Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Đường hô hấp dưới dẫn không khí đi vào trong các phế nang.

Đường hô hấp dưới dẫn không khí đi vào trong các phế nang.

Tải bản đầy đủ - 0trang

- Khạc đờm: Đờm là các chất tiết từ niêm mạc đường hơ hấp (hốc mũi tới phế

nang) và thải ra ngồi miệng. Triệu chứng của khạc đờm có thể gặp trong các bệnh

về đường hơ hấp trên, bệnh phổi phế quản, lao phổi, ung thư phổi,…

- Khó thở: Khó thở là tình trạng khó khăn trong việc thực hiện động tác thở ra

của bệnh nhân. Đây là cảm giác chủ  quan, là triệu chứng cơ  năng thường gặp do

nhiều ngun nhân khác nhau. Khó thở mơ tả sự khó khăn và mệt mỏi trong lúc thở;

có thể khó thở khi thở ra, hít vào hoặc khó thở ở cả hai thì.

- Đau, tức ngực:  Là hiện tượng đau xuất hiện  ở  vùng ngực. Cảm giác đau

ngực có thể đau nhiều hoặc chỉ hơi thấy nặng ngực khi hoạt động gắng sức. Đau tức

ngực có thể  gặp trong các bệnh lý tim mạch, bệnh lý phổi (viêm, ung thư  phổi…),

đau dây thần kinh liên sườn,…

1.1.4. Các bệnh lý hơ hấp thường gặp [5]

- Viêm phế  quản:  Viêm phế  quản là tình trạng viêm lớp niêm mạc các  ống

phế quản ­ ống mang khơng khí đến và đi từ phổi. Viêm phế quản có thể là cấp tính

hoặc mãn tính. Ở điều kiện thơng thường, viêm phế quản cấp tính thưởng phát triển

từ nhiễm trùng đường hơ hấp do lạnh hay các vấn đề khác. Viêm phế quản mãn tính

là tình trạng nghiêm trọng hơn, ống phế quản bị kích thích thường xun hoặc viêm

niêm mạc của các ống phế quản, thường là do hút thuốc lá.

- Viêm phổi: Viêm phổi là tình trạng viêm thường do nhiễm trùng. Vi khuẩn,

virus, nấm hay ký sinh trùng có thể  gây viêm phổi. Viêm phổi là bệnh nguy hiểm

nếu với những người trên 65 tuổi, có các bệnh mãn tính khác hoặc suy giảm hệ

thống miễn dịch. Viêm phổi cũng là bệnh phổ biến ở trẻ em hoặc người khỏe mạnh

bình thường.

- Hen phế quản: Là một bệnh vêm mạn tính đường thở do nhiều tế bào và các

thành phần tế bào tham gia. Viêm đường thở mạn tính kết hợp tăng đáp ứng đường

thở dẫn đến những đợt thở rít, khó thở, nghẹt lồng ngực, ho tái diễn, các triệu chứng

tường xảy ra về đêm hoặc sáng sớm, những đợt này thường kết hợp với tắc nghẽn

đường thở lan tỏa và hồi phục tự phát hoặc sau điều trị (GINA: Global Initiative For

Asthma)



16



-  Bệnh phổi tắc nghẽn mãn tính: Bệnh phổi tắc nghẽn mãn tính (COPD) là

một nhóm các bệnh phổi trong đó đường thở  bị  thu hẹp, khiến cho sự  lưu thơng

khíbị gián đoạn ngày càng khó khăn. Bệnh khí thũng và viêm phế quản mãn tính là

hai vấn đề chính gây nên COPD, nhưng COPD cũng có thể là hậu quả doviêm phế

quản mãn tính trong hen. Trong mọi trường hợp, tổn thương đường hơ hấp đều sẽ

trao đổi oxy và carbon dioxide trong phổi.

1.2. Thực trạng một số triệu chứng và bệnh hơ hấp ở cơng nhân TGRT đơ thị

1.2.1. Trên thế giới

1.2.1.1. Thực trạng mắc một số triệu chứng bệnh đường hơ hấp ở cơng nhân TGRT

Các nghiên cứu trên thế  giới  đã chỉ ra một số triệu chứng về bệnh hơ hấp phổ

biến  ở  cơng nhân TGRT là ho, khó thở, thở  khò khè, khơ mũi, viêm mũi, viêm

xoang, tức ngực, đau họng, đau đầu, có đờm và hắt hơi [17], [26], [27]. 

  Ho

Trong ghiên cứu mơ tả  cắt ngang của tác giả  Tandon R được tiến hành tại  Ấn

Độ  năm 2010 trên 313 đối tượngnghiên cứu, có đến 25% cơng nhân thu gom chất

thải rắn đơ thị có triệu chứng ho[43].Tương tự, 14,2% cơng nhân bị ho kéo dài cũng

được phát hiện trong nghiên cứu của tác giả Halim Issever tại Thổ Nhĩ Kỳ [20]. Một

số nghiên cứu cho thấy sự xuất hiện của triệu chứng ho ở cơng nhân TGRT đều cao

hơn so với người lao động trong các ngành nghề  khác như  nhân viên văn phòng,

người bán rau,... Cụ thể, tỷ lệ có triệu chứng ho của cơng nhân TGRT với nhân viên

văn phòng (18,1% so với 7,1%) [17] hay giữa cơng nhân TGRT với những người

bán rau (54,9% so với 12,9%)[35]. Như vậy, cơng nhân TGRT có nguy cơ mắc triệu

chứng ho cao hơn so với những người làm trong một số ngành nghề khác.

 Khó thở

Triệu chứng khó thở   ở  cơng nhân TGRT được phát hiện trong nhiều nghiên

cứu, dao động từ  11,7% (Halim Issever thực hiện tại Thổ Nhĩ Kỳ)[20] đến 31,7%

(Mariammal tại  Ấn Độ) [42]. Nguy cơ  xuất hiệu triệu chứng khó thở   ở  cơng nhân

TGRT cũng cao hơn 2,1 lần so cơng nhân xây dựng [19], [20], [42], [43]. 



17



Tác giả Prisca S tiến hành nghiên cứu trên 102 cơng nhân thu gom rác thải và

85 người bán rau cho thấy tỷ lệ cơng nhân TGRT bị thở khò khè cao hơn rất nhiều

so với nhóm người bán rau (32,4% so với 14,1%) [35].

 Một số triệu chứng khác

Cơng nhân TGRT thường gặp phải các triệu chứng/bệnh về  mũi như  viêm

mũi, tắc nghẽn mũi, viêm xoang, mũi khó chịu, chảy nước mũi, sổ  mũi. Có 2,5%

cơng nhân TGRT bị  tắc nghẽn mũi được phát hiện trong nghiên cứu của tác giả

Hala Samir tại Ai Cập [19]. 33% cơng nhân TGRT bị  viêm mũi trong nghiên cứu

của tác giả Athanasiou M tại Ấn Độ, cao hơn so với nhóm chứng (27%) [9]. 36,3%

cơng nhân TGRT có triệu chứng mũi khó chịu được phát hiện trong nghiên cứu của

tác giả Prisca S, cao hơn rất nhiều so với nhóm người bán rau (4,7%) [35]. Nghiên

cứu của tác giả  Mariammal trên CN TGRT và cơng nhân xây dựng  cho thấy các

triệu chứng về mũi ở CN TGRT cũng phổ biến hơn so với cơng nhân xây dựng, như

viêm xoang  (60% so với 40%), chảy nước mũi (17,3% so với 10%) và sổ mũi (30%

so với 14,3%) [42].

Ngồi các triệu chứng trên, cơng nhân TGRT còn gặp phải các triệu chứng

như tức ngực, viêm họng, đau đầu, có đờm và hắt hơi. Có 14,2% cơng nhân TGRT

bị  tức ngực kéo dài 1 năm được phát hiện trong nghiên cứu của tác giả  Halim

Issever tại Thổ  Nhĩ Kỳ  [20]. Tác giả  Athanasious phát hiện các triệu chứng bệnh

đường hơ hấp  ở  cơng nhân TGRT cao hơn nhóm chứng tại  Ấn Độ, cụ  thể  là viêm

họng (17% so với 8%, p<0,05) [9]. Nghiên cứu của Prisca S cho thấymột số triệu

chứng xuất hiện phổ  biến hơn  ở  nhóm cơng nhân thu gom rác so với người bán

raunhư có đờm (39,2% so với 7,1%) và hắt hơi (63,7% so với 8,2%) [35].

1.2.1.2. Thực trạng mắc bệnh đường hơ hấp

Bệnh về  đường hơ hấp là một trong những bệnh phổ  biến nhất  ở  cơng nhân

TGRT đơ thị, các bệnh đường hơ hấp thường gặp trong cơng nhân TGRT là hen phế

quản, phổi tắc nghẽn mạn tính,viêm phế quản mạn tính [36], [54].

Tỷ lệ mắc bệnh về hơ hấp ở nhóm cơng nhân TGRT dao động trong khoảng từ

hơn 7% đến 71%. Cụ thể như 7,78% cơng nhân bị các bệnh về đường hơ hấp trong

18



nghiên cứu của tác giả  Nagaraj C tại thành phố  Bangalore,  Ấn Độ  [30]. Có 21%

cơng nhân bị mắc các bệnh về  đường hơ hấp được phát hiện trong nghiên cứu của

tác giả  Thayyil Jayakrishnan [44]; tỷ lệ bị các bệnh về  đường hơ hấp ở  cơng nhân

TGRT là 71%, trong khi nhóm so sánh chỉ  có 34% bị  mắc bệnh trong nghiên cứu

của Jaithli H tại Calcutta [21]. Có 25% cơng nhân TGRT bị các bệnh về đường hơ

hấp trong nghiên cứu của tác giả  Hala Samir Abou­AlWafa tại Tây Ban Nha, cao

hơn hẳn so với nhóm cơng nhân dịch vụ (12,2%) [19].

Viêm phế  quản mãn tính: Trong nghiên cứu của tác giả  Yogesh D Sabde tại

thành phố Nagpur,  Ấn Độ cho thấy 5,9% cơng nhân TGRT bị bệnh viêm phế quản

mãn tính, nhóm cơng nhân qt rác đường phố bị bệnh viêm phế quản mãn tính cao

hơn đáng kể so với nhóm chứng (OR=4,2; p<0,05) [50]. Bệnh viêm phế quản mãn

tính cũng được tìm thấy trong nghiên cứu tại Đan Mạch (7,8%) [36] và nghiên cứu

của tác giả Halim Issever tại Thổ Nhĩ Kỳ (2,3%) [19].

Hen phế  quản: 1,8% cơng nhân TGRT mắc hen phế  quản, cao hơn nhiều so

với nhóm chứng (0,7%) theo Yogesh D Sabde nghiên cứu tại Ấn Độ [51]. Hen phế

quản cũng được phát hiện trong nghiên cứu của tác giả  Halim Issever tại Thổ Nhĩ

Kỳ với tỷ lệ là 2,8%; qua phỏng vấn bằng bộ câu hỏi cho thấy có 3,66% cơng nhân

được chẩn đốn có thể  bị  hen phế  quản [20]. Nghiên cứu của tác giả  Raaschou­

Nielsen   O   cũng   cho   thấy   tỷ   lệ   công   nhân   làm   sạch   đường   phố   tại   thành   phố

Copenhagen, Đan Mạch bị  viêm phế  quản và bệnh hen suyễn cao hơn so với cơng

nhân dọn dẹp trong nghĩa trang [36]. Theo tác giả Krajewski ngun nhân dẫn đến

bệnh viêm phế  quản mạn tính và bệnh hen phế quản là do cơng nhân phải tiếp xúc

với bụi và các chất độc hại từ phương tiện giao thơng cao hơn so với tiêu chuẩn cho

phép [26].

Nghiên cứu mơ tả cắt ngang tại miền nam Brazil năm 1996 của Xavier FariaI

Neice Müller và cộng sự cho kết quảcó mối liên quan giữa điều kiện làm việc, mức

độ  tiếp xúc với bụi hữu cơ, vơ cơ  trong các trang trại, với sự  gia tăng về  các triệu

chứng bệnh đường hơ hấp trên 1379 cơng nhân. Cụ thể, 52% người được phỏng vấn

19



phải tiếp xúc với bụi ở cường độ cao trong khi làm việc.So với người ít tiếp xúc với

bụi thì cơng nhân tiếp xúc bụi nhiều có nguy cơ  mắc các triệu chứng hen suyễn

(OR=1,71; 95% OR: 1,10­2,67) và các triệu chứng bệnh hơ hấp mãn tính (OR =

1,77; 95% OR: 1,25­2,50) cao hơn 70% [49].

Bệnh phổi tắc nhẽn mãn tính cũng được tìm thấy trong nghiên cứu của tác giả

Halim Issever tại Thổ  Nhĩ Kỳ, với 22,1% cơng nhân có dấu hiệu mắc bệnh [20].

Nghiên cứu của tác giả Nku CO và cộng sự trên nữ  cơng nhân qt rác đường phố

tại Nigeria cho thấy tất cả  các giá trị  chức năng phổi đều giảm một cách rõ ràng,

mặc dù khơng có ý nghĩa thống kê [31]. Tương tự như vậy, cơng nhân qt rác bên

trong và ngồi đơ thị   ở  Bangkok, Thái Lan cũng có dấu hiệu suy giảm chức năng

phổi [48]. 

Trong nghiên cứu được thực hiện trên những cơng nhân làm việc tại bãi đổ rác

tại Chennai,  Ấn Độ, chức năng phổi của cơng nhân qt rác giảm đáng kể  so với

những người khn vác và những người lái xe, cơng nhân nữ  có giá trị  chức năng

phổi thấp hơn đáng kể  so với cơng nhân nam, chức năng phổi của cơng nhân thấp

hơn so với những người dân sống gần bãi đổ  rác [37]. Tác giả  Liang Li HHui và

cộng sự đã theo dõi chức năng phổi của 30 cơng nhân mơi trường đơ thị và 30 giáo

viên trong thành phố thuộc tỉnh Fujian trong vòng 10 năm tại Trung Quốc. Kết quả

cho thấy, tất cả các giá trị đo chức năng phổi ở cơng nhân TGRT đều giảm đáng kể

so với nhóm giáo viên sau 10 năm theo dõi, các chỉ số giảm ở cơng nhân nam nhiều

hơn so với cơng nhân nữ, chức năng phổi ở cơng nhân tương quan nghịch với thời

gian làm việc của họ [53]. Qua các nghiên cứu trên đều cho thấy, chức năng phổi

của cơng nhân TGRT đơ thị  bị  giảm rõ rệt, thời gian làm việc càng lâu thì chức

năng phổi càng yếu, ngun nhân chủ yếu là do tiếp xúc với nồng độ bụi cao trong

mơi trường làm việc.

1.2.2. Tại Việt Nam

Tại Việt Nam, chưa có nhiều nghiên cứu về  các vấn đề  sức khoẻ  ở đối tượng

cơng nhân TGRT, đặc biệt trong vấn đề hơ hấp. Nghiên cứu của tác giả Đồn Tuyết

20



Nhung năm 1995 tập trung vào điều kiện lao động của nữ  cơng nhân vệ  sinh mơi

trường đơ thị cho thấy nhóm cơng nhân qt rác có tỷ  lệ mắc bệnh về tai mũi họng

lên đến 99%, ở nhóm vệ sinh cơng cộng tỷ lệ mắc các bệnh về tai mũi họng lên đến

100% [1].

1.3.



Một số yếu tố liên quan đến triệu chứng bệnh đường hơ hấp ở cơng nhân



thu gom rác thải đơ thị

Các nghiên cứu chỉ ra rằng các tình trạng mắc triệu chứng bệnh đường hơ hấp

có thể do sự tương tác, kết hợp của nhiều yếu tố như các yếu tố cá nhân, yếu tố điều

kiện lao động của cơng nhân, mơi trường sống [15], [39]. 

1.3.1. Các yếu tố liên quan đến điều kiện lao động

Điều kiện lao động đặc thù của cơng nhân TGRT là làm việc ngồi trời, cơng

việc bao gồm phải đi bộ từ 2­4 km để đẩy xe rác, qt rác, trực tiếp tiếp xúc với rác

thải, chịu  ảnh hưởng của điều kiện khí hậu khơng thuận lợi cả  mùa đơng lẫn mùa

hè,   thường   xun   tiếp   xúc   với   bụi   bẩn,   hóa   chất   độc   hại,   vi   sinh   vật   gây

bệnh,...trong mơi trường lao độnglàm tăng tỷ  lệ mắc các triệu chứng đường hơ hấp

ở cơng nhân [15], [39], [54].

1.3.1.1. Điều kiện khí hậu và nhiệt độ 

Với nhiệm vụ TGRT, cơng nhân phải làm việc  ở ngồi trời và chịu ảnh hưởng

trực tiếp của khí hậu và nhiệt độ. Một nghiên cứu trên 1735 cơng nhân của tác giả

Jordi Sunyer và cơng sự  năm 1998 tại Tây Ban Nha cho thấy yếu tố nhiệt độ  (q

cao và q thấp) làm tăng nguy cơ  mắc triệu chứng đường hơ hấp, cụ  thể  là tăng

nguy cơ ho gấp 3 lần (OR=2.93; 95% OR (2,24­3,33)) và tăng nguy cơ khó thở gấp

2 lần  (OR 1,72; 95% OR (1,52­2,31)) [24]. 

Theo nghiên cứu của tác giả  Đồn Tuyết Nhung và cộng sự  về  điều kiện lao

động của nữ  cơng nhân TGRT đơ thị  Hà Nội, do tính chất của cơng việc nữ  cơng

nhân phải làm việc ngồi trời nên phải chịu  ảnh hưởng trực tiếp khí hậu tự  nhiên

của vùng. Theo số liệu nha khí tượng thì ở miền bắc Việt Nam hàng năm trung bình

có khoảng 60­70 ngày khơng khí lạnh dưới 20oC, chiếm khoảng 16­18% thời gian

21



một năm (thấp hơn tiêu chuẩn cho phép từ 1­5oC) và khoảng 65­75 ngày khơng khí

nóng, khó chịu từ  32­37oC và trên 37oC chiếm khoảng 17­19% thời gian một năm

(vượt TCVSCP từ 2­7oC). Như vậy mỗi năm cơng nhân TGRT ở Hà Nội có 33­37%

thời gian phải làm việc trong điều kiện nhiệt độ  khơng khí ngồi vùng TCVSCP.

Chưa tính tới thời gian có thời tiết khắc nghiệt như  gió mùa đơng bắc nhiệt độ

xuống 5­10oC hay mưa bão, rét buốt khi cơng nhân vẫn làm việc đến 24 giờ  đêm

hoặc 1­2 giờ sáng hơm sau, tạo điều kiện kchịudài với những điều kiện khí hậu như

vậy sẽ  dẫn đến các triệu chứng bệnh đường hơ hấp như  ho, khó thở,… và chứng

bệnh về đường hơ hấp như viêm phế quản, viêm họng mãn,... [1].

1.3.1.2. Phơi nhiễm với bụi, hơi khí độc và yếu tố vi sinh vật

Với điều kiện lao động chủ yếu là làm việc ngồi trời và trên đường phố, cơng

nhân TGRT thường xun phải tiếp xúc với lượng lớn bụi trong mơi trường làm

việc. Bụi được phát sinh từ  các phương tiện giao thơng hay trong q trình cơng

nhân sử dụng chổi để  qt đường phố  [19]. Cơng nhân TGRT có nguy cơ  tiếp xúc

với hỗn hợp các chất ơ nhiễm, là ngun nhân thường gặp của các triệu chứng bệnh

đường hơ hấp về  [20].

Theo tác giả  Hala Samir Abou­ElWafa và cộng sự  tại  Ấn Độ, phơi nhiễm vi

sinh vật liên quan đến chất thải có thể  xảy ra  ở nơi chất thải được lưu trữ  hoặc bãi

tập trung ở ngồi trời, trong q trình phân loại, vận chuyển và dọn dẹp. Nghiên cứu

còn chỉ ra rằng việc tập trung rác thải tạo điều kiện thuận lợi cho sự phát triển của vi

sinh vật như  vi khuẩn Gram âm và từ  đó hình thành các nội độc tố  dưới dạng giọt

treo, khi được hít vào, gây viêm đường hơ hấp và những vấn đề sức khỏe khác [17].

Một số nghiên cứu cho rằng vi sinh vật tích lũy trong quần áo có thể là nguồn gây ra

các triệu chứng bệnh đường hơ hấp [15].

Nghiên cứu tại Việt Nam trên đối tượng cơng nhân TGRT còn hạn chế, mới

chỉ dừng lại ở nhóm nữ cơng nhân TGRT đơ thị làm việc trong mơi trường độc hại,

thường xun tiếp xúc với các loại bụi bẩn và hơi khí độc trong phân, rác, phế thải

cơng nghiệp. Dưới sự  tác động của điều kiện mơi trường, chất thải tại các tụ  điểm



22



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Đường hô hấp dưới dẫn không khí đi vào trong các phế nang.

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×