Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
2: Đặc điểm thị trường dầu thô Việt Nam.

2: Đặc điểm thị trường dầu thô Việt Nam.

Tải bản đầy đủ - 0trang

Luận văn tốt nghiệp



Học viện Tài chính



+ Dầu mỏ Việt Nam được khai thác từ các mỏ vẫn luôn

hấp dẫn khách hàng gần xa bởi chất lượng, uy tín giao dịch.

Dầu Bạch Hổ chiếm tới 60% tổng sản lượng dầu thô xuất khẩu

của Việt Nam.

+ Có hệ thống khách hàng truyền thống, gắn bó chặt chẽ

với Công Ty Khai thác dầu trong mọi hoàn cảnh thăng trầm,

có lúc thị trường dầu thô thế giới đóng băng nhưng dầu thô

Việt Nam vẫn xuất khẩu đều tránh được hiện tượng đóng mỏ.

Từ 2003, sản lượng Mỏ Bạch Hổ bắt đầu suy giảm, song lại

được bổ sung bởi dầu khai thác từ mỏ Sư Tử Đen và đưa vào

xuất khẩu với sản lượng gần 70.000 thùng/ngày. Sắp tới mỏ

Sư Tử Vàng và Sư Tử Trắng được đưa vào khai thác sẽ hứa hẹn

sự tăng trưởng cho kim ngạch xuất khẩu dầu thô Việt Nam

- Khó khăn:

+ Là mặt hàng đặc biệt, ngoài việc bị điều chỉnh bởi

cung cầu của thị trường thế giới, giá dầu còn bị chi phối bởi

những yếu tố thời tiết, biến động chính trị.

+ Giống như những mặt hàng khác, dầu thô cũng vấp

phải những cạnh tranh quyết liệt, nhất là đối với dầu mỏ Châu

Phi, Trung Đông giống chất lượng dầu của Việt Nam, nhưng

được chào bán với giá rẻ hơn 5USD /thùng, nên khách hàng bị

lôi kéo .

+ Tiềm năng, lượng dầu xuất khẩu của Việt Nam không

lớn, chỉ xếp thứ 50 trong số 56 nước xuất khẩu dầu thơ, bình

qn đầu người 2 thùng/người, các nước khác bình quân 50

thùng/người.



SV: Bùi Thị Phương



Lớp: CQ51/18.01



Luận văn tốt nghiệp



Học viện Tài chính



+Một bất lợi của giá dầu cao, đối với kinh tế Việt Nam

phải nhập 100 % xăng dầu vì thế kim ngạch nhập khẩu tăng,

nhà nước phải dùng doanh thu xuất khẩu bù cho lượng tăng

nhập khẩu. Như vậy nếu giá xăng dầu tăng, nguồn thu không

đủ bù chi.



SV: Bùi Thị Phương



Lớp: CQ51/18.01



Luận văn tốt nghiệp



Học viện Tài chính



CHƯƠNG II: TÁC ĐỢNG CỦA GIÁ DẦU TỚI THU NGÂN SÁCH

NHÀ NƯỚC Ở VIỆT NAM.

I. Biến động trên thị trường dầu thô thế giới.

Giá dầu thô giảm mạnh, các định chế lớn như Goldman Sachs (2015)

hay EIA (2016a) đều đưa ra những dự báo về triển vọng đi xuống trong ngắn

hạn của giá dầu thô. Điểm dừng và xu hướng của giá dầu sẽ phụ thuộc phần

lớn vào hai yếu tố: (i) cân bằng cung cầu; và (ii) mức dự trữ khả dụng của thế

giới.

- Cân bằng cung cầu:

Tính đến Q4-2015, thị trường nhiên liệu long thế giới đã chứng kiến 8

quý dư cung liên tiếp ở mức trung bình 1,41 triệu thùng/ngày.

Sản lượng tăng nhanh trong bối cảnh cầu thế giới chậm lại đã gây ra sự

mất cân bằng thị trường. Trong số những nguyên nhân, sản lượng khai thác

của Hoa Kỳ tăng đột biến nhờ công nghệ khoan ngang. Trong sản lượng 5,26

triệu thùng nhiên liệu long/ngày tăng lên giai đoạn 2012-2015, 4,22 triệu

thùng đến từ Hoa Kỳ (chiếm 80% sản lượng tăng thêm). So với tháng

10/2008, sản lượng dầu thô tháng 10/2015 của Hoa Kỳ đã tăng gần gấp đơi,

lên mức trung bình 9,4 triệu thùng/ngày, xấp xỉ sản lượng hai nước sản xuất

dầu lớn nhất thế giới là Nga và Arập-xê-út.

Trong khi đó, từ cuối năm 2014, thế giới chứng kiến sự sụt giảm nhu cầu

năng lượng từ Trung Quốc và các nước mới nổi. Tiêu thụ năng lượng giảm

tuyệt đối trong 3 quý liên tiếp trước khi hồi phục nhẹ vào Q3/2015 và tiếp tục

sụt giảm vào Q4/2015. Triển vọng tăng trưởng vẫn tiếp tục ảm đạm tại các

quốc gia đang phát triển đang ngăn chặn những kỳ vọng vào sự hồi phục của

giá dầu.



SV: Bùi Thị Phương



Lớp: CQ51/18.01



Luận văn tốt nghiệp



Học viện Tài chính



Hình 1. Cân bằng sản xuất- tiêu thụ nhiên liệu hóa l ỏng, (triệu thùng/ngày)

100

98



6



Dự báo



Cân bằng sản lượng-tiêu thụ (phải)



5



Sản lượng thế giới (trái) Tiêu thụ thế



96



4



giới (trái)



94



3



92



2



90



1



88



0



86



-1



84



-2



82

2011-Q1



-3

2012-Q1



2013-Q1



2014-Q1



2015-Q1



2016-Q1



2017-Q1



Nguồn: EIA



Hình 2. Tỷ trọng thay đổi sản lượng nhiên liệu lỏng theo vùng năm 2015 (%)

Nguồn: EIA

14%



Hoa

Kỳ



6%

OPE

C

80%

Còn lại



Trước mức tăng mạnh của lượng cung dầu thô, trong phiên họp thường

kỳ vào tháng 12/2015, Tổ chức các nước xuất khẩu dầu mo thế giới (OPEC),

thay vì thực hiện cắt giảm sản lượng như trong những lần sụt giá trước đây, đã

quyết định nâng mức trần sản lượng từ 30 triệu thùng/ngày lên mức 31,5 triệu

thùng/ngày1.

Hiện đang có sự bất đồng lớn trong OPEC giữa nhóm các nước đồng

minh của Arập-xê-út, với Iran cùng các nước khác. Theo DallasFED (2015),

những bất đồng này đến từ ba lý do chính: (i) bất đồng trong việc phân bổ

lượng dầu xuất khẩu cho các nước thành viên khi Iran được dỡ bo các lệnh



SV: Bùi Thị Phương



Lớp: CQ51/18.01



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

2: Đặc điểm thị trường dầu thô Việt Nam.

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×