Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Bảng 3.9: Mô hình hồi quy logistis đa biến giữa các yếu tố liên quan và sự xuất hiện triệu chứng bệnh hô hấp mạn tính

Bảng 3.9: Mô hình hồi quy logistis đa biến giữa các yếu tố liên quan và sự xuất hiện triệu chứng bệnh hô hấp mạn tính

Tải bản đầy đủ - 0trang

Yếu tố trong mơ hình

(biến độc lập)



Triệu chứng bệnh hơ hấp mạn tính

Tỷ lệ

(%)



Hệ số hồi

quy (B)



OR



95%

OR



Giá trị

p



47,1

­



­1,12

­



3,1

­



1,4­6,6

­



0,005

­



1,9

­



­0,42

­



0,7

­



0,3­1,4

­



0,28

­



18,3

­



1,12

­



3,1

­



1,3­7

­



0,008

­



98,1



3,95



51,9



­



­



­



8,2­

329,8

­



10,6

­



­0,46

­



0,6

­



0,2­18

­



0,4

­



71,2

­



­2,83

­



0,06

­



0,3­1,4

­



0,28

­



36,5

­3,03

0,05

­

­

­

Biến phụ thuộc: Triệu chứng bệnh hơ hấp mạn  tính



0,02­1

­



<0,001

­



Tuổi

>40

<=40*

Thâm niên nghề nghiệp

>10 năm

<=10 năm*

Số giờ làm việc trên ngày

>8 giờ

<=8 giờ*

Ca làm việc

Ca tối

Ca khác*

Hút thuốc lá/thuốc lào



Khơng*

Tiếp xúc với nắng

Nhiều

Ít/khơng tiếp xúc*



<0,001

­



Tiếp xúc với khí độc

Nhiều

Ít/khơng tiếp xúc*



(*) Nhóm so sánh             (­) Nhóm sử dụng

Kiểm định tính phù hợp của mơ hình (Hosmer and Lemeshow test): X 2=9,5; df=7;

p=0,2

Biến phụ thuộc: triệu chứng bệnh hơ hấp mạn tính



Trong điều kiện các yếu tố còn lại trong mơ hình là như nhau, kết quả của mơ

hình hồi quy đa biến chỉ  ra một số  yếu tố  liên quan đến sự  xuất hiện triệu chứng

bệnh hơ hấp mạn tính.

Những cơng nhân làm ca tối nguy cơ xuất hiện triệu chứng bệnh hơ hấp mạn

tính cao gấp 51,9 lần những người làm ca khác (p<0,001, 95%OR (8,2­329,8)).

52



Những cơng nhân làm nhiều hơn 8 giờ/ ngày nguy cơ xuất hiện triệu chứng

bệnh hơ hấp mạn tính cao gấp 3,1 lần nhóm làm việc dưới 8 giờ/ ngày (p<0,05,

95%OR (1,3­7)).

Những cơng nhân có tuổi trên 40 nguy cơ xuất hiện các triệu chứng bệnh hơ

hấp mạn tính cao gấp 3,1 lần so với nhóm có tuổi nhỏ hơn 40 tuổi (p<0,05; 95%OR:

1,4­6,6).

Những người có tiếp xúc nhiều với hơi khí độc nguy cơ  có các triệu chứng

bệnh hơ hấp mạn tính chỉ  bằng 0,05 so với nhóm tiếp xúc ít ( p<0,001; 95%OR:

0,02­1).



53



CHƯƠNG 4: BÀN LUẬN

4.1.



Thực trạng xuất hiện các triệu chứng bệnh đường hơ hấp

Trong 468 đối tượng CNTGRT trả lời, có 41,8% đối tượng có triệu chứng ho,



tỷ lệ này cao hơn tỷ lệ cơng nhân thu gom chất thải đơ thị trong nghiên cứu của tác

giả  Thayyil Jayakrishnan tại  Ấn Độ  năm 2013 là 35,9%[44]. Tỷ  lệ  cơng nhân có

triệu chứng ho trong nghiên cứu này thấp hơn so với nghiên cứu tác giả Prisca S tại

Tazania năm 2012 là 54,9%. Ngồi ra, có 28% đối tượng trong nghiên cứu này có

triệu chứng đờm thấp hơn so với tỷ lệ cơng nhân có triệu chứng đờm trong nghiên

cứu của tác giả  Prisca S tại Tazania năm 2012 (39,2%). Tuy nhiên, trong nghiên

cứu của chúng tơi và nghiên cứu của Prisca S tại Tazania có trung bình độ tuổi của

các đối tượng trong hai nghiên cứu khơng tương đồng nhau, lần lượt là 38,3 ± 7,8

năm; 42,5 ± 7,2 năm, điều này lí giải một phần sự khác biệt về  tỷ  lệ  của các triệu

chứng này [35].

Tỷ  lệ  cơng nhân có triệu chứng thở  khò khè là 12,6% thấp hơn nhiều so với

nghiên cứu của tác giả  Prisca S tiến hành nghiên cứu trên 102 cơng nhân thu gom

rác thải và 85 người bán rau tại Tazania năm 2012[35]. Ngồi ra, có 10% đối tượng

có triệu chứng khó thở khá tương đồng với nghiên cứu của tác giả Halim Issever tại

Thổ Nhĩ Kỳ là 11,7% [20].

Các cơng nhân TGRT trong nghiên cứu có triệu chứng bệnh hen suyễn là

1,5%, tỷ  lệ  này tương tự  với kết quả  nghiên cứu của tác giả  Yogesh D Sabde tại

thành phố Nagpur,  Ấn Độ là 1,8% cơng nhân TGRT mắc hen suyễn, tỷ lệ trên cao

hơn nhiều so với nhóm chứng (0,7%) [51]. Tỷ lệ các đối tượng có triệu chứng bệnh

hơ hấp mạn tính là 22,2% tương tự  như  tỷ  lệ trong nghiên cứu của tác giả  Thayyil

Jayakrishnan tại Ấn Độ năm 2013 là 21% [44] và trong nghiên cứu của tác giả Hala

Samir Abou­AlWafa tại Tây Ban Nha năm 2011 là 25%. Tỷ lệ này cao hơn hẳn so

với nhóm cơng nhân dịch vụ (12,2%) [19].



54



4.2.



Các yếu tố liên quan đến việc có các triệu chứng bệnh hơ hấp mạn tính 



của cơng nhân thu gom rác thải

4.2.1. Yếu tố đặc điểm, hành vi cá nhân

Với yếu tố tuổi, trung bình độ tuổi của các cơng nhân TGRT trong nghiên cứu

là 38,3±  7,8 năm. Trong đó, độ  tuổi trên 40 tuổi chiếm 47,1% và nguy cơ  có các

triệu chứng bệnh hơ hấp mạn tính của các cơng nhân trên 40 tuổi cao hơn gấp 3,1

lần so với nhóm cơng nhân dưới 40 tuổi (p<0,05; 95%OR: 1,4­6,6). Kết quả  này

tương tương đồng với nghiên cứu các triệu chứng bệnh đường hơ hấp cấp tính, mãn

tính và những thay đổi về chức năng phổi của tác giả Zuskin E và cộng sự tại thành

phố Croatia, cho thấy cơng nhân TGRT đơ thị có tỷ lệ bị các bệnh hơ hấp mạn tính

cao hơn đáng kể  so với nhóm chứng, nhóm cơng nhân trên 40 tuổi có tỷ  lệ  bị  các

bệnh hơ hấp mạn tính cao hơn so với nhóm cơng nhân dưới 40 tuổi (p<0,05) [56].

Điều này có thể  được lí giải như  trong nghiên cứu của tác giá Nayera S  tại  Ấ Độ

năm 2015 đã chỉ ra rằng: Những cơng nhân cao tuổi có nhận thức về nguy cơ nghề

nghiệp cao hơn nhóm cơng nhân trẻ  (70% so với 55,6%) nhưng nhóm cơng nhân

dưới 40 tuổi có thói quen sử dụng thiết bị bảo vệ thời gian làm việc cao hơn nhóm

cơng nhân trên 40 tuổi.   (98,4% so với 63,3%) bao gồm kính mắt (77,8% so với

63,3%), kem chống nắng (55,6% so với 36,7%), các thiết bị bảo vệ khác (98,4% so

với 63,3%).Vẫn có 6,7% cơng nhân khơng bao giờ  sử  dụng các trang thiết bị  bảo

vệ[31].

Khi được hỏi thâm niên trong công việc thu gom rác thải, 60% công nhân trả

lời đã làm dưới 10 năm và 40% đã làm trên 10 năm. Nguy cơ có các triệu chứng

bệnh hơ hấp mạn tính trong nhóm có thâm niên nghề trên 10 năm chỉ bằng 0,019 so

với nhóm cơng nhân có thâm niên nghề dưới 10 năm (p<0,001). Kết quả này, khác

biệt so với trong nghiên cứu của tác giả Zuskin Evà cộng sự năm 1996 tại thành phố

Croatia cho thấy nhóm cơng nhân làm việc trên 10 năm có tỷ lệ bị các bệnh hơ hấp

mạn tính cao hơn nhóm chứng (p<0,05)[56]. Có sự khác biệt này có thể lí giải do độ



55



tuổi trung bình của các đối tượng trong nghiên cứu của Zuskin E và cộng sự  năm

1996 (40±6,3 năm)[56]. 

Xét về  thói quen hút thuốc, khơng có sự  khác biệt giữa có các triệu chứng

bệnh hơ hấp mạn tính với các đối tượng có hút thuốc và khơng hút thuốc OR=1,02

(95%OR: 0,5­2,1, p=1). Có nghiên cứu chỉ ra rằng triệu chứng như khó thở  và thở

khò khè có sự  khác nhau giữa nhóm cơng nhân tiếp xúc với khói thuốc và nhóm

khơng tiếp xúc cụ  thể: nhóm cơng nhân tiếp xúc với khói thuốc cao hơn so với

nhóm cơng nhân khơng tiếp xúc với khói thuốc (42,9% so với 14,7%; p=0,019) và

(52,4% so với 11,8%; p=0,001) trong nghiên cứu của tác giả  Krajewski   JA năm

2002 tại Pakistan. Kết quả của 2 nghiên cứu có sự khác nhau như vậy, có thể lí giải

một phần là mặc dù, cùng được thực hiện bằng phương pháp nghiên cứu cắt ngang

mơ tả  và đối tượng nữ  giới đều chiếm đa số  (83,1%) trong nghiên cứu này, nhưng

cỡ  mẫu của nghiên cứu này và nghiên cứu của tác giả  Krajewski  JA năm 2002 tại

Pakistan lại khác nhau lần lượt là 468 người và 4521 phụ nữ [26].

4.2.2. Yếu tố điều kiện lao động

Về  yếu tố  ca làm việc trong 3 tháng qua, nghiên cứu chỉ  ra rằng có mối liên

giữa có triệu chứng bệnh hơ hấp mạn tính với ca làm việc của cơng nhân TGRT. Cụ

thể, những cơng nhân làm ca tối có nguy cơ có triệu chứng bệnh đường hơ hấp mạn

tính cao gấp 23,26 lần so với các ca khác trong ngày (p<0,001, 95%OR:  8,2­329,8).

Ca đêm thường bắt đầu từ  16h đến khi hết rác, có khi đến 1­2h đêm, do đó, cơng

nhân chịu ảnh hưởng trực tiếp từ những điều kiện khí hậu khắc nghiệt như lạnh giá,

sương muối vào mùa đơng; nắng, nóng vào mùa hè, mưa gió; tiếp xúc liên tục với

nhiều loại hơi khí độc, bụi bẩn làm gia tăng nguy cơ mắc triệu chứng đường hơ hấp.

Xét về khía cạnh số ngày làm việc trong tuần và số giờ làm việc trong ngày thì

đa số các đối tượng làm việc trên 6 ngày và làm việc trên 8 giờ. Kết quả  phân tích

đa biến sau khi hiệu chỉnh với các yếu tố khác trong mơ hình chỉ ra rằng cơng nhân

làm việc trên 8 giờ/ ngày có nguy cơ  có triệu chứng bệnh hơ hấp cao gấp 3,1 lần

nhóm cơng nhân làm việc dưới 8 giờ/ngày ( p<0,05; 95%OR: 1,3­7). Theo nghiên

56



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Bảng 3.9: Mô hình hồi quy logistis đa biến giữa các yếu tố liên quan và sự xuất hiện triệu chứng bệnh hô hấp mạn tính

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×