Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HOẠT ĐỘNG CHO VAY VÀ CHẤT LƯỢNG CHO VAY CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI

CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HOẠT ĐỘNG CHO VAY VÀ CHẤT LƯỢNG CHO VAY CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI

Tải bản đầy đủ - 0trang

5



góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động của ngân hàng. Có nhiều hình thức huy

động vốn như:

Tiền gửi của khách hàng: nguồn vốn này tùy thuộc vào nhu cầu gửi tiền

của khách hàng và sự thỏa thuận giữa ngân hàng và khách hàng về số tiền gửi,

thời gian gửi và mức lãi suất

Vốn huy động từ việc phát hành giấy tờ có giá: khi cầu lớn hờn cung thi

đầy là một trong giải pháp ngân hàng thường áp dụng để chủ động thu gom

vốn trong xã hội để đáp ứng được nhu cầu vay của các chủ thể trong kinh tế,

các loại giấy tờ phát hành như, chưng chỉ tiền gửi, kỳ phiếu, trái phiếu.

Nguồn vốn huy động khác như: đi vay của các tổ chức tín dụng và ngân hàng

trung ương, vốn trong thanh toán...

* Hoạt động cho vay

Trong hoạt động cho vay của Ngân hàng thương mại, Ngân hàng thương

mại với tư cách là người cho vay (chủ nợ) bắt buộc người đi vay (con nợ) phải

có nghĩa vụ hoàn trả một số tiền theo cam kết trong hợp đồng. Với tư cách là

người cho vay, các Ngân hàng thương mại có quyền yeu cầu khách hàng của

mình- người đi vay muốn vay được vốn phải tuần thủ những điều kiện nhất định,

những điều kiện này là cơ sở rang buộc về mặt pháp lý đảm bảo cho người cho

vay có thể thu hồi được vốn (gốc + lãi) sau một thời gian nhất định. Để thu hồi

được vốn, các Ngân hàng có quyền yêu cầu người đi vay đáp ứng những điều

kiện vay cụ thể dựa trên cơ sở mức độ tin tưởng, tín nhiệm lẫn nhau giữa ngân

hàng với khách hàng.

*Hoạt động dịch vụ

Ngoài hoạt động huy độn vốn và hoạt động cho vay là hai hoạt động chủ

yếu của ngành Ngân hàng, ngoài ra còn có hoạt động dịch vụ tăng thêm lợi

nhuận cho các NHTM. Ngồi ra, thơng qua hoạt động dịch vụ mà các NHTM

cũng khẳng định được vị thế, thương hiệu và văn hóa của mình.



6



1.1.2. Hoạt động cho vay của ngân hàng thương mại

1.1.2.1. Định nghĩa

Theo Luật các tổ chức tín dụng 2010. Cho vay là một hình thức cấp tín

dụng, theo đó bên cho vay giao hoặc cam kết giao cho khách hàng một khoản

tiền để sử dụng vào một mục đích xác định trong một thời gian nhất định theo

thỏa thuận với nguyên tắc hoàn trả cả gốc và lãi.

Như vậy, tiếp cận một cách đơn giản định nghĩa cho vay là quan hệ vay

mượn, trên cơ sở lòng tin và heo ngun tắc hồn trả giữa một bên là Ngân

hàng thương mại, bên cho vay và một bên là khách hàng là cá nhân, tổ chức,

doanh nghiệp, hộ gia đình có nhu cầu vay vốn bên đi vay, thể hiện dưới hình

thức Ngân hàng sử dụng nguồn vốn tự có và nguồn vốn huy động được và tư

đó cấp vốn cho các đối tượng trên.

Vậy cho vay là hoạt động quan trọng nhất của ngân hàng nói riềng và

các trung gian tài chính nói chung, chiếm tỷ trọng cao nhất trong tổng tài sản,

tạo thu nhập từ lãi lớn nhất và cũng là hoạt động mang lại rủi ro cao nhất.

1.1.2.2. Các hình thức cho vay của ngân hàng thương mại

*Căn cứ vào thời hạn cho vay

Phân chia theo thời gian có ý nghĩa quan trọng đối với ngân hàng vì thời

gian liên quan mậ thiết tới tính an tồn và sinh lời của khoản cho vay cũng

như khả năng hoàn trả của khách hàng, theo căn cứ này cho vay được chia

thành 3 loại:

Cho vay ngắn hạn: Loại cho vay này có thời hạn dưới 12 tháng với mục

đích để bù đắp thiếu hụt vốn lưu động của các doanh nghiệp và các nhu cầu

chi tiêu ngắn hạn của các cá nhân. Tài sản lưu thông thường có vòng quay

trên 1 vòng trong năm, do vậy ngân hàng cấp khoản cho vay ngắn hạn với

thời hạn từ 1 năm trở xuống.



7



Cho vay trung hạn: Theo quy định của Ngân hàng nhà nước Việt nam,

cho vay trung hạn có thời hạn từ 1 năm đến 5 năm. Cho vay trung hạn được

sử dụng chủ yếu để đầu tư mua sắm tài sản cố định, cải tiến hoặc đổi mới thiết

bị, mở rộng sản xuất kinh doanh, xây dựng các dự án mới có quy mơ nhỏ...

Cho vay dài hạn: là các khoản cho vay có thời hạn trên 5 năm. Để cho

vay các nhu cầu mua sắm tài sản cố định, xây dựng cơ bản, phương tiện vận

tải, xây dựng các xí nghiệp mới…thời hạn vay có thể lên tới 20-30 năm để

đáp ứng các nhu cầu dài hạn

* Căn cứ vào mục đích sử dụng vốn vay được chia thành:

Cho vay kinh doanh: Đây là loại cho vay đáp ứng nhu cầu vốn kinh

doanh của các doanh nghiệp, cá nhân. Với loại cho vay này điều kiện quan

trọng nhất là ngân hàng sẽ quan tâm là tính hiệu quả của phương án kinh

doanh vì đây chính là yếu tố tạo nguồn thu để trả nợ ngân hàng.

Cho vay tiêu dung: là loại cho vay nhắm đáp ứng nhu cầu tiêu dung của

cá nhân. Nguồn thu nợ với các khoản cho vay tiêu dung là thu nhập của người

vay vì vậy khi cho vay ngân hàng phải xác minh được mức thu nhập của

người vay.

*Căn cứ vào xuất xứ tín dụng

Dựa vào căn cứ này, cho vay được chia thành:

Cho vay trực tiếp: Đây là hình thức cho vay mà ngân hàng cấp vốn trực

tiếp cho người có nhu cầu, đồng thời người đi vay trực tiếp hoàn trả nợ vay

cho ngân hàng.

Cho vay gián tiếp: Là khoản cho vay được thực hiện thông qua việc mua lại

các khế ước hoặc chứng từ nợ đã phát sinh và còn trong thời hạn thanh tốn.

Ngân hàng sẽ cho vay thông qua các loại sau:



8



Mua các phiếu bán hàng trả góp: Được áp dụng với các khách hàng vay

bán hàng hóa theo hình thức trả góp, khách hàng sẽ nhượng lại các phiếu bán

hàng trả góp, và định kỳ người mua hàng sẽ thanh toán cho ngân hàng.

Chiết khấu thương phiếu: người thụ hưởng hối phiếu hoặc lệnh phiếu

còn thời hạn thanh toán nhượng lại cho ngân hàng, từ cho ngân hàng sẽ cấp

một khoản tiền bằng mệnh giá trừ đi lãi chiết khấu và hoa hồng. Khi chứng từ

đến hạn thanh toán người thụ hưởng hối phiếu hoặc người phát lệnh hối phiếu

có trách nhiệm thanh tốn cho ngân hàng

*Căn cứ vào hình thức bảo đảm tiền vay bao gồm:

Cho vay có bảo đảm bằng tài sản: Là loại cho vay mà ngân hàng cung

ứng với điều kiện khách hàng vay phải có tài sản thế chấp, cấm cố hoặc bảo

lãnh của bên thứ ba. Tài sản đảm bảo các khoản cho vay cho phép ngân hàng

có được nguồn thu nợ thứ hai bằng cách bán các tài sản đó khi nguồn thu nợ

thứ nhất khơng có hoặc không đủ. Cam kết đảm bảo là cảm kết của người

nhận cho vay về việc dùng tài sản của mình đang sở hữu hoặc sử dụng hoặc

khả năng trả nợ của người thứ ba để trả nợ ngân hàng, cho vay dựa trên cam

kết đảm bảo yêu cầu ngân hàng và khách hàng phải ký hợp đồng đảm bảo.

Ngân hàng phải kiểm tra, đánh giá được tình trạng của tài sản đảm bảo (như:

quyền sở hữu, giá trị, tính thi trường…) có khả năng giám sát việc sử dụng

hoặc khả năng bảo quản tài sản đảm bảo.

Cho vay khơng có bảo đảm bằng tài sản: Là loại cho vay không có tài

sản thế chấp, cấm cố hoặc bảo lãnh của bên thứ ba, việc cho vay chỉ dựa trên

uy tín bản than khách hàng.

Cho vay không đảm bảo bằng tài sản có thể được cấp cho các khách

hàng có uy tín, thường là khách hàng làm ăn thường xun có lãi, tình hình tài

chính vững mạnh, ít xảy ra tình trạng nợ nần, hoặc món vay tương đối nhỏ so

với vốn của người vay. Các khoản cho vay theo Chỉ thị của Chính phủ u



9



cầu khơng có tài sản đảm bảo, các khoản vay đối với các tổ chức tài chính

lớn, các cơng ty lớn hoặc những khoản vay có thời hạn ngắn mà ngân hàng có

khả năng giám sát về muc đích sử dụng vốn.

* Căn cứ vào phương pháp hồn trả

Cho vay trả góp là hình thức cho vay mà khi vay vốn tỏ chức tín dụng và

khách hàng xác định và thỏa thuận số lãi vốn vay khách hàng phải trả cộng

với số nợ gốc chia ra để trả nợ trong nhiều kỳ hạn trong thời hạn vay. Loại

cho vay này áp dụng với những khoản vay có giá trị lớn, hoặc thu nhập của

người vay khơng đủ dể trả nợ trong một kỳ. Thông thường cho vay trả góp có

thể thực hiện theo phương pháp.

Phương pháp trả vốn gốc bằng nhau và trả lãi theo số dư vào cuối của

mõi định kỳ

Phương pháp trả vốn gốc bằng nhau và trả lãi tính trên mức hồn trả của

vốn gốc

Phương pháp trả vốn gốc và lãi bằng nhau trong tát cả các định kỳ

Cho vay phi trả lãi là là loại cho vay được thanh toán một lần theo kỳ

hạn đã thỏa thuận.

Ngồi ra, còn có thể phân loại hình cho vay theo nhóm khách hàng,

khách hàng là cá nhân, tổ chức, doanh nghiệp, hộ gia đình...

1.2. Chất lượng cho vay của ngân hàng thương mại

1.2.1. Quan niệm về chất lượng cho vay của ngân hàng thương mại

Chất lượng được sử dụng nhiều làm thước đo đánh giá trên nhiều lĩnh

vực đặc biệt là lĩnh vực kinh tế. Ngân hàng cũng vậy nó là doanh nghiệp hoạt

động trong lĩnh vực kinh doanh tiền tệ, đối tượn kinh doanh có hàng hóa đặc

biệt, nhạy cảm. Hoạt động chủ yếu của nó là hoạt động cho vay nên để đánh

giá hiệu quả của hoạt động cho vay người ta thường dựa và chỉ tiêu chất

lượng cho vay.



10



Chất lượng cho vay là một phạm trù rộng bao hàm nhiều nội dung, về

khả năng tài chính của ngân hàng, khả năng thu hút khách hàng, tỷ lệ an toàn

vốn, tổng mức dư nợ, tỷ lệ nợ quá hạn, mức độ thích nghi với sự thay đổi của

mơi trường.

Chất lượng cho vay còn thể hiện ở khả năng đáp ứng yêu cầu của khách

hàng, đảm bảo sự tồn tại và phát triển của ngân hàng và phù hợp với sự phát

triển kinh tế xã hội. Chất lượng cho vay được đánh giá cụ thể như sau:

* Đối với khách hàng

Tiền vay phát ra phải phù hợp với mục đích sự dụng vốn của người vay,

lãi suất và kỳ hạn nợ hợp lý, thủ tục đơn giản thuận lợi, thu hút được nhiều

khách hàng, đáp ứng được nhu cầu vay vốn của khách hàng, không gây những

rắc rối cho khách hàng những vẫn đảm bảo nguyên tắc cho vay, với khách

hàng luồn có phương châm “vui lòng khách đến, vừa lòng khách đi”.

Chất lượng cho vay thể hiện ở sự thỏa mãn cơ hội kinh doanh về khí

cạnh khơng gian, thời gian và quy mô cho khách hàng. Không gian là việc tạo

nên những giao dịch thuận lợi, nhánh chóng, ngân hàng ln gần gũi với

khách hàng. Thời gian là sự thỉa mãn đời điểm kinh doanh của khách hàng khi

giải ngân và khi hồn vồn. Quy mơ là sự thỏa mãn về số tiền mà khách hàng

mong muốn vay.

*Đối với ngân hàng

Chất lượng cho vay thể hiện ở khả năng hoàn thành các chỉ tiêu về cho

vay, tỷ lệ nợ quá hạn, tỷ lệ nợ an toàn vốn phù hợp với các tiêu chuẩn nhà

nước quy định cung như các tông lệ quốc tế. Chất lượng cho vay phù hợp với

thực lực ngân hàng, đảm bảo tính cạnh tránh trên thị trường với ngun tắc

hồn trả lãi và gốc đến hạn và có lãi, thể hiện rõ ở mức độ phát triển, tồn tại

của ngân hàng một cách bền vững, ít rủi ro nhất.

*Đối với kinh tế xã hội



11



Chất lượng cho vay thể hiện ở chỗ hoạt động cho vay mang lại lợi ích

kinh tế cho xã hội, có phù hợp với định hướng chung phát triển kinh tế và

tuân thủ theo pháp luật hay không. Cho vay phục vụ sản xuất và lưu thơng

hàng hóa, góp phần giải quyết cơng ăn việc làm cho người dân, khai thác khả

năng tiềm tàng của nền kinh tế, khích thích, giải phóng lực lượng sản xuất

trong việc tham gia vào quá trình sản xuất. Đồng thời nó thực hiện chính sách

kinh tế xã hội của nhà nước nhằm chuyển dịch cơ cấu kinh tế, thực hiện việc

phát triển các vùng kinh tế trọng điểm, vùng kinh tế kém phát triển, vùng sâu,

vùng xa...với mục đích tăng trưởng cho vay trong mối quan hệ tăng trưởng

kinh tế.

Như vậy, chất lượng cho vay là một nhân tố xuyên suốt trong hoạt động

cho vay của bất kỳ một ngân hàng nào, để ln có chất lượng cho vay đòi hỏi

cán bộ tín dụng trong q trình xét duyệt cho vay phải có một sự lựa chọn

khách hàng, lựa chọn đối tượng cho vay, trong quá trình thẩm định cần phải

phân tích đầy đủ các mặt như: tài chính, nguồn tài trợ...một cách cụ thể, để từ

đó những quyết định đúng đắn trong hoạt cho vay tránh những rủi ro.

1.2.2. Chỉ tiêu đánh giá chất lượng cho vay của ngân hàng thương mại

1.2.2.1. Chi tiêu định tính

a. Sự tuân thủ các nguyên tắc cho vay và thực hiện chính xác các quá

trình cho vay.

Hoạt động cho vay của NHTM dựa trên một số nguyên tắc nhất định

nhằm đảm bảo tính an tồn và khả năng sinh lời.Các ngun tắc này được cụ

thể hóa trong các quy định của NHNN và các NHTM. Bên cạnh đó để chuẩn

hóa q trình tiếp xúc, phân tích, cho vay và thu nợ đối với khách hàng, các

ngân hàng thường đặt ra các quy tình phân tích. Đó chính là các bước (hoặc

các nội dun cơng việc) mà cán bộ cho vay, các phòng ban có liên quan trong

ngân hàng phải thực hiện khi tài trợ cho khách hàng.



12



Vì vậy, việc tuần thủ các nguyên tắc vay vốn cũng như thực hiện các thủ

tục cho vay theo đúng quy trình cho vay sẽ giúp cho quá trình cho vay diễn ra

thống nhất, khoa học, hán chế và phòng ngừa được rủi ro, nâng cao chất

lượng cho vay.

b. Hồn thiện các thủ tục hành chính và các quy trình cho vay của ngân

hàng

Đối với các ngân hàng thường thủ tục hành chính và các quy trình cho

vay do ban quản trị và bộ máy lãnh đạo cảu ngân hàng đó đặt ra. Quy trình đó

xác định người thực hiện và trách nhiệm của các bộ phận liên quan trong quá

trình cấp vốn cho kháh hàng. Do vậy đối với ngân hàng thương mại có các

thủ tục hành chính đơn giản, gọn nhẹ và một quy trình cho vay hợp lý, thống

nhất, khoa học trên cơ sở nguyên tắc cho vay do NHNN quy định sẽ tạo một

môi trường kinh doanh thuận lợi cho các NHTM thực hiện hoạt động cho vay

hiệu quả, mang lại chất lượng cho vay cao hơn.

1.2.2.2. Chỉ tiêu định lượng

a. Doanh số cho vay

Trong các chỉ tiêu phản ánh về chất lượng cho vay thì có chỉ tiêu về

doanh số cho vay, đây là một chỉ tiêu phản ánh chính xác về hoạt động cho

vay của ngân hàng trong khoảng một thời gian dài được tính bằng các khoản

cộng dồn cho vay trong một niện độ kinh tế. Doanh số cho vay tảng không

phải khi nào cũng tốt và ngược lại doanh số cho vay thu hẹp không phải lúc

nào cũng xấu, nó còn phụ thuộc vào nhiều yếu tố như: tiềm lực của ngân

hàng, nguồn vốn huy dộng của ngân hàng, điều kiện kinh tế trong từng thời

kỳ...Xét về khía cạnh tăng trưởng của ngân hàng thì doanh số cho vay ngày

càng cao thì chứng tỏ ngân hàng đó thu hút được nhiều khách hàng, khả năng

cho vay của ngân hàng đó tốt, chứng tỏ chất lượng cho vay cũng được nâng



13



cao. Tuy nhiên, xét trong một thời gian dài thì doanh số cho vay lớn phải đi

kèm với doanh số thu nợ cao.

b. Doanh số thu nợ

Doanh số thu nợ là chỉ tiêu tuyệt đối, phản ánh số tiền ngân hàng thu hồi

được sau khi giải ngân trong một thời kỳ. Đây cũng là một chỉ tiêu quan trọng

để đánh giá được chất lượng cho vay của một ngân hàng, nếu doanh số cho

vay lớn nhưng doanh số thu nợ lại thấp thì dư nợ quá hạn cao, khả năng thu

hồi vốn thấp, rủi ro cho vay gia tăng thì chất lượng cho vay lại thấp.

c. Dư nợ cho vay

Dư nợ là một chi tiêu phản ánh tổng khối lượng tiền mà ngân hàng cấp

cho nền kinh tế tại một thời điểm nhất định, nó phản ánh hoạt động kinh

doanh của ngân hàng tốt hay xấu, mở rộng hay thu hẹp. Khi dư nợ của một

ngân hàng thấp chứng tỏ hoạt động kinh doanh của của đơn vị không tốt, khả

năng mợ rộng, tiếp thị của ngân hàng kém...Tuy nhiên chỉ tiêu nay càng cao

thì chất lượng cho vay càng cao mà nó còn phụ thuộc vảo những rủi ro tiềm

ẩn trong cho vay.

Chỉ tiêu dư nợ sẽ phản ánh quy mô cho vay của ngân hàng, sự uy tín của

ngân hàng đối với khách hàng. Khi so sánh thị phần cho vay ngân hàng trên

thị trường chúng ta sẽ đánh giá được dư nợ củ ngân hàng đó là cao hay thấp

sẽ biết được thực lực và khả năng hoạt động kinh doanh của ngân hàng đó

trên thị trường.

Dư nợ cuối = Dư nợ đầu + Doanh số cho vay – Doanh số thu nợ

Kỳ

kỳ

trong kỳ

trong kỳ

(1.1)

Tuy nhiên ta thấy khi xét về chỉ tiêu dư nợ, phải xét đến chỉ tiêu doanh

số cho vay đi kèm với việc đánh giá thêm doanh số thu nợ và các chỉ tiêu

khác mới phản ánh đúng chất lượng cho vay của ngân hàng.



14



d. Nợ quá hạn và tỷ lệ nợ quá hạn

Nợ quá hạn

Tỷ lệ nợ quá hạn =



× 100 %

Tổng dư nợ

(1.2)



Nợ quá hạn là khoản nợ mà khách hàng không trả được khi đến hạn thỏa

thuận ghi trên hợp đồng cho vay. Khi một món nợ khơng trả được vào kỳ hạn

trả nợ, tồn bộ nợ gốc còn lại của hợp đồng được chuyển thành nợ quá hạn.

Tỷ lệ nợ quá hạn là tỷ lệ phần trằm giữa nợ quá hạn và tổng dư nợ của ngân

hàng thương mại tại một thời điểm nhất định thường là cuối tháng, cuối quý,

cuối năm, tỷ lệ này cho biết trong một đồng dư nợ ngân hàng có bao nhiều

đồng là nợ quá hạn. Tỷ lệ nợ quá hạn càng cao thì ngân hàng càng gặp khó

khăn bấy nhiều, ảnh hưởng đến khả năng thanh khoản và kế hoạch kinh doanh

của ngân hàng. Đây là là một chỉ tiêu quan trọng để đánh giá chất lượng cho

vay của ngân hàng, tỷ lệ này càng cao thi chất lượng cho vay của ngân hàng

càng kém và ngược lại. Tuy nhiên việc định lượng tỷ lệ nợ quá hạn bao nhiêu

là phù hợp theo quy định của NHNN và thông lệ quốc tế, nó còn phụ thuộc và

gắn liền với đặc điểm riêng của từng ngân hàng, từng vùng miền. Theo chuẩn

mực quốc tế tỷ lệ này khoảng 2-5% là có thế chấp nhận được, riêng đối với

Agribank quy định tỷ lệ này <3%, đặc biệt có vùng <1%.

Theo quy định số 18/2007/QĐ-NHNN ngày 25/4/2007 của thống đốc

NHNN quy định cho các tổ chức tín dụng thực hiện phân loại nợ thành 5

nhóm nợ để thực hiện tốt trong cơng tác phân tích chất lượng cho vay, công

tác quản lý cho vay và rủi ro, các nhà quản trị phần loại đánh giá khả năng trả

nợ của khách hàng, cụ thể như sau:

* Nhóm 1 (Nợ đủ tiêu chuẩn) bao gồm:

- Các khoản nợ trong hạn và tổ chức tín dụng đánh giá là có khả năng

thu hồi đầy đủ cả gốc và lãi đúng hạn



15



- Các khoản nợ quá hạn dưới 10 ngày và tổ chức tín dụng dánh giá là có

khả năng thu hồi đầy đủ cả gốc và lãi bị quá hạn và thu hồi đầy đủ gốc và lãi

đúng thời hạn còn lại

- Các khoản nợ được phân loại vào nhóm 1theo quy định tại Khoản 2

điều này.

* Nhóm 2 (Nợ cần chú trọng) bao gồm:

- Các khoản nợ quà hạn từ 10 đến 90 ngày

- Các khoản nợ điều chỉnh kỳ hạn trả nợ lần đầu (đối với khách hàng là

doanh nghiệp, tổ chức thì tổ chức tín dụng phải có hồ sơ đánh giá khách hàng

về khả năng trả nợ đầy đủ nợ gốc và lãi đúng kỳ hạn được điều chỉnh lần đầu)

- Các khoản nợ được phân loại vào nhóm 2 theo quy định tại khoản 3

điều này

* Nhóm 3 (Nợ dưới tiêu chuẩn) bao gồm:

- Các khoản nợ quá hạn từ 91 ngày đến 180 ngày

- Các khoản nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần đầu, trừ các khoản nợ điều

chỉnh kỳ hạn trả nợ lần đầu phân loại vào nhóm 2 theo quy định tại điểm b

khoản này

- Các khoản nợ được miễn hoặc giảm lãi do khách hàng không đủ khả

nangwtrar lãi đầy đủ theo hợp đồng tín dụng

- Các khoản nợ được phân loại vào nhóm 3 theo quy định tại khoản 3

điều này

* Nhóm 4 (Nợ nghi ngờ)

- Các khoản nợ quá hạn từ 181 ngày đến 360 ngày

- Các khoản nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần đầu quá hạn dưới 90 ngày

theo thời hạn trả nợ được cơ cấu lại lần đầu

- Các khoản nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần thứ hai



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HOẠT ĐỘNG CHO VAY VÀ CHẤT LƯỢNG CHO VAY CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×