Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Thu Ngân sách Nhà nước:

Thu Ngân sách Nhà nước:

Tải bản đầy đủ - 0trang

Luận văn tốt nghiệp



Học viện Tài chính



trình Nhà nước huy đợng các ng̀n tài chính để hình thành nên quỹ tiền tệ

tập trung của Nhà nước nhằm thoa mãn các nhu cầu chi tiêu của mình. Thu

ngân sách nhà nước chỉ bao gồm những khoản tiền Nhà nước huy động vào

ngân sách mà không bị ràng buộc bởi trách nhiệm hồn trả trực tiếp cho đối

tượng nợp. Theo Luật ngân sách nhà nước hiện hành, nội dung các khoản thu

ngân sách nhà nước bao gồm: Thuế, phí, lệ phí do các tổ chức và cá nhân nộp

theo quy định của pháp luật; các khoản thu từ hoạt động kinh tế của Nhà

nước; các khoản đóng góp của các tổ chức và cá nhân; các khoản viện trợ; các

khoản thu khác theo quy định của pháp luật. Các khoản thu mang tính chất

hoàn trả như vay nợ và viện trợ có hồn lại khơng tính vào thu ngân sách nhà

nước.

Vậy thu ngân sách nhà nước là sự phân chia nguồn tài chính quốc gia

giữa nhà nước với chủ thể trong xã hội dựa trên quyền lực nhà nước, nhằm

giải quyết hài hòa các lợi ích kinh tế, xuất phát từ yêu cầu tồn tại và phát triển

của bộ máy nhà nước cũng như yêu cầu thực hiện các chức năng nhiệm vụ

kinh tế xã hội của nhà nước.

2.1.2. Đặc điểm:

Thứ nhất, thu ngân sách nhà nước không thể được tiến hành một cách

tùy tiện mà phải theo khuôn khổ của pháp luật. Để thực hiện hoạt động thu

ngân sách, Nhà nước phải ban hành các văn bản pháp luật quy định về hình

thức thu cũng như nợi dung thu. Các văn bản pháp luật này sẽ một mặt tạo

nền tảng pháp lý vững chắc cho hoạt động thu ngân sách của Nhà nước, mặt

khác giới hạn quyền thu của Nhà nước.

Thứ hai, thu ngân sách nhà nước nhằm huy động một bộ phận giá trị sản

phẩm xã hội, do vậy hoạt động này luôn gắn chặt với thực trạng kinh tế của

đất nước, với mức độ phát triển của nền kinh tế. Cơ sở hoạt động chủ yếu của

thu ngân sách nhà nước là giá trị các sản phẩm hàng hóa, dịch vụ được sản



SV: Bùi Thị Phương



Lớp: CQ51/18.01



Luận văn tốt nghiệp



Học viện Tài chính



xuất ra từ các khu vực kinh tế. Như vậy, chỉ tiêu tổng sản phẩm quốc nội và

chỉ số tăng trưởng kinh tế là những chỉ tiêu chủ yếu chi phối tỷ lệ giá trị sản

phẩm xã hội mà Nhà nước có thể tập trung vào quỹ ngân sách nhà nước. Nói

cách khác, đây là những yếu tố quan trọng nhất quyết định mức động viên vào

ngân sách nhà nước thông qua hoạt động thu ngân sách nhà nước. Những yếu

tố khác cũng có ảnh hưởng nhất định tới mức độ tập trung các nguồn thu vào

ngân sách nhà nước, bao gồm: tiềm năng và thực tế khai thác tài nguyên thiên

nhiên, chính sách chi tiêu của Chính phủ, quan hệ đối ngoại của Nhà nước và

bộ máy tổ chức hành thu.

Thứ ba, thu ngân sách nhà nước được thực hiện thông qua hai cơ chế

pháp lý điển hình là bắt ḅc và tự nguyện, trong đó cơ chế bắt buộc được

xem là chủ yếu. Thông thường, cơ chế bắt buộc được áp dụng trong trường

hợp Nhà nước tiến hành tập trung các khoản thu từ thuế, phí và lệ phí vào

ngân sách nhà nước còn cơ chế tự nguyện lại được Nhà nước áp dụng trong

trường hợp cần huy động các khoản tiền viện trợ của nước ngồi, của các tở

chức quốc tế hay các khoản đóng góp tự nguyện khác của công chúng cho

Nhà nước.

Và cuối cùng thu ngân sách nhà nước được thực hiện theo ngun tắc

hồn trả khơng trực tiếp là chủ yếu.

2.1.3. Các khoản thu Ngân sách Nhà Nước:

Các khoản thu ngân sách nhà nước gồm nhiều loại, theo điều 2 Luật

ngân sách nhà nước năm 2002, thu ngân sách nhà nước gồm các khoản: thu từ

thuế, phí, lệ phí; thu từ hoạt động kinh tế của nhà nước; các khoản đóng góp

của các tổ chức và cá nhân; các khoản viện trợ; và các khoản thu khác theo

quy định của pháp luật.

Thuế là khoản thu mang tính cưỡng chế do Nhà nước huy động từ các tổ

chức, cá nhân và tập trung vào quỹ ngân sách nhà nước. Thu từ thuế là nguồn



SV: Bùi Thị Phương



Lớp: CQ51/18.01



Luận văn tốt nghiệp



Học viện Tài chính



thu chiếm tỷ trọng chủ yếu trong tởng thu ngân sách nhà nước. Điều đó được

lý giải bởi thuế đánh vào hầu hết các hoạt động sản xuất, chế tạo, sửa chữa,

chế biến,...; bởi thuế đánh vào cả các khoản thu nhập thường xuyên và bất

thường của những người có thu nhập cao; và bời thuế đánh vào cả hoạt đợng

tiêu dùng xã hợi.

Phí và lệ phí là khoản thu có tính chất bắt buộc, nhưng mang tính đối

giá, nghĩa là phí và lệ phí thực chất là khoản tiền mà mọi công dân trả cho nhà

nước khi họ hưởng thụ các dịch vụ do nhà nước cung cấp. So với thuế, tính

pháp lý của phí và lệ phí thấp hơn nhiều. Phí gắn liền với vấn đề thu hời mợt

phần hay tồn bợ chi phí đầu tư đối với hàng hóa dịch vụ cơng cợng hữu hình.

Lệ phí gắn liền với việc thụ hưởng những lợi ích do việc cung cấp các dịch vụ

hành chính, pháp lý cho các thể nhân và pháp nhân.

Thu từ hoạt động kinh tế của Nhà nước gồm tiền thu hồi vốn của Nhà

nước tại các cơ sở kinh tế; thu hồi tiền cho vay của Nhà nước (cả gốc và lãi)

đối với tổ chức, cá nhân; thu nhập của Nhà nước từ việc góp vốn vào các cơ

sở kinh tế, kể cả thu từ lợi nhuận sau khi thực hiện nghĩa vụ về thuế của các tổ

chức kinh tế có sự tham gia góp vốn của Nhà nước.

Những khoản thu khác hình thành nên quỹ ngân sách nhà nước gồm các

khoản đóng góp của các tổ chức và cá nhân như khoản đóng góp dưới hình

thức tự nguyện và các khoản tiền huy động từ các tổ chức, cá nhân theo quy

định của pháp luật; các khoản viện trợ khơng hồn lại của Chính phủ các

nước, của các tổ chức và cá nhân ở nước ngoài; các khoản thu khác theo quy

định của pháp luật như thu từ các di sản Nhà nước được hưởng, thu các khoản

tiền phạt, tịch thu, thu hồi dự trữ nhà nước... Mặc dù không phải là những

khoản thu thường xuyên của ngân sách nhà nước nhưng những khoản thu này

cũng góp phần đáng kể vào việc cân đối thu – chi, đáp ứng nhu cầu chi tiêu

của Nhà nước.



SV: Bùi Thị Phương



Lớp: CQ51/18.01



Luận văn tốt nghiệp



Học viện Tài chính



2.2. Các nhân tố ảnh hưởng đến ng̀n thu Ngân sách Nhà nước.

-Thu nhập GDP bình quân đầu người: Tổng GDP phản ánh quy mô của

nền kinh tế, từ đó quyết định đến tổng thu NSNN, còn GDP bình qn đầu

người là mợt chỉ tiêu phản ánh trình độ tăng trưởng và phát triển của nền kinh

tế, phản ánh khả năng tiết kiệm, tiêu dùng và đầu tư của mợt nước. GDP bình

qn đầu người là mợt yếu tố khách quan quyết định mức động viên của

NSNN. Do đó, khi xác định mức độ động viên thu nhập vào NSNN mà thốt

ly chỉ tiêu này thì sẽ có những ảnh hưởng tiêu cực đến các vấn đề tiết kiệm,

tiêu dùng và đầu tư của nền kinh tế.

-Tỷ suất lợi nhuận bình quân trong nền kinh tế: Đây là chi tiêu phản ánh

hiệu quả của đầu tư phát triển nền kinh tế nói chung và hiệu quả của các

doanh nghiệp nói riêng. Tỷ suất lợi nhuận bình quân càng lớn sẽ phản ánh khả

năng tái tạo và mở rộng các nguồn thu nhập trong nền kinh tế càng lớn, từ đó

đưa tới khả năng huy động cho ngân sách nhà nước. Đây là yếu tố quyết định

đến việc nâng cao tỷ suất thu ngân sách nhà nước. Do vậy, khi xác định tỷ

suất thu Ngân sách cần căn cứ vào tỷ suất lợi nhuận bình quân trong nền kinh

tế để đảm bảo việc huy động của Ngân sách Nhà nước không gây khó khăn về

mặt tài chính cho các hoạt động kinh tế.

-Khả năng khai thác và xuất khẩu nguồn tài nguyên thiên nhiên (dầu mỏ

và khoáng sản): Đối với các nước có nguồn tài nguyên thiên nhiên dồi dào

phong phú thì việc khai thác và xuất khẩu tài nguyên sẽ đem lại nguồn thu to

lớn cho Ngân sách Nhà nước. Kinh nghiệm của các nước cho thấy, nếu tỷ

trọng xuất khẩu dầu mo và khoáng sản chiếm trên 20% tởng kim ngạch xuất

khẩu thì tỷ suất thu Ngân sách sẽ cao và có khả năng tăng nhanh. Với cùng

một điều kiện phát triển kinh tế, quốc gia nào có tỷ trọng xuất khẩu dầu mo và

khoáng sản lớn thì tỷ lệ đợng viên vào ngân sách nhà nước cũng lớn hơn.



SV: Bùi Thị Phương



Lớp: CQ51/18.01



Luận văn tốt nghiệp



Học viện Tài chính



-Mức độ trang trải các khoản chi phí của Nhà nước: Mức độ trang trải

các khoản chi phí của Nhà nước phụ thuộc vào nhiều yếu tố như quy mô tổ

chức của bộ máy Nhà nước và hiệu quả hoạt động của bộ máy đó, những

nhiệm vụ kinh tế - xã hội mà Nhà nước đảm nhận trong từng giai đoạn lịch

sử, chính sách sử dụng kinh phí của Nhà nước. Khi các nguồn tài trợ khác cho

chi phí hoạt động của Nhà nước không có khả năng tăng lên, việc tăng mức

độ chi phí của Nhà nước sẽ đòi hoi tỷ suất thu của Ngân sách cũng tăng lên.

Các nước đang phát triển thường rơi vào tình trạng nhu cầu chi tiêu của ngân

sách nhà nước vượt quá khả năng thu, nên các Chính phủ thường phải vay nợ

để bù đắp bội chi.

-Tổ chức bộ máy thu nộp: Tổ chức bộ máy thu nộp có ảnh hưởng đến chi

phí và hiệu quả hoạt động của bộ máy này. Nếu tổ chức hệ thống cơ quan

thuế, hải quan, kho bạc Nhà nước gọn nhẹ, đạt hiệu quả cao, chống lại thất

thu do trốn, lậu thuế thì đây sẽ là yếu tố tích cực làm giảm tỷ suất thu ngân

sách nhà nước mà vẫn thoa mãn được các nhu cầu chi tiêu của ngân sách nhà

nước.

II. Tổng quan về dầu và thị trường xăng dầu.

1.



Khái niệm.



1.1.



Dầu thô.

Dầu thô là chất sánh long, màu nâu đen, không tan trong nước và nhẹ



hơn nước. Là hợp chất hydrocacbon được khai thác lên từ lòng đất, thường ở

thể long và thể khí. Ở thể khí, chúng bao gồm khí thiên nhiên và khí đờng

hành. Khí thiên nhiên là tồn bợ hydrocacbon ở thể khí khai thác từ giếng

khoan gồm cả khí ẩm và khí khô. Khí đồng hành là khí tự nhiên nằm trong

các vỉ dầu dưới dạng mũ khí hoặc khí hòa tan và được khai thác đồng thời với

dầu thô.Trong bảng tuần hoàn, nguyên tố cacbon và hydro có đặc tính kỳ diệu



SV: Bùi Thị Phương



Lớp: CQ51/18.01



Luận văn tốt nghiệp



Học viện Tài chính



là trong các điều kiện nhiệt đợ và áp suất khác nhau, chúng kết hợp và tạo

thành những hợp chất hydrocacbon khác nhau.

Khi tiến hành chưng cất dầu thô sẽ nhận được nhiều phân đoạn sản

phẩm, được phân biệt với nhau bởi nhiệt độ sôi, bởi thành phần hydrocacbon,

độ nhớt, nhiệt độ nhớt, nhiệt độ chớp cháy, nhiệt độ đông đặc, và bởi nhiều

tính chất khác có liên quan đến việc sử dụng. Từ chưng cất có thể nhận được

các sản phẩm sau:

 Xăng: là sản phẩm thuộc phân đoạn có nhiệt độ sôi từ 30 – 35 0 tới

1800C.



 Nhiên liệu phản lực: phân đoạn có nhiệt độ sôi từ 120 – 240 0C. Nếu có

hàm lượng lưu huỳnh trong sản phẩm lớn, người ta phải tiến hành làm sạch

nhờ xử lý bằng hydro.

 Dầu hảo: phân đoạn từ 150 -2800C hoặc 150 – 3500C (các loại dầu ít

lưu huỳnh)

 Diesel: phân đoạn từ 140 – 3600C .Nếu hợp chất nhiều lưu huỳnh khử

bằng hydro, nếu chứa nhiều hydrocacbon paraffin thì phải tiến hành tách n –

paraffin.

 Mazut: phân đoạn cặn của quá trình chưng cất.

 Dầu mỡ nhờn: phân đoạn từ 320 -4000C, 300 – 4200C, 400 – 4500C.

 Nhựa đường: là sản phẩm cặn cuối cùng của q trình chưng cất các

sản phẩm dầu thơ.

 Khí hóa lỏng(LPG): sản phẩm được tách ra từ khí (khí đồng hành).

Thành phần chính C3 – C4. Khí hóa long thường được dưới dạng long , chủ

yếu sử dụng trong sinh hoạt dân dụng còn khí thơ thì được vận dụng chuyển

thẳng bằng đường ống đến các nhà máy tiêu thụ như nhà máy điện.

1.2.



Xăng.



SV: Bùi Thị Phương



Lớp: CQ51/18.01



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Thu Ngân sách Nhà nước:

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×