Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
CHƯƠNG I: LÝ LUẬN CHUNG VỀ THU NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC VÀ TỔNG QUAN VỀ GIÁ DẦU THÔ, THỊ TRƯỜNG DẦU THÔ.

CHƯƠNG I: LÝ LUẬN CHUNG VỀ THU NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC VÀ TỔNG QUAN VỀ GIÁ DẦU THÔ, THỊ TRƯỜNG DẦU THÔ.

Tải bản đầy đủ - 0trang

Luận văn tốt nghiệp



Học viện Tài chính



Các nhà kinh tế học hiện đại cũng đưa ra nhiều định nghĩa khác nhau về

ngân sách nhà nước. Các nhà kinh tế Nga cho rằng: “Ngân sách nhà nước là

bảng liệt kê các khoản thu chi bằng tiền trong một giai đoạn nhất định của nhà

nước”. Các nhà kinh tế Pháp đưa ra quan điểm “Ngân sách nhà nước là văn

kiện được Nghị viện hoặc Hội đồng thảo luận và phê chuẩn mà trong đó, các

nghiệp vụ tài chính (thu, chi) của một tổ chức công (Nhà nước, chính quyền

địa phương, đơn vị công) hoặc tư (doanh nghiệp, hiệp hội) được dự kiến và

cho phép.

Còn ở Trung Quốc: “Ngân sách nhà nước là kế hoạch thu - chi tài chính

hàng năm của Nhà nước được xét duyệt theo trình tự pháp định”.

Qua quá trình nghiên cứu về ngân sách nhà nước, chúng tơi đã quyết

định sử dụng định nghĩa của Luật Ngân sách Nhà nước của Việt Nam đã được

Quốc hội Việt Nam thông qua ngày 16/12/2002 cho bài nghiên cứu khoa học

như sau: Ngân sách Nhà nước là toàn bộ các khoản thu, chi của Nhà nước

trong dự toán đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền quyết định và được

thực hiện trong một năm để đảm bảo thực hiện các chức năng và nhiệm vụ

của nhà nước.

1.2. Đặc điểm của ngân sách nhà nước:

Ngân sách nhà nước là một bộ phận chủ yếu của hệ thống tài chính quốc

gia. Nó bao gồm những quan hệ tài chính nhất định trong tổng thể các quan

hệ tài chính quốc gia, cụ thể:

-Quan hệ tài chính giữa nhà nước với công dân.

-Quan hệ tài chính giữa nhà nước với doanh nghiệp.

-Quan hệ tài chính giữa nhà nước với tổ chức xã hội.

-Quan hệ tài chính giữa nhà nước với quốc tế.

Các quan hệ trên mang năm đặc điểm sau:



SV: Bùi Thị Phương



Lớp: CQ51/18.01



Luận văn tốt nghiệp



Học viện Tài chính



-Hoạt đợng thu chi của ngân sách nhà nước luôn gắn chặt với quyền lực

kinh tế - chính trị của nhà nước, và việc thực hiện các chức năng của nhà

nước, được nhà nước tiến hành trên cơ sở những luật lệ nhất định.

-Hoạt động ngân sách nhà nước là hoạt động phân phối lại các nguồn tài

chính, nó thể hiện ở hai lãnh vực thu và chi của nhà nước.

-Ngân sách nhà nước luôn gắn chặt với sở hữu nhà nước, luôn chứa đựng

những lợi ích chung, lợi ích công cộng.

-Ngân sách nhà nước cũng có những đặc điểm như các quỹ tiền tệ khác.

Nét khác biệt của ngân sách nhà nước với tư cách là một quỹ tiền tệ tập trung

của nhà nước, nó được chia thành nhiều quỹ nho có tác dụng riêng, sau đó

mới được chi dùng cho những mục đích đã định.

-Hoạt động thu chi của ngân sách nhà nước được thực hiện theo ngun

tắc khơng hồn trả trực tiếp là chủ yếu.

1.3. Vai trò của Ngân sách Nhà nước:

Ngân sách nhà nước là một khâu then chốt trong hệ thống tài chính, có

vai trò rất quan trọng trong toàn bộ hoạt động kinh tế, xã hội, an ninh, quốc

phòng và đối ngoại của đất nước. Cần hiểu rằng, vai trò của ngân sách nhà

nước luôn gắn liền với vai trò của nhà nước theo từng giai đoạn nhất định.

Đối với nền kinh tế thị trường, ngân sách nhà nước đảm nhận vai trò quản lý

vĩ mơ đối với tồn bộ nền kinh tế, xã hội.

Ngân sách nhà nước có những vai trò sau:

-Là công cụ huy động và cung cấp nguồn tài chính để đảm bảo các nhu

cầu chi tiêu của nhà nước, đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng khu vực công.

-Là công cụ để điều tiết vĩ mô nền kinh tế-xã hội.

-Là công cụ để định hướng, kích thích sản xuất kinh doanh xác lập cơ

cấu kinh tế hợp lý của nền kinh tế quốc dân.



SV: Bùi Thị Phương



Lớp: CQ51/18.01



Luận văn tốt nghiệp



Học viện Tài chính



-Là cơng cụ để điều tiết thị trường, bình ởn giá cả, chống đợc quyền và

kiểm sốt lạm phát.

-Là cơng cụ để điều tiết thu nhập giữa các thành phần kinh tế và các tầng

lớp dân cư nhằm đảm bảo công bằng xã hội.

1.4. Chức năng của Ngân sách Nhà nước:

- Huy động nguồn tài chính và đảm bảo các nhu cầu chi tiêu theo kế

hoạch nhà nước.

- Thực hiện cân đối giữa các khoản thu - chi ( bằng tiền ) của Nhà nước.

1.5 Bản chất của Ngân sách Nhà nước:

Ngân sách Nhà nước không thể thiếu được với mỗi Nhà nước. Bản chất

của ngân sách là hệ thống các mối quan hệ về kinh tế phát sinh trong quá trình

Nhà nước huy đợng và sử dụng các ng̀n tài chính, nhằm đảm bảo yêu cầu

thực hiện các chức năng quản lý và điều hành nền kinh tế - xã hợi của mình.

Bản chất của ngân sách nhà nước quyết định các chức năng của ngân sách nhà

nước.

2. Thu Ngân sách Nhà nước:

2.1. Khái niệm, đặc điểm và nội dung của thu Ngân sách Nhà nước.

2.1.1. Khái niệm:

Để có kinh phí chi cho mọi hoạt đợng của mình, nhà nước đã đặt ra các

khoản thu (các khoản thuế khóa) do mọi cơng dân đóng góp để hình thành

nên quỹ tiền tệ của mình. Thực chất, thu ngân sách nhà nước là việc nhà nước

dùng quyền lực của mình để tập trung mợt phần ng̀n tài chính quốc gia hình

thành quỹ ngân sách nhà nước nhằm thoa mãn các nhu cầu của nhà nước.

Ở Việt Nam, đứng về phương diện pháp lý, thu ngân sách nhà nước bao

gồm những khoản tiền Nhà nước huy động vào ngân sách để thoa mãn nhu

cầu chi tiêu của Nhà nước. Về mặt bản chất, thu ngân sách nhà nước là hệ

thống những quan hệ kinh tế giữa Nhà nước và xã hội phát sinh trong quá



SV: Bùi Thị Phương



Lớp: CQ51/18.01



Luận văn tốt nghiệp



Học viện Tài chính



trình Nhà nước huy đợng các ng̀n tài chính để hình thành nên quỹ tiền tệ

tập trung của Nhà nước nhằm thoa mãn các nhu cầu chi tiêu của mình. Thu

ngân sách nhà nước chỉ bao gờm những khoản tiền Nhà nước huy động vào

ngân sách mà không bị ràng ḅc bởi trách nhiệm hồn trả trực tiếp cho đối

tượng nộp. Theo Luật ngân sách nhà nước hiện hành, nội dung các khoản thu

ngân sách nhà nước bao gồm: Thuế, phí, lệ phí do các tổ chức và cá nhân nộp

theo quy định của pháp luật; các khoản thu từ hoạt động kinh tế của Nhà

nước; các khoản đóng góp của các tổ chức và cá nhân; các khoản viện trợ; các

khoản thu khác theo quy định của pháp luật. Các khoản thu mang tính chất

hoàn trả như vay nợ và viện trợ có hồn lại khơng tính vào thu ngân sách nhà

nước.

Vậy thu ngân sách nhà nước là sự phân chia nguồn tài chính quốc gia

giữa nhà nước với chủ thể trong xã hội dựa trên quyền lực nhà nước, nhằm

giải quyết hài hòa các lợi ích kinh tế, xuất phát từ yêu cầu tồn tại và phát triển

của bộ máy nhà nước cũng như yêu cầu thực hiện các chức năng nhiệm vụ

kinh tế xã hội của nhà nước.

2.1.2. Đặc điểm:

Thứ nhất, thu ngân sách nhà nước không thể được tiến hành một cách

tùy tiện mà phải theo khuôn khổ của pháp luật. Để thực hiện hoạt động thu

ngân sách, Nhà nước phải ban hành các văn bản pháp luật quy định về hình

thức thu cũng như nội dung thu. Các văn bản pháp luật này sẽ một mặt tạo

nền tảng pháp lý vững chắc cho hoạt động thu ngân sách của Nhà nước, mặt

khác giới hạn quyền thu của Nhà nước.

Thứ hai, thu ngân sách nhà nước nhằm huy động một bộ phận giá trị sản

phẩm xã hội, do vậy hoạt động này luôn gắn chặt với thực trạng kinh tế của

đất nước, với mức độ phát triển của nền kinh tế. Cơ sở hoạt động chủ yếu của

thu ngân sách nhà nước là giá trị các sản phẩm hàng hóa, dịch vụ được sản



SV: Bùi Thị Phương



Lớp: CQ51/18.01



Luận văn tốt nghiệp



Học viện Tài chính



xuất ra từ các khu vực kinh tế. Như vậy, chỉ tiêu tổng sản phẩm quốc nội và

chỉ số tăng trưởng kinh tế là những chỉ tiêu chủ yếu chi phối tỷ lệ giá trị sản

phẩm xã hội mà Nhà nước có thể tập trung vào quỹ ngân sách nhà nước. Nói

cách khác, đây là những yếu tố quan trọng nhất quyết định mức động viên vào

ngân sách nhà nước thông qua hoạt động thu ngân sách nhà nước. Những yếu

tố khác cũng có ảnh hưởng nhất định tới mức độ tập trung các nguồn thu vào

ngân sách nhà nước, bao gồm: tiềm năng và thực tế khai thác tài nguyên thiên

nhiên, chính sách chi tiêu của Chính phủ, quan hệ đối ngoại của Nhà nước và

bộ máy tổ chức hành thu.

Thứ ba, thu ngân sách nhà nước được thực hiện thông qua hai cơ chế

pháp lý điển hình là bắt ḅc và tự nguyện, trong đó cơ chế bắt buộc được

xem là chủ yếu. Thông thường, cơ chế bắt buộc được áp dụng trong trường

hợp Nhà nước tiến hành tập trung các khoản thu từ thuế, phí và lệ phí vào

ngân sách nhà nước còn cơ chế tự nguyện lại được Nhà nước áp dụng trong

trường hợp cần huy động các khoản tiền viện trợ của nước ngồi, của các tở

chức quốc tế hay các khoản đóng góp tự nguyện khác của công chúng cho

Nhà nước.

Và cuối cùng thu ngân sách nhà nước được thực hiện theo ngun tắc

hồn trả khơng trực tiếp là chủ yếu.

2.1.3. Các khoản thu Ngân sách Nhà Nước:

Các khoản thu ngân sách nhà nước gồm nhiều loại, theo điều 2 Luật

ngân sách nhà nước năm 2002, thu ngân sách nhà nước gồm các khoản: thu từ

thuế, phí, lệ phí; thu từ hoạt động kinh tế của nhà nước; các khoản đóng góp

của các tổ chức và cá nhân; các khoản viện trợ; và các khoản thu khác theo

quy định của pháp luật.

Thuế là khoản thu mang tính cưỡng chế do Nhà nước huy động từ các tổ

chức, cá nhân và tập trung vào quỹ ngân sách nhà nước. Thu từ thuế là nguồn



SV: Bùi Thị Phương



Lớp: CQ51/18.01



Luận văn tốt nghiệp



Học viện Tài chính



thu chiếm tỷ trọng chủ yếu trong tổng thu ngân sách nhà nước. Điều đó được

lý giải bởi thuế đánh vào hầu hết các hoạt động sản xuất, chế tạo, sửa chữa,

chế biến,...; bởi thuế đánh vào cả các khoản thu nhập thường xuyên và bất

thường của những người có thu nhập cao; và bời thuế đánh vào cả hoạt đợng

tiêu dùng xã hợi.

Phí và lệ phí là khoản thu có tính chất bắt buộc, nhưng mang tính đối

giá, nghĩa là phí và lệ phí thực chất là khoản tiền mà mọi công dân trả cho nhà

nước khi họ hưởng thụ các dịch vụ do nhà nước cung cấp. So với thuế, tính

pháp lý của phí và lệ phí thấp hơn nhiều. Phí gắn liền với vấn đề thu hời mợt

phần hay tồn bợ chi phí đầu tư đối với hàng hóa dịch vụ cơng cợng hữu hình.

Lệ phí gắn liền với việc thụ hưởng những lợi ích do việc cung cấp các dịch vụ

hành chính, pháp lý cho các thể nhân và pháp nhân.

Thu từ hoạt động kinh tế của Nhà nước gồm tiền thu hồi vốn của Nhà

nước tại các cơ sở kinh tế; thu hồi tiền cho vay của Nhà nước (cả gốc và lãi)

đối với tổ chức, cá nhân; thu nhập của Nhà nước từ việc góp vốn vào các cơ

sở kinh tế, kể cả thu từ lợi nhuận sau khi thực hiện nghĩa vụ về thuế của các tổ

chức kinh tế có sự tham gia góp vốn của Nhà nước.

Những khoản thu khác hình thành nên quỹ ngân sách nhà nước gồm các

khoản đóng góp của các tổ chức và cá nhân như khoản đóng góp dưới hình

thức tự nguyện và các khoản tiền huy động từ các tổ chức, cá nhân theo quy

định của pháp luật; các khoản viện trợ khơng hồn lại của Chính phủ các

nước, của các tở chức và cá nhân ở nước ngồi; các khoản thu khác theo quy

định của pháp luật như thu từ các di sản Nhà nước được hưởng, thu các khoản

tiền phạt, tịch thu, thu hồi dự trữ nhà nước... Mặc dù không phải là những

khoản thu thường xuyên của ngân sách nhà nước nhưng những khoản thu này

cũng góp phần đáng kể vào việc cân đối thu – chi, đáp ứng nhu cầu chi tiêu

của Nhà nước.



SV: Bùi Thị Phương



Lớp: CQ51/18.01



Luận văn tốt nghiệp



Học viện Tài chính



2.2. Các nhân tố ảnh hưởng đến nguồn thu Ngân sách Nhà nước.

-Thu nhập GDP bình qn đầu người: Tởng GDP phản ánh quy mô của

nền kinh tế, từ đó quyết định đến tởng thu NSNN, còn GDP bình qn đầu

người là mợt chỉ tiêu phản ánh trình đợ tăng trưởng và phát triển của nền kinh

tế, phản ánh khả năng tiết kiệm, tiêu dùng và đầu tư của mợt nước. GDP bình

qn đầu người là một yếu tố khách quan quyết định mức động viên của

NSNN. Do đó, khi xác định mức đợ đợng viên thu nhập vào NSNN mà thốt

ly chỉ tiêu này thì sẽ có những ảnh hưởng tiêu cực đến các vấn đề tiết kiệm,

tiêu dùng và đầu tư của nền kinh tế.

-Tỷ suất lợi nhuận bình quân trong nền kinh tế: Đây là chi tiêu phản ánh

hiệu quả của đầu tư phát triển nền kinh tế nói chung và hiệu quả của các

doanh nghiệp nói riêng. Tỷ suất lợi nhuận bình quân càng lớn sẽ phản ánh khả

năng tái tạo và mở rộng các nguồn thu nhập trong nền kinh tế càng lớn, từ đó

đưa tới khả năng huy động cho ngân sách nhà nước. Đây là yếu tố quyết định

đến việc nâng cao tỷ suất thu ngân sách nhà nước. Do vậy, khi xác định tỷ

suất thu Ngân sách cần căn cứ vào tỷ suất lợi nhuận bình quân trong nền kinh

tế để đảm bảo việc huy động của Ngân sách Nhà nước không gây khó khăn về

mặt tài chính cho các hoạt động kinh tế.

-Khả năng khai thác và xuất khẩu nguồn tài nguyên thiên nhiên (dầu mỏ

và khống sản): Đối với các nước có ng̀n tài ngun thiên nhiên dời dào

phong phú thì việc khai thác và xuất khẩu tài nguyên sẽ đem lại nguồn thu to

lớn cho Ngân sách Nhà nước. Kinh nghiệm của các nước cho thấy, nếu tỷ

trọng xuất khẩu dầu mo và khống sản chiếm trên 20% tởng kim ngạch xuất

khẩu thì tỷ suất thu Ngân sách sẽ cao và có khả năng tăng nhanh. Với cùng

một điều kiện phát triển kinh tế, quốc gia nào có tỷ trọng xuất khẩu dầu mo và

khống sản lớn thì tỷ lệ đợng viên vào ngân sách nhà nước cũng lớn hơn.



SV: Bùi Thị Phương



Lớp: CQ51/18.01



Luận văn tốt nghiệp



Học viện Tài chính



-Mức độ trang trải các khoản chi phí của Nhà nước: Mức đợ trang trải

các khoản chi phí của Nhà nước phụ thuộc vào nhiều yếu tố như quy mô tổ

chức của bộ máy Nhà nước và hiệu quả hoạt động của bộ máy đó, những

nhiệm vụ kinh tế - xã hội mà Nhà nước đảm nhận trong từng giai đoạn lịch

sử, chính sách sử dụng kinh phí của Nhà nước. Khi các nguồn tài trợ khác cho

chi phí hoạt động của Nhà nước không có khả năng tăng lên, việc tăng mức

độ chi phí của Nhà nước sẽ đòi hoi tỷ suất thu của Ngân sách cũng tăng lên.

Các nước đang phát triển thường rơi vào tình trạng nhu cầu chi tiêu của ngân

sách nhà nước vượt quá khả năng thu, nên các Chính phủ thường phải vay nợ

để bù đắp bội chi.

-Tổ chức bộ máy thu nộp: Tổ chức bộ máy thu nộp có ảnh hưởng đến chi

phí và hiệu quả hoạt động của bộ máy này. Nếu tổ chức hệ thống cơ quan

thuế, hải quan, kho bạc Nhà nước gọn nhẹ, đạt hiệu quả cao, chống lại thất

thu do trốn, lậu thuế thì đây sẽ là yếu tố tích cực làm giảm tỷ suất thu ngân

sách nhà nước mà vẫn thoa mãn được các nhu cầu chi tiêu của ngân sách nhà

nước.

II. Tổng quan về dầu và thị trường xăng dầu.

1.



Khái niệm.



1.1.



Dầu thô.

Dầu thô là chất sánh long, màu nâu đen, không tan trong nước và nhẹ



hơn nước. Là hợp chất hydrocacbon được khai thác lên từ lòng đất, thường ở

thể long và thể khí. Ở thể khí, chúng bao gồm khí thiên nhiên và khí đồng

hành. Khí thiên nhiên là tồn bợ hydrocacbon ở thể khí khai thác từ giếng

khoan gồm cả khí ẩm và khí khô. Khí đồng hành là khí tự nhiên nằm trong

các vỉ dầu dưới dạng mũ khí hoặc khí hòa tan và được khai thác đờng thời với

dầu thơ.Trong bảng t̀n hồn, ngun tố cacbon và hydro có đặc tính kỳ diệu



SV: Bùi Thị Phương



Lớp: CQ51/18.01



Luận văn tốt nghiệp



Học viện Tài chính



là trong các điều kiện nhiệt độ và áp suất khác nhau, chúng kết hợp và tạo

thành những hợp chất hydrocacbon khác nhau.

Khi tiến hành chưng cất dầu thô sẽ nhận được nhiều phân đoạn sản

phẩm, được phân biệt với nhau bởi nhiệt độ sôi, bởi thành phần hydrocacbon,

độ nhớt, nhiệt độ nhớt, nhiệt độ chớp cháy, nhiệt độ đông đặc, và bởi nhiều

tính chất khác có liên quan đến việc sử dụng. Từ chưng cất có thể nhận được

các sản phẩm sau:

 Xăng: là sản phẩm thuộc phân đoạn có nhiệt độ sôi từ 30 – 35 0 tới

1800C.



 Nhiên liệu phản lực: phân đoạn có nhiệt độ sôi từ 120 – 240 0C. Nếu có

hàm lượng lưu huỳnh trong sản phẩm lớn, người ta phải tiến hành làm sạch

nhờ xử lý bằng hydro.

 Dầu hảo: phân đoạn từ 150 -2800C hoặc 150 – 3500C (các loại dầu ít

lưu huỳnh)

 Diesel: phân đoạn từ 140 – 3600C .Nếu hợp chất nhiều lưu huỳnh khử

bằng hydro, nếu chứa nhiều hydrocacbon paraffin thì phải tiến hành tách n –

paraffin.

 Mazut: phân đoạn cặn của quá trình chưng cất.

 Dầu mỡ nhờn: phân đoạn từ 320 -4000C, 300 – 4200C, 400 – 4500C.

 Nhựa đường: là sản phẩm cặn cuối cùng của quá trình chưng cất các

sản phẩm dầu thơ.

 Khí hóa lỏng(LPG): sản phẩm được tách ra từ khí (khí đồng hành).

Thành phần chính C3 – C4. Khí hóa long thường được dưới dạng long , chủ

yếu sử dụng trong sinh hoạt dân dụng còn khí thơ thì được vận dụng chuyển

thẳng bằng đường ống đến các nhà máy tiêu thụ như nhà máy điện.

1.2.



Xăng.



SV: Bùi Thị Phương



Lớp: CQ51/18.01



Luận văn tốt nghiệp



Học viện Tài chính



Xăng còn gọi là ét – xăng, là mợt loại dung dịch nhẹ chứa hydrocacbon,

dễ bay hơi, dễ bốc cháy, được chưng cất từ dầu mo. Xăng được sử dụng như

một loại nhiên liệu, dùng để làm chất đốt cho các loại động cơ đốt trong sử

dụng xăng, chất dùng trong tiêu dùng, sinh hoạt hàng ngày như đun nấu,lò

sưởi, bật lửa,…Dùng làm dung môi hòa tan một số chất, tẩy một số vết bám

bẩn trên vải, kim loại,kính, nhựa,… Mợt số loại vũ khí như súng phun

lửa,bom, mìn,… Xăng được chế biến từ dầu mo bằng phương pháp chưng cất

trực tiếp và Cracking, có tỷ trọng d15 =0.07 đến 0.75, dễ bay hơi, dễ cháy, có

mùi đặc trưng, nhiệt độ sôi từ 35 – 200 0C. Xăng động cơ được dùng làm

nhiên liệu cho động cơ đốt trong, kiểu bộ chế hòa khí( động cơ xăng). Hiện có

một số loại xăng phổ biến như sau:



 Xăng Mogas 95: Có mùi, màu vàng, được sử dụng cho phương tiện có

tỷ số nén trên 9,5/l như các xe hơi đời mới, xe đua,… có trị số oocstan là 95.

 Xăng Mogas 92: Có mùi đặc trưng, màu xanh lá, được sử dụng cho

phương tiện có tỷ số nén dưới 9,5/l, có trị số oocstan là 92.



 Xăng Mogas 83: Có mùi đặc trưng, màu vàng, được sử dụng cho

phương tiện có tỷ số nén 8/l, có trị số ốctan là 83.



 Xăng sinh học E5: Xăng sinh học sử dụng Êtanol như là loại phụ gia

nhiên liệu pha trộn vào xăng thay phụ gia chì. Xăng sinh học là hỡn hợp của

xăng A92 pha 5% Ethanol (ngoài ra hiện còn có xăng E10…)



SV: Bùi Thị Phương



Lớp: CQ51/18.01



Luận văn tốt nghiệp



Học viện Tài chính



Như vậy, chúng ta có thể hiểu khái qt về xăng dầu như sau:Xăng dầu

là tên chung để chỉ các sản phẩm của quá trình lọc dầu mỏ, dùng làm nhiên

liệu gồm: xăng động cơ, dầu diesel,dầu hỏa, dầu mazut, nhiên liệu máy bay,

các sản phảm khác dùng làm nhiên liệu động cơ, khơng bao gồm các laoij khí

hóa lỏng.Xăng dầu là sản phẩm từ dầu mỏ với thành phần cơ bản là các loại

cacbuahydro.Tùy theo công dụng,xăng dầu được chia thành các loại

xăng,dầu hỏa thông dụng, nhiên liệu phản lực, nhiên liệu diesel,dầu bôi trơn,



2.



Đặc điểm chung của các sản phẩm tư dầu.



SV: Bùi Thị Phương



Lớp: CQ51/18.01



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

CHƯƠNG I: LÝ LUẬN CHUNG VỀ THU NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC VÀ TỔNG QUAN VỀ GIÁ DẦU THÔ, THỊ TRƯỜNG DẦU THÔ.

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×