứ hai, mỗi người hưởng lợi thứ hai

nhận cho mình một phần của thương vụ

- Thư tín dụng giáp lưng (Back to back L/C): là loại Thư tín dụng cho

phép sau khi nhận được L/C do bên Nhập khẩu mở, bên Xuất khẩu căn cứ vào

nội dung L/C và dùng chính L/C này để thế chấp, mở một L/C khác cho

người hưởng với nội dung gần giống L/C ban đầu.

- Thư tín dụng tuần hồn (Revolving L/C): là loại Thư tín dụng không

thể huỷ ngang, sau khi sử dụng xong hoặc đã hết hiệu lực thì nó lại tự động có

giá trị như cũ và cứ như vậy nó tuần hồn cho đến khi nào tổng giá trị được

thực hiện hoàn tất. Thư tín dụng tuần hồn thường được sử dụng khi các bên

tin cậy lẫn nhau, mua hàng thường xuyên theo định kỳ.

- Thư tín dụng đối ứng (Reciprocal L/C): là loại Thư tín dụng chỉ có hiệu

lực khi có một Thư tín dụng đối ứng với nó cũng được mở.

-Thư tín dụng dự phòng: là L/C do Ngân hàng phục vụ nhà xuất khẩu

phát hành để cam kết trả tiền đã đặt cọc, tiền ứng trước và chi phí mở L/C cho

nhà nhập khẩu.

- Thư tín dụng điều khoản đỏ (Red clause L/C): là loại Thư tín dụng

cóđiều khoản đặc biệt, trong đó người hưởng Thư tín dụng thơng qua ngân

hàng phát hànhmà Ngân hàng phát hành cho phép ngân hàng thông báo ưng

trước cho người thụ hưởng để mua hàng hóa, nguyên liệu phục vụ sản xuát

hàng hóa như L/C đã mở.



16



1.2.5 Trình tự tiến hành



(3)

Ngân hàng

phát hành



(2)



Ngân hàng

thông báo



(7)



(8)



Người yêu cầu

mở L/C



(6)

(5)



(4)



Người thụ

hưởng



(1)

(1) Bên Nhập khẩu và bên Xuất khẩu kí kết hợp đồng

(2) Bên Nhập khẩu căn cứ vào hợp đồng thương mại lập đơn xin mở L/C

tại Ngân hàng phục vụ mình

(3) Ngân hàng phát hành kiểm tra chứng từ, thông báo và giao chứng từ

cho Ngân hàng thông báo

(4) Ngân hàng thông báo sẽ thông báo và giao chứng từ cho người thụ

hưởng

(5) Người thụ hưởng sau khi kiểm tra thấy chứng từ hợp lệ thì sẽ giao

hàng và lập bộ chứng từ thanh toán

(6) Người thụ hưởng giao bộ chứng từ thanh toán cho Ngân hàng thông

báo

(7) Ngân hàng thông báo sẽ chuyển bộ chứng từ đến cho Ngân hàng phát

hành

(8) Ngân hàng kiểm tra bộ chứng từ và thông báo cho bên Nhập khẩu trả

tiền để nhận bộ chứng từ đi lấy hàng



17



1.2.6Ưu nhược điểm của phương thức L/C

1.2.6.1 Ưu điểm

- Đối với người mua: do hầu hết chứng từ được Ngân hàng kiểm tra và

chịu trách nhiệm nên người mua có thể mở rộng nguồn thu mua hàng hóa mà

khơng phải tốn quá nhiều thời gian vào việc tìm đối tác tin cậy và uy tín.

Người mua được đảm bảo rằng bên bán giao hàng thì mới trả tiền. Ngồi ra

các khoản kí quỹ được hưởng lãi

- Đối với người bán: Được đảm bảo thanh toán với bộ chứng từ hợp lệ,

do đó nhà Xuất khẩu có thể thu hồi vốn nhanh, không bị ứ đọng vốn.

- Đối với Ngân hàng: thu được một khoản phí theo giá trị hợp đồng, thu

hút được một khoản tiền lớn khi ký quỹ. Ngân hàng còn thực hiện được một

số nghiệp vụ: bảo lãnh, cho vay Xuất khẩu,… Đồng thời uy tín của ngân hàng

sẽ được mở rộng và củng cố trên thị trường quốc tế.

1.2.6.2 Nhược điểm

- Trong phương thức này cũng chứa đựng những điều bất lợi cho cả bên

mua và bên bán như bên mua sẽ phải thanh toán dù hàng tốt hay xấu vì Ngân

hàng chỉ có trách nhiệm tính chân thực bề ngoài của bộ chứng từ, bên bán đôi

khi do điều kiện khắt khe của chứng từ nên việc thanh tốn có thể bị trì hỗn,

thậm chí bị từ chối

- Quy trình thanh tốn tỉ mỉ, máy móc nên các bên tham gia phải cẩn

trọng trong việc lập và kiểm tra chứng từ. Chỉ cần một sai sót nhỏ cũng có thể

là nguyen nhân của từ chối thanh tốn. Đối với ngân hàng phát hành, việc sai

sót trong kiểm tra chứng từ gây ra hậu quả lớn đặc biệt là mất uy tín với

khách hàng.

- Phương thức thanh toán này đem lại nhiều rủi ro cho ngân hàng nhất.

Ngân hàng có trách nhiệm kiểm tra bề ngồi của bộ chứng từ trong thời hạn

quy định do người Xuất khẩu gửi đến, nếu xét thấy các chứng từ phù hợp với

18



các quy định do người Xuất khẩu gửi đến , nếu xét thấy các chứng từ phù hợp

với các quy định trong L/C và không mâu thuẫn với nhau thì phải trả cho

người Xuất khẩu và đòi tiền người Nhập khẩu, ngược lại thì từ chối thanh

tốn. Nếu kiểm tra không kĩ, người Nhập khẩu khi kiểm tra lại bộ chứng từ

thấy khơng hợp lệ thì có thể từ chối thanh toán lại cho Ngân hàng.

1.3 PHÁT TRIỂN HOẠT ĐỘNG THANH TỐN QUỐC TẾ THEO

PHƯƠNG THỨC TÍN DỤNG CHỨNG TỪ

1.3.1 Tiêu thức định lượng

Để đánh giá hoạt động thanh toán quốc tế người ta dùng các chỉ số để

phân tích như: doanh số thanh tốn, phí thu từ hoạt động thanh toán quốc tế,

số lượng hồ sơ, số lượng khách hàng…hiệu quả hoạt động TTQT được đánh

giá thông qua các chỉ tiêu lợi nhuận từ các hoạt động TTQT. Có thể tính được

lợi nhuận do hoạt động TTQT theo phương thức tín dụng chứng từ mang lại

và chi phí bỏ ra để tiến hành hoạt động TTQT thông qua cơng thức:

P=DT-CP

Trong đó: P là lợi nhuận do hoạt động Tín dụng chứng từ mang lại trong



DT là doanh thu từ hoạt động Tín dụng chứng từ

CP: Chi phí bỏ ra trong q trình hoạt động Tín dụng chứng từ

-Chỉ tiêu lợi nhuận thu được từ hoạt động Tín dụng chứng từ phản ánh

phần giá trị thăng dư hay mức hiệu quả kinh doanh mà ngân hàng thu được

thông qua hoạt động này

Bên cạnh đó các chỉ tiêu định lượng như:

Tỷ lệ Lợi nhuận hoạt động Tín dụng chứng từ:

P'= P/DS

Trong đó: P': Tỷ lệ lợi nhuận hoạt động Tín dụng chứng từ

P: Lợi nhuận hoạt động Tín dụng chứng từ

19



DS: Doanh số do hoạt động Tín dụng chứng từ mang lại trong kì

 Chỉ số này chỉ ra một đồng Doanh thu thanh tốn theo phương thức Tín

dụng chứng từ thu được bao nhiêu lợi nhuận thanh toán cho ngân hàng

Doanh số tín dụng chứng từ:

Doanh số Tín dụng chứng từ = Doanh số thanh tốn tín dụng chứng

từ NK+ Doanh số thanh tốn Tín dụng chứng từ XK

 Chỉ tiêu này cho biết khả năng hoạt động Tín dụng chứng từ của ngân

hàng. Doanh số thanh toán cao chứng tỏ các nghiệp vụ nhiều và giá trị món

thanh tốn cao, do đó thấy khả năng hoạt động TTQT theo phương thức Tín

dụng chứng từ của ngân hàng. Doanh số TTQT cũng là chỉ tiêu để ngân hàng

thu phí thanh tốn. Vì vậy bất cứ ngân hàng nào cũng cố gắng tăng doanh số

ngày càng cao để từ đó thu được doanh thu từ hoạt động này ngày càng nhiều.

 Ngồi các tỷ số nói trên, để đánh giá sự phát triển của hoạt động thanh

tốn ta có một số tỷ số nữa như: tỷ số lợi nhuận (doanh thu) thanh tốn

TDCT trên vốn tự có, tỷ số lợi nhuận TTQT trên phần tăng thêm (đầu tư)

công nghệ mới, tỷ số doanh thu TTQT trên tổng số cán bộ TTQT, tỷ số giữa

lợi nhuận TTQT và tổng số cán bộ TTQT,...

1.3.2 Các chỉ tiêu đánh giá định tính

 Hiệu quả hoạt động Tín dụng chứng từ được đánh giá thông qua việc

tăng cường và củng cố nguồn vốn( đặc biệt là ngoại tệ cho ngân hàng) Đối

với chỉ tiêu này cần đề cập đến mối quan hệ giữa doanh số hoạt động Tín

dụng chứng từ với số dư tiền gửi ngoại tệ tại ngân hàng. Khi thực hiện các

nghiệp vụ Tín dụng chứng từ, mọi nguồn thu ngoại tệ từ nước ngoại hoặc chi

ngoại tệ để thanh toán cho nước ngoài, các NHTM đều phải thực hiện

 Hiệu quả hoạt động TTQT được đánh giá thông qua việc nâng cao chất

lượng tín dụng xuất nhập khẩu của NHTM. Khi ngân hàng cho doanh nghiệp

vay tiền ể thu mua hàng xuất khẩu, hoặc cho vay trên cơ sở đảm bảo bộ chứng

20



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

2 TÍN DỤNG CHỨNG TỪ- PHƯƠNG THỨC CHỦ YẾU TRONG THANH TOÁN QUỐC TẾ CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×