Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Điều kiện lao động đặc thù của công nhân TGRT là làm việc ngoài trời, công việc bao gồm phải đi bộ từ 2-4 km để đẩy xe rác, quét rác, trực tiếp tiếp xúc với rác thải, chịu ảnh hưởng của điều kiện khí hậu không thuận lợi cả mùa đông lẫn mùa hè, thường xuyê

Điều kiện lao động đặc thù của công nhân TGRT là làm việc ngoài trời, công việc bao gồm phải đi bộ từ 2-4 km để đẩy xe rác, quét rác, trực tiếp tiếp xúc với rác thải, chịu ảnh hưởng của điều kiện khí hậu không thuận lợi cả mùa đông lẫn mùa hè, thường xuyê

Tải bản đầy đủ - 0trang

một năm (thấp hơn tiêu chuẩn cho phép từ 1­5oC) và khoảng 65­75 ngày khơng khí

nóng, khó chịu từ  32­37oC và trên 37oC chiếm khoảng 17­19% thời gian một năm

(vượt TCVSCP từ 2­7oC). Như vậy mỗi năm cơng nhân TGRT ở Hà Nội có 33­37%

thời gian phải làm việc trong điều kiện nhiệt độ  khơng khí ngồi vùng TCVSCP.

Chưa tính tới thời gian có thời tiết khắc nghiệt như  gió mùa đơng bắc nhiệt độ

xuống 5­10oC hay mưa bão, rét buốt khi cơng nhân vẫn làm việc đến 24 giờ  đêm

hoặc 1­2 giờ sáng hơm sau, tạo điều kiện kchịudài với những điều kiện khí hậu như

vậy sẽ  dẫn đến các triệu chứng bệnh đường hơ hấp như  ho, khó thở,… và chứng

bệnh về đường hơ hấp như viêm phế quản, viêm họng mãn,... [1].

1.3.1.2. Phơi nhiễm với bụi, hơi khí độc và yếu tố vi sinh vật

Với điều kiện lao động chủ yếu là làm việc ngồi trời và trên đường phố, cơng

nhân TGRT thường xun phải tiếp xúc với lượng lớn bụi trong mơi trường làm

việc. Bụi được phát sinh từ  các phương tiện giao thơng hay trong q trình cơng

nhân sử dụng chổi để  qt đường phố  [19]. Cơng nhân TGRT có nguy cơ  tiếp xúc

với hỗn hợp các chất ơ nhiễm, là ngun nhân thường gặp của các triệu chứng bệnh

đường hơ hấp về  [20].

Theo tác giả  Hala Samir Abou­ElWafa và cộng sự  tại  Ấn Độ, phơi nhiễm vi

sinh vật liên quan đến chất thải có thể  xảy ra  ở nơi chất thải được lưu trữ  hoặc bãi

tập trung ở ngồi trời, trong q trình phân loại, vận chuyển và dọn dẹp. Nghiên cứu

còn chỉ ra rằng việc tập trung rác thải tạo điều kiện thuận lợi cho sự phát triển của vi

sinh vật như  vi khuẩn Gram âm và từ  đó hình thành các nội độc tố  dưới dạng giọt

treo, khi được hít vào, gây viêm đường hơ hấp và những vấn đề sức khỏe khác [17].

Một số nghiên cứu cho rằng vi sinh vật tích lũy trong quần áo có thể là nguồn gây ra

các triệu chứng bệnh đường hơ hấp [15].

Nghiên cứu tại Việt Nam trên đối tượng cơng nhân TGRT còn hạn chế, mới

chỉ dừng lại ở nhóm nữ cơng nhân TGRT đơ thị làm việc trong mơi trường độc hại,

thường xun tiếp xúc với các loại bụi bẩn và hơi khí độc trong phân, rác, phế thải

cơng nghiệp. Dưới sự  tác động của điều kiện mơi trường, chất thải tại các tụ  điểm



22



tập trung rác phân hủy, sản sinh các chất khí có mùi hơi thối,ơ nhiễm, gây cảm giác

khó chịu, buồn nơn và đau đầu, khiến cơng nhân dễ  bị  mắc các triệu chứng bệnh

đường hơ hấp và ảnh hưởng lớn đến tâm lý [1],[4].



23



1.3.1.3. Thời gian làm việc

Do đặc thù cơng việc, cơng nhân TGRT đơ thị  phải làm việc trong thời gian

dài, làm ca đêm liên tục, khơngđược ln chuyển ca thường xun. Trong các ngày

nghỉ  thơng thường như  lễ  Tết,cơng nhân còn phải tăng ca do khối lượng rác thải

phát sinh nhiều hơn ngày thường [1]. Trung bình ca làm việc của cơng nhân TGRT

kéo dài khoảng 8 giờ[6, 20]. Ca sáng bắt đầu từ 6 giờ sáng cho đến 15 giờ chiều, ca

đêm kết thúc lúc 23 giờ  thậm chí đến 1­2 giờ  sángđiều kiện . Trong đó, thời gian

“thu gom rác” kéo dài khoảng 5 giờ [19].

Theo, cơ cấu tổ chức lao động của cơng nhân TGRT thườngbao gồm 3 ca làm

việc. Ca thứ nhất từ 4 giờ sáng đến 13 giờ chiều, ca thứ 2 từ 12 giờ đến 21 giờ đêm,

ca thứ 3 từ 16 giờ đến khi hết rác (thường là 2 giờ sáng ngày hơm sau). Cơng nhân

được nghỉ  giữa ca khoảng 1 giờ, tại nhữngchỗ  nghỉ  tạm bợ  khơng cố  định. Cùng

điều kiện làm việc phải trực tiết khắc nghiệt quanh năm (oi, nóng,,,…) và tiếp xúc

liên tục với nhiều loại hơi khí độc, bụi bẩn, nguy cơ mắc triệu chứng đường hơ hấp

của cơng nhân cũng gia tăng [7].

1.3.1.4. Trang thiết bị bảo hộ lao động

Nghiên cứu của tác giả Yuehua Yan và cộng sự tại Trung Quốc cho thấy cơng

nhân phải thường xun làm việc với cường độ  lao động và khối lượng cơng việc

lớnĐơn vị sử dụng người lao độngkhơng đề  cao việc chăm sóc và bảo vệ  sức khỏe

cho cơng nhân. Cơng nhân chưa được trang bị  những phương tiện bảo hộ cá nhân

như khẩu trang, khơng được cấp phát nước rửa tay hoặc xà phòng, khơng được đào

tạo tập huấn trước khi bắt đầu làm việc [53]. Kết quả tương tự được tìm thấy trong

nghiên cứu của Yogesh D Sabde tại  Ấn Độ, vấn đề  khơng được cung cấp thiết bị

bảo hộ thường xun và thiếu động cơ thúc đẩy sử dụng các thiết bị bảo hộ này đã

dẫn đến tỷ lệ cơng nhân sử dụng  thấp [32]. 

1.3.1.5. Kiến thức, truyền thơng về ATVSLĐ

Nghiên cứu tại  Ấn Độ  cho thấysố  lượng cơng nhân được tập huấn, giáo dục

sức khỏe còn hạn chế. Cácán bộ y tế cũng khơng đưa ra bất cứ lời khun nào cho

24



cơng nhân liên quan đến việc sử dụng các thiết bị bảo hộ cá nhân hoặc bỏ thói quen

hút thuốc [32]. Một nghiên cứu khác của J Peng tạicũng cho thấycơng nhân và

những người sử  dụng lao động đều nhận thức được những mối nguy hiểm đối với

sức khỏe người lao động. Tuy nhiên, do thiếu các chính sách bảo hộ cụ thể đối với

những người lao động khơng chính thức và khơng có địa điểm tập trung cố  định

trong thời gian làm việc khiến cho việc đảm bảo sức khỏe và an tồn của cơng nhân

trở nên khó khăn [29].

1.3.2. Các yếu tố liên quan đến đặc điểm cá nhân

1.3.2.1. Sử dụng trang bị bảo hộ lao động 

Khơng sử dụng bảo hộ lao động là một trong những ngun nhân chính dẫn tới

nguy cơ  mắc các bệnh về đường hơ hấp ở  cơng nhân TGRT. Trên thế  giới, có bốn

loại phương tiện bảo hộ  cá nhân cho nhóm cơng nhân TGRT là quần áo bảo hộ

huỳnh quang che phủ tồn bộ bề mặt cơ thể,  ủng cao su che chân, găng tay để  bảo

hộ  từ  ngón tay đến cổ  tay và khẩu trang để  che miệng và mũi  [32]. Tại Việt Nam,

qua quan sát thực tế, cơng nhân thường xun sử  dụng ba loại phương tiên bảo hộ

lao động là quần áo bảo hộ huỳnh quang, găng tay và khẩu trang; ủng cao su ít được

sử dụng. Nhiều nghiên cứu cho thấy, tỷ lệ cơng nhân sử dụng bảo hộ lao động trong

q trình làm việc thấp. Những cơng nhân cao tuổi có nhận thức về  nguy cơ  nghề

nghiệp cao hơn nhóm cơng nhân trẻ  (70% so với 55,6%) nhưng nhóm cơng nhân

dưới 40 tuổi có thói quen sử dụng thiết bị bảo vệ thời gian làm việc cao hơn nhóm

cơng nhân trên 40 tuổi.   (98,4% so với 63,3%) bao gồm kính mắt (77,8% so với

63,3%), kem chống nắng (55,6% so với 36,7%), các thiết bị bảo vệ khác (98,4% so

với 63,3%). Vẫn có 6,7% cơng nhân khơng bao giờ sử dụng các trang thiết bị bảo vệ

[31].

1.3.2.2. Hút thuốc lá

Bên cạnh các yếu tố điều kiện làm việc nêu trên, nguy cơ  mắc bệnh đường hơ

hấp trong cơng nhân TGRT còn xuất phát từ thói quen hút thuốc của cơng nhân.Mối

liên quan giữa hút thuốc lá và các bệnh lý về phổi đã được chứng minh trong nhiều

25



nghiên cứu. Các triệu chứng như  khó thở  và thở  khò khè có sự  khác nhau giữa

nhóm cơng nhân tiếp xúc với khói thuốc và nhóm khơng tiếp xúc,có tỷ  lệ  có triệu

chứng bất thường  (khó thở: 42,9% so với 14,7%; p=0,019) và (thở khò khè: 52,4%

so với 11,8%; p=0,001) [26]. Một nghiên cứu khác cũng cho thấy cơng nhân hút

thuốc lá có tỷ  lệ  bị bệnh (triệu chứng như ho, có đờm mãn tính, tức ngực) cao hơn

đáng kể so với những cơng nhân khơng hút thuốc (p<0,05) [28].

1.3.2.3. Tuổi và thâm niên làm việc

Tỷ lệ mắc các triệu chứng đường hơ hấp còn liên quan đến độ tuổi và của cơng

nhân. Nghiên cứu các triệu chứng bệnh đường hơ hấp cấp tính, mãn tính và những

thay đổi về  chức năng phổi của tác giả  Zuskin E và cộng sự  tại Croatia năm 1996

cho kết quả: nhóm cơng nhân trên 40 tuổi có tỷ lệ bị các bệnh hơ hấp mãn tính cao

hơn so với nhóm cơng nhân dưới 40 tuổi, nhóm cơng nhân làm việc trên 10 năm có

tỷ lệ bị các bệnh hơ hấp mãn tính cao hơn nhóm chứng với (p<0,05) [56]. Trong số

những cơng nhân có hút thuốc, người có thâm niên làm việc hơn 10 năm có tỷ lệ bị

các bệnh viêm mũi và viêm xoang cao hơn so với những người làm việc trong thời

gian ngắn hơn (p<0,05) [28].

1.3.3. Các yếu liên quan đến điều kiện sống

Mơi trường sống và điều kiện sinh hoạt trong gia đình cũng đóng góp một phần

ngun nhân dẫn tới tình trạng mắc các triệu chứng bệnh đường hơ hấp.Q trình đốt

các loại nhiên liệu sử dụng để  đun nấu(gas/ than/ củi) có thể  sản sinh ra các chất khí

vàhạt gây kích ứng đường hơ hấp, dẫn tớivề  bao gồm cả hen suyễn. thậm chíMột số

loại khí, trong đó có khí NO2 có thể gây ra các triệu chứng hen suyễn [52]. 

Như vậy, nguy cơ mắc triệu chứng đường hơ hấp ở cơng nhân TGRT gia tăng

do tính chất cơng việc thu gom rác thải và điều kiện sinh hoạt của cơng nhân.

1.3.4. Các biện pháp phòng chống bệnh đường hơ hấp

Trong q trình làm việc, điều kiện lao động khơng thuận lợi khiến cơng nhân

hít phải lượng bụi lớn ảnh hưởng đến chức năng hô hấp và có nguy cơ tiến triển các



26



bệnh nghề nghiệp [38]. Nhiều nghiên cứu đã được tiến hành trên công nhân TGRT,

từ đó đưa ra các giải pháp nhằm giúp cải thiện sức khỏe cho người lao động.



27



1.3.4.1. Cung cấp phương tiện bảo hộ lao động cá nhân.

Nghiên cứu của tác giả  Yogesh D Sabde tại Nagpur,  Ấn Độ  đã đưa ra các giải

pháp như cơng nhân cần tăng cường sử dụng các thiết bị bảo hộ lao động như khẩu

trang, kính bảo hộ, găng tay, giày ống để giảm tiếp xúc với bụi và các yếu tố độc hại

trong mơi trường lao động [51]. Tác giả  Zuskin E kết luận rằng quần áo bảo hộ,

găng tay, giày và khẩu trang có thể  hữu ích để  giúp ngăn chặn sự  phát triển của

đường hơ hấp cấp tính, mãn tính và các triệu chứng khác.Sử dụng khẩu trang để bảo

vệ đường hơ hấp được coi là biện pháp phòng ngừa phổ biến nhất làm giảm tiếp xúc

với bụi trong khi qt đường phố. Vì vậy, chính quyền địa phương và các tổ  chức

có liên quan cần trang bị đầy đủ các thiết bị bảo hộ cá nhân cho cơng nhân và cơng

nhân cần sử  dụng tất cả  các bảo hộ  lao động trong q trình làm việc [16], [37],

[56].

1.3.4.2. Các biện pháp thơng tin giáo dục truyền thơng

Theo tác giả Ramaswamy P, người sử dụng lao động cần tổ chức các buổi giáo

dục sức khỏe phù hợp cho cơng nhân TGRT, nhằm giúp họ  hiểu hơn về  cách tự

chăm sóc sức khỏe cho bản thân, hạn chế các mắc bệnh do ảnh hưởng từ mơi trường

làm việc, đặc biệt là các vấn đề về đường hơ hấp. Khuyến khích cơng nhân sử dụng

bảo hộ  lao động trong suốt q trình làm việc thơng qua việc nêu được tầm quan

trọng của các trang bị nàytrong phòng bệnh [37].

1.3.4.3. Các biện pháp vệ sinh cơng nghiệp và kỹ thuật cơng nghệ

Tác giả Ramaswamy P đã đưa ra biện pháp kiểm sốt bụi hiệu quả như làm ướt

bề  mặt đường trước khi qt chắc chắn giảm được những  ảnh hưởng cấp tính đến

đường hơ hấp [37]. Biện pháp này cũng được đưa ra trong nghiên cứu của tác giả

Smilee Johncy S và tác giả Dr Ajay KT [16], [40]. Tác giả Dr Ajay KT đưa ra biện

pháp kiểm sốt bụi khác sử dụng chổi cán dài trong qt rác nhằm giảm mức độ tiếp

xúc trực tiếp với bụi [16]. Yogesh D Sabde cũng cho rằng cần tự động hóa xe qt

rác để cơng nhân TGRT hạn chế tiếp xúc với bụi [50].



28



1.3.4.4. Các biện pháp y tế, bảo vệ sức khỏe, tổ chức lao động

Tất cả  cơng nhân trong nghiên cứu của Thayyil Jayakrishnan đều làm việc 7

ngày/tuần với trung bình giờ làm việc là 6,2 ± 1,7 giờ/ngày [44]. Tuy nhiên, theo tác

giả   Dr   Ajay   KT,   công   nhân   cần   được   giới   hạn   số   ngày   TGRTchỉ   từ   3   đến   4

ngày/tuần đểhạn chế  tần suất tiếp xúc với các yếu tố  độc hại trong môi trường làm

việc[16]. Trong một nghiên cứu khác của Sudhir Naya, giải pháp là kiểm tra việc sử

dụng bảo hộ  lao  độngcủa thường xun,  tiến hành tách /phân loại chất thải tại

nguồn trong túi mã màu khác nhau [41].

Tác giả M. Athanasiou và cộng sự tại thành phố Keratsini, Ấn Độ khuyến nghị

rằng ngành y tế cần chăm sóc tích cực hơn đối với sức khỏe nghề nghiệp của người

lao động. Những người có vấn đề  sức khỏe về  đường hơ hấp hoặc suy giảm chức

năng của phổi nên được chuyển đến các phòng ban khác trong cơng ty. Cần có các

sáng kiến để khuyến khích cơng nhân sử dụng các kỹ thuật quản lý chất thải an tồn

và sử dụng hợp lý các thiết bị bảo hộ cá nhân. Phát triển hệ thống giám sát sức khỏe

cho cơng nhânbao gồm khám sức khỏe trước khi tuyển dụng và khám sức khỏe định

kỳ cũng được đưa ra trong nghiên cứu của tác giả Zuskin E [56].

1.4. Bộ   cơng   cụ   đánh   giá   triệu   chứng   bệnh   đường   hơ   hấp   ATS­DLD­78a

(American ThoracicSociety and the Division of Lung Diseases­1978 adult)

1.4.1. Giới thiệu về bộ cơng cụ

Nghiên cứu này sử dụng bộ câu hỏi của hội lồng ngực Mỹ (ATS­DLD­1978a ­

American Thoracic Society and the Division of Lung Diseases­1978 adult) để  ghi

lại sự hiện diện các triệu chứng bệnh đường hơ hấp. 

Bộ câu hỏi ATS­DLD­78a được thiết kế có 7 nội dung bao gồm các câu hỏi về

các triệu chứng đường hơ hấp như: ho, đờm, thở  khò khè, khó thở, cảm lạnh và

bệnh về  ngực; các câu hỏi về  tiền sử  bệnh trong q khứ; và các câu hỏi về  thơng

tin cá nhân. Các câu hỏi về thơng tin chung của đối tượng sẽ hỏi về tuổi, giới, thời

gian làm việc tại vị trí, thâm niên, nhiệm vụ,… Các câu hỏi về các triệu chứng bệnh

đường hơ hấp chỉ có đáp án là có và khơng; khoảng thời gian đánh giá trong vòng 3

29



tháng so với thời điểm phỏng vấn; tìm hiểu số  lần mắc triệu chứng đó trong một

ngày, một tuần, một tháng hay ba tháng liên tục trước đấy kể  từ  thời điểm nghiên

cứu. 

Cụ thể, với phần câu hỏi về ho và đờm thứ tự hỏi đều là có mắc triệu chứng ho

hay đờm trong một ngày, một tuần, một tháng hay ba tháng gần đây khơng (ba

tháng trước đấy kể  từ  thời điểm được hỏi); tần suất ho/đờm trong một ngày, một

tuần, trong ba tháng gần đây khơng. Đối với các câu hỏi về  thở  khò khè, khó thở

hay cảm lạnh và các bệnh về  ngực cũng giống như  cấu trúc câu hỏi về triệu chứng

ho/ đờm bao gồm câu hỏi đánh giá triệu chứng trong vòng ba tháng tính từ  thời

điểm phỏng vấn hay đã từng mắc trước đó một năm. Ngồi ra, có các câu hỏi thêm

đối với đối tượng có gặp các triệu chứng này. Chẳng hạn, các câu hỏi về  thở  khò

khè bao gồm các câu hỏi như: Đã từng bị thở khò khè khi bị cảm lạnh; thở khò khè

ngay cảkhi khơng bị  cảm lạnh; thở  khò khè cả  ngày lẫn  đêm, từng bị  thở  khò

khèbao nhiêu năm; số năm bị thở khò khè;…

Đối với phần câu hỏi về tiền sử bệnh vùng ngực bao gồm các câu hỏi với câu

trả lời là có và khơng về viêm phổi,tim mạch… Nếu có thì có được bác sĩ chẩn đốn

khơng, thời gian kéo dài của bệnh như thế nào.

1.4.2. Đánh giá về tính giá trị và độ tin cậy của bộ cơng cụ

Trên thế  giới, bộ  câu hỏi  ATS­DLD­78a về  các triệu chứng bệnh đường hơ

hấp đã được đánh giá như  một cơng cụ  dịch tễ  học và nhấn mạnh tầm quan trọng

của lịch sử lâm sàng trong việc đánh giá tình trạng hơ hấp. Nghiên cứu của các tác

giả   Brodkin   C.A;   Barnhart   S,   Anderson   G   và   cộng   sự   của   trường   Đại   học

Washington và Trung tâm nghiên cứu ung thư Fred Hutchinson sử dụng bộ câu hỏi

ATS để đánh giá sự tương quan giữa các triệu chứng bệnh đường hơ hấp và sự suy

giảm chức năng phổi trên 816 đối tượng là cơng nhân tiếp xúc với amiăng.Kết quả

cho thấy có sự tương quan giữa các triệu chứng bệnh đường hơ hấp và sự  suy giảm

chức năng phổi [12]. Theo nghiên cứu của: Abbasi. I. N; Ahssan. A và Nafees. A. A năm

2009 trên   một   mẫu   là   200   người   lớn   được   lựa   chọn   từ   hai   làng   thuộc   huyện



30



Khairpur, Sindh, Pakistan cũng sử dụng bộ câu hỏi ATS­DLD­78a để hỏi về sự hiện

diện của các triệu chứng đường hơ hấp cho thấy, triệu chứng bệnh đường hơ hấp

chủ  yếu là đờm (19%), tiếp theo là ho (17,5%), thở  khò khè (14%) và khó thở

(10,5%).Tỷ lệ bác sĩ chẩn đốn và kết quả tự báo cáo của bệnh hen suyễn tương ứng

là 5,5% và 9,5%. Đây là một cơng cụ có giá trị sàng lọc các triệu chứng bệnh đường

hơ hấp trong bối cảnh nguồn lực hạn chế [10].

Theo nghiên cứu mơ tả  cắt ngang mơ tả  tại miền nam Brazil năm 1996 của

Xavier FariaI Neice Müller và cộng sự, về điều kiện làm việc của cơng nhân, mức

độ tiếp xúc với bụi hữu cơ, vơ cơ trong các trang trại, và với sự gia tăng về các triệu

chứng bệnh đường hơ hấp trên 1379 cơng nhân. Kết quả  nghiên cứu cho thấy, có

52% người được phỏng vấn làm việc trong mơi trường với cường độ  cao tiếp xúc

với bụi.Người lao động tiếp xúc với bụi  ở  mức độ  cao có nguy cơ  có các triệu

chứng hen suyễn và các triệu chứng bệnh hơ hấp mãn tính cao hơn nhóm ít tiếp xúc

với bụi lần lượt là (OR=1,71; 95% OR (1,10­2,67)) và (OR = 1,77; 95% OR (1,25­

2,50)) [49].

Theo nghiên cứu cắt ngang mơ tả  tại miền nam Brazil năm 1996 của Xavier

FariaI Neice Müller và cộng sự, về điều kiện làm việc của cơng nhân, mức độ  tiếp

xúc với bụi hữu cơ, vơ cơ  trong các trang trại, với sự  gia tăng về  các triệu chứng

bệnh đường hơ hấp trên 1379 cơng nhân. Kết quả  nghiên cứu cho thấy, có 52%

người được phỏng vấn làm việc trong mơi trường với cường độ  cao tiếp xúc với

bụi.Người lao động tiếp xúc với bụi  ở  mức độ  cao có nguy cơ  có các triệu chứng

hen suyễn và các triệu chứng bệnh hơ hấp mãn tính cao hơn nhóm ít tiếp xúc với

bụi lần lượt là (OR=1,71; 95% OR (1,10­2,67)) và (OR = 1,77; 95% OR (1,25­

2,50)) [49].

1.5. Khung lý thuyết

Áp dụng khung lý thuyết các yếu tố ảnh hưởng đến sức khoẻ và từ  tổng quan

các nghiên cứu trên thế  giới và tại Việt Nam, các nghiên cứu chỉ  ra một số  yếu tố

ảnh hưởng đến các triệu chứng bệnh đường hơ hấp ở cơng nhân thu gom rác thải đơ



31



thị. Trong khung lý thuyết đề cập đến 3 nhóm yếu tố là yếu tố cá nhân bao gồm các

đặc điểm về tuổi, giới, trình độ học vấn, sử dụng trang thiết bị bảo hộ lao động, hút

thuốc lá…, các yếu tố  điều kiện làm việc như: điều kiện khí hậu, nhiệt độ, độ  ẩm,

thời gian làm việc, trang bị bảo hộ cá nhận,… và yếu tố mơi trường như điều kiện ơ

nhiễm khơng khí, bụi tại nơi sinh sống, các vấn đề  hơ hấp trước đó, điều kiện sinh

sống,…



Yếu tố điều kiện



Yếu tố cá nhân



làm việc



Tuổi

Giới

Triệộu ch

ứng b

Trình đ

 học v

ấn ệnh

đường hơ hềấ p của

Thâm niên ngh

nghi

ệp 

cơng nhân thu gom

 Tiền sử brác th

ệnh hơ h

ải ấp

 Sử dụng trang bị 

bảo hộ lao động

 Hút thuốc lá













 Trang bị bảo hộ cá

nhân

 Thời gian làm

việc( số giờ làm và ca

kíp)

 Truyền thơng giáo

dục về ATLĐ và bệnh

hơ hấp



Yếu tố mơi trường



 Điều kiện khí hậu,

nhiệt độ, độ ẩm,

nắng, nóng, lạnh,…



32



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Điều kiện lao động đặc thù của công nhân TGRT là làm việc ngoài trời, công việc bao gồm phải đi bộ từ 2-4 km để đẩy xe rác, quét rác, trực tiếp tiếp xúc với rác thải, chịu ảnh hưởng của điều kiện khí hậu không thuận lợi cả mùa đông lẫn mùa hè, thường xuyê

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×