Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Sau chuyến du hóa vào đầu năm 1948 tại vùng Sài Gòn-Gia Định-Chợ Lớn, đoàn Du tăng hướng về miền Tây Nam Bộ và dừng chân tại quê hương Vĩnh Long của Tổ sư. Tại đây, được sự hộ trì tận tình của hàng Phật tử tín tâm, những chiếc am cốc nhỏ được tạm dựng lên

Sau chuyến du hóa vào đầu năm 1948 tại vùng Sài Gòn-Gia Định-Chợ Lớn, đoàn Du tăng hướng về miền Tây Nam Bộ và dừng chân tại quê hương Vĩnh Long của Tổ sư. Tại đây, được sự hộ trì tận tình của hàng Phật tử tín tâm, những chiếc am cốc nhỏ được tạm dựng lên

Tải bản đầy đủ - 0trang

2



Hai đợt trùng tu vào các năm 1971 và 1993 đã mang lại một diện mạo

mới cho Tổ đình. Lối kiến trúc của tịnh xá mang dáng vẻ hiện đại nhưng khơng

mất đi nét thâm nghiêm cổ kính của chốn Tổ, nơi ghi dấu thời kỳ mở mang mối

đạo. Đặc biệt, nơi đây đã lần lượt được đón tiếp các vị cao đồ của Tổ sư đến trụ

xứ, tu học: Trưởng lão Nhị Tổ Giác Chánh, Trưởng lão Giác Tánh, Trưởng lão

Giác Như v.v... Tịnh xá hiện cũng còn lưu giữ nhiều di vật của Đức Tổ sư như

giường nằm, bồ đoàn v.v...

Tịnh xá Ngọc Viên tọa lạc tại 14/20/2 đường Xóm Chài, phường 2, thành

phố Vĩnh Long, tỉnh Vĩnh Long.

1- Vài nét về Khất thực



Khất thực là một trong những hình thức sinh hoạt có nguồn gốc từ Bà-lamơn giáo được Phật giáo Ấn Độ kế thừa và phát triển. Khi Phật giáo truyền vào

Việt Nam, hình thức sinh hoạt này được phổ biến rộng rãi trong đời sống tu học

của các tu sĩ Phật giáo và được duy trì cho tới ngày nay. Theo từ nguyên, từ khất

thực được dịch là cầu xin thực phẩm. Cách dịch này không sai, nhưng chưa

chuyển tải hết ý nghĩa của thuật ngữ này, đó là chưa nói chữ khất trong trường

hợp này khơng hàm nghĩa là cầu xin. Bởi vì, thực chất khất thực là một hoạt

động sinh hoạt mang tính truyền thống của Phật giáo khơng phải chỉ nhằm mục

đích ni sống cơ thể vật chất mà còn ni dưỡng đời sống tâm linh mỗi cá

nhân.

Về phương diện nuôi dưỡng đời sống sinh lý, theo lời dạy của đức Phật,

người tu sĩ chỉ cần một lượng nhỏ thực phẩm đủ để duy trì sự sống, làm tăng

trưởng thiện nghiệp và chuyển hóa tâm thức. Điều này có thể thấy rõ qua lời dạy

của đức Phật được chép trong kinh Tăng Nhất A Hàm như sau: “khất thực có hai

phương diện là đáng thực hiện và không đáng thực hiện. Giả sử khất thực được

áo chăn, cơm nước, ngọa cụ, thuốc men trị bệnh, mà ác pháp tăng trưởng, thiện

pháp không tăng trưởng, điều đó khơng nên thực hiện. Nếu khất thực được y áo,



3



cơm nước, giường chõng và ngọa cụ, thuốc men trị bệnh, mà thiện pháp tăng

trưởng, pháp ác khơng tăng trưởng, điều đó nên thực hiện”. Như vậy, hai

phương diện đáng thực hiện và không đáng thực hiện đó thực chất là nguyên tắc

thực tập nhằm phát triển đời sống tâm linh của các tu sĩ thực hành Phật pháp.

Đối với các tu sĩ chân chính, mọi mong cầu thái quá đều đưa đến những cực

đoan không cần thiết. Đối với những tu sĩ thực hành pháp, thức ăn cũng quan

trọng nhưng quan trọng hơn là phương pháp ăn. Ăn như thế nào để các ác pháp

được chuyển hóa, các thiện pháp tăng trưởng, đó mới là mục đích của việc ăn và

cũng là mục đích của việc khất thực trong nhà Phật. Đó là ý nghĩa thứ nhất.

Ý nghĩa thứ hai rất quan trọng là, khất thực không chỉ dừng lại ở việc nuôi

dưỡng đời sống vật chất hay sinh lý, tâm linh của mỗi cá nhân hành giả mà nó

còn hướng tới xây dựng một đời sống tâm linh cộng đồng.

Trước hết là xây dựng đời sống tâm linh cộng đồng các nhà sư. Khi đi khất

thực, các nhà sư thường đi thành một nhóm nhiều người, trong đó mỗi người

khơng phải là những cá thể được tập hợp mà là một thành tố tạo nên một nhóm

như là một hệ thống. Mỗi nhà sư là một mắc xích trong hệ thống ấy. Họ bước đi

nhẹ nhàng, thong thả với chánh niệm, họ dừng lại cũng trong sự chánh niệm ấy.

Mỗi bước chân của họ không phải chỉ là những bước chân hướng tới mục đích

mà là bước chân của sự sống, của sự tỉnh thức. Bởi vì những bước chân ấy vừa

có cơng năng ni dưỡng tâm linh mỗi cá thể, đồng thời nâng đỡ những cá thể

khác trong nhóm, tạo thành một cộng đồng tâm linh vững mạnh có sức khuếch

tán rộng lớn trong cộng đồng Phật tử.

Hình ảnh tăng đồn khất thực bao giờ cũng tạo nên một xúc cảm mạnh mẽ

đối với cộng đồng, là nguồn cảm hứng tâm linh nuôi dưỡng đời sống của họ.

Nhiều người chờ đợi đoàn hành khất đi qua từ sáng sớm để được tận tay cúng

dường thực phẩm cho các nhà sư. Thông thường, phẩm vật cúng dường mà

những người Phật tử chuẩn bị trước là các loại bánh, xơi, trái cây, thức uống hay

một ít thực phẩm, đồ dùng cần thiết cho đời sống tu tập của các nhà sư. Nhưng



4



cho dù phẩm vật đó là thứ gì, những người Phật tử đều hướng tới các nhà sư

cúng dường bằng tấm lòng trân trọng, cung kính tuyệt đối. Đối với họ, các nhà

sư là những người thầy tâm linh vĩ đại, là đại diện cho đức Phật mà họ thường

cung kính, phụng thờ. Do đó, hình ảnh các nhà sư ơm bát khất thực là cội nguồn

của các giá trị văn hóa cộng đồng.

Những người tham gia cúng dường cho các nhà sư khất thực thuộc đủ các

thành phần xã hội giàu nghèo, nam nữ, đàn ơng, đàn bà… Thậm chí nhiều em bé

chỉ mới vài tuổi, nhưng cha mẹ của chúng đã tập cho chúng cúng dường thực

phẩm cho các nhà sư. Hình thức cúng dường cho các nhà sư khất thực không

bao giờ là một hành động ban ơn. Do đó, họ khơng bao giờ làm điều đó với thái

độ của kẻ ban ơn hay bị bắt buộc. Cúng dường đối với họ là một nhu cầu tâm

linh, là cơ hội để thực hiện công hạnh, nuôi dưỡng tâm linh tự thân, hướng đến

các chuẩn mực giá trị gắn liền với đời sống cộng đồng. Nhà nghiên cứu văn hóa

Phan Ngọc có một đoạn viết rất sâu sắc về đời sống văn hóa của cư dân Phật

giáo Lào liên quan tới việc khất thực: “Trước khi các sư đến, người ta nâng giỏ

xôi lên ngang trán, lầm rầm khấn vái. Không phải bố thí mà là dâng hiến. Các

sư đi thành đồn dài, người hai bên đường cung kính dâng thức ăn. Khi các sư

đã đi qua rồi, người ta vẫn ngồi yên hồi lâu, chắp tay và nhắm mắt, một khoảnh

khắc vọng về cõi vô thường, mỗi sáng lại được chạm nhẹ vào đấy trước khi dấn

vào cuộc lầm bụi hằng ngày. Cũng có khi nhận thức ăn xong, các sư dừng lại,

hát một bài kinh ngân nga, cảm ơn và chúc phúc...”. Rồi ông kết luận: người ta

đã sửa soạn sạch sẽ thân thể để chuẩn bị cúng dường thực phẩm cho các nhà sư

bằng tất cả tấm lòng trân trọng, cung kính như thế thực khó làm điều ác trong

ngày.

Nhiều người phương Tây, khi đến Việt Nam, họ thấy cảnh các nhà sư đi

khất thực và cách cư dân Việt Nam cúng dường thực phẩm cho các nhà sư, họ

không thể nào hiểu nổi nếu như họ chưa tìm hiểu về hình thức sinh hoạt văn hóa

này. Họ cứ nghĩ các nhà sư là những người hành khất theo đúng nghĩa của từ



5



này mà khơng hiểu rằng, đó là sự thực tập, là hạnh nguyện của các nhà sư; và là

cách để người Phật tử nuôi dưỡng tâm linh, hướng đến các chuẩn mực, giá trị

văn hóa cộng đồng. Nhưng khi hiểu ra ý nghĩa của hình thức sinh hoạt văn hóa

này, họ rất thích thú. Nhiều người trong số họ đã tham gia vào hoạt động này

như những người Phật tử thực thụ.

2-



Thực trạng khất thực tại Tịnh xá Ngọc Viên tỉnh Vĩnh Long



Đối hệ phái Khất sĩ ở Việt Nam nói chung và tịnh xá Ngọc Viên nói riêng

khất thực được mong muốn duy trì như một hình thức sinh hoạt thường xuyên.

Tuy nhiên, vào những năm cuối thế kỷ 20, một số người ngoại đạo lợi dụng hình

thức sinh hoạt này đi khất thực tràn lan trên đường phố. Do không hiểu ý nghĩa

của việc khất thực, khơng biết hoặc cố tình khơng biết phương pháp khất thực và

cũng không đủ năng lực, phẩm chất của những người tu hành chân chính, nên họ

ít nhiều đã làm hoen ố hình ảnh các nhà sư khất thực trong tâm thức cộng đồng

Phật giáo Việt Nam. Vì vậy, giáo hội đã có chỉ thị yêu cầu các cơ sở tự viện,

chùa chiền bỏ hình thức sinh hoạt này. Điều đó khiến cho Phật giáo Việt Nam

mất đi một hình thức sinh hoạt vốn là nét văn hóa truyền thống của Phật giáo.

Tuy nhiên, theo tôi khất thực là một sinh hoạt mang tính truyền thống của

Phật giáo Việt Nam nói chung và Khất sĩ nói riêng, do đó truyền thống này cần

phải được giữ gìn và phát huy giá trị của nó. Khơng phải cứ cái gì bị người xấu

lợi dụng thì liền xóa bỏ, trong khi nó có nhiều giá trị thiết thực trong đời sống

cộng đồng. Vấn đề là những người lãnh đạo tổ chức, lãnh đạo giáo hội phải có

những giải pháp lưỡng tồn vừa ngăn chặn được tình trạng lợi dụng hình thức

khất thực của một thiểu số thành phần bất hảo nhằm mưu cầu bất chính; vừa giữ

gìn và phát huy được những giá trị văn hóa mà bản thân hoạt động này mang

đến. Đó lại là một bài tốn khó. Tuy nhiên, bài tốn ấy hồn tồn có thể giải

được nếu như có sự phối hợp đồng bộ từ phía các nhà lãnh đạo và các chức sắc

tơn giáo. Có như thế chúng ta mới có thể hy vọng trả lại cho hoạt động tôn giáo

– xã hội này một màu sắc nguyên thủy vốn có của nó.



6



Phép đi khất thực của phái Khất sĩ

- Phép đi khất thực chỉ từ một tới hai người mà thôi trừ khi nào đến xứ lạ,

một hai ngày đầu đi chung cho biết đường sá, đi từ người cách khoảng hai

thước.

- Khi đi lấy cơm, hoặc đi trai tăng tại nhà cư sĩ thì được đi chung, đi một

hàng một, cách nhau 2 thước tây, ai lớn tuổi đạo đi trước, tập sự đi sau.

- Tại tịnh xá có ban cư sĩ hộ pháp, hoặc có nhiều người xin cúng dường

luân phiên giáp 30 ngày trong mỗi tháng, thì Giáo hội nếu đơng chia ra: phân

nửa Tăng đi khất thực, phân nửa Tăng nhận cúng dường trọn bữa ăn.

- Tốt hơn là mỗi người hàng ngày đều phải đi bát, ban hộ pháp chỉ hộ

thêm sau khi đi về.

- Khi đi khất thực nếu ai về khơng kịp ngọ, lỡ q trưa thì phải độ nơi chỗ

vắng, gốc cây, xa đường lộ, phố xá, chợ đông. Phải tránh những chỗ dơ dáy bụi

bặm, cấu trược ồn ào, vì thế sẽ làm nhẹ thể pháp Phật.

- Đi bát khơng được vơ chợ, hoặc đứng phía góc chợ, hoặc chen lấn chỗ

đám đông. Nên phải đi vào trong xóm hoặc các đường lộ xa chợ.

- Mỗi đường có thể đi ba ngày, đi xa không quá ba ngàn thước.

- Bận đi phải đi luôn, bận về nếu thiếu thì đứng trước cửa từ nhà (ngồi

đường, chớ khơng được vào thềm), mỗi nhà đứng năm ba phút theo thứ tự.

- Khi bát còn lưng, thì ơm q tay trái gần trước bụng, lúc đầy rồi phải để

vào túi, phủ nắp lại, quảy phía tay mặt khơng nhận nữa.

- Khơng nhận lãnh đồ vật để trong túi, ngoài bát, hoặc trên nắp bát.



7



- Không được nhận tiền, gạo, không được nhận đồ ăn mặn, khi người đem

đến cúng, mình có thể hỏi thêm chay hay mặn, đó là gương dạy thiện cho người.

- Không được đi vào nhà ai, khi đi khất thực. Nếu phải đi viếng ai, hoặc có

việc của Giáo hội sai, thì đi lại ngay nhà người ta trước, bát mang chớ không

ôm, bận về mới ôm ra đi xin mà trở về.

- Không được đứng lại uống nước, hay đại tiểu khi đi khất thực.

- Bát nếu ơm trần thì được nhận, bát mang trong túi cấm thâu nhận.

- Khơng được ngó mặt thí chủ, hoặc nói chuyện quá năm sáu câu.

- Ai có hỏi đạo giữa đường thì kiếm gốc cây ngồi nói, hoặc hẹn sau khi độ

cơm rồi sẽ nói, hoặc mời người đến ngay chỗ ngụ, hoặc để ngày khác người

thỉnh cúng dường tại nhà có Tăng đơng, có cư sĩ nhiều sẽ nói.

- Khi đi khất thực, ai muốn cúng hoặc thí gì tự ý, bao giờ người hỏi sẽ chỉ

dạy, bằng khơng thì thơi, chớ chê khen bắt lỗi ép buộc người ta.

- Nếu biết cơm có dính lỡ đồ ăn mặn, thì khi về phải cho người khác, chớ

khơng được dùng, bằng khi túng ngặt, phải gụt rửa sạch mới được dùng.

- Khi đi khất thực phải trang nghiêm hòa huỡn ngó ngay xuống, ngó xa hai

thước, chớ ngó liếc hai bên, chớ tìm lóng nghe chuyện người nói, tâm phải niệm

Phật.

- Đừng vừa đi vừa nói chuyện, chỉ chỏ, muốn qua đường quẹo phải đứng

lại xoay mình, chớ đừng đi tắt xéo.

- Mỗi khi có chuyện gì thì phải đứng lại, có ai cúng thì chỉ lại người sau,

cho để bát trước.



8



- Ngày nào ai đi bát đường nào, phải sắp đặt trước tại chùa, chớ đừng ra

đường lộn xộn.

- Khi đi khất thực, ngồi món ăn ra, khơng nhận món chi ai gởi hết. Hãy

bảo người ta đem lại các chùa kia. Ai nói gởi cúng Phật thì khơng được nhận,

hãy nói: "Tăng chỉ là người tu đi xin ăn mà thơi".

- Đồ ăn rồi nếu còn dư phải cho hết, không được để dành.

- Đồ khất thực trước phải độ trước. Đồ cúng dường sau phải độ sau.

- Khi đi khất thực không được chống gậy, mang giày, che dù... Bên trong

mặc áo chừa cánh tay mặt, đầu trần, chưn khơng; bên ngồi phải mặc vấn

thượng y trùm kín.

3-



Kết luận



Khất thực là một trong những hình thức sinh hoạt truyền thống của Phật

giáo hệ Khất sĩ. Hình thức sinh hoạt này tạo nên nét đặc thù trong sinh hoạt văn

hóa Phật giáo khơng chỉ cho trường hợp Tịnh xá Ngọc Viên mà còn hướng tới

xác lập nét văn hóa chung cho cả Việt Nam. Do đó việc khơi phục lại nét văn

hóa truyền thống hay làm sống lại truyền thống này là một việc làm mà các nhà

chức trách, lãnh đạo các giáo hội, tổ chức Phật giáo cần quan tâm. Bởi vì đó

khơng chỉ là sinh hoạt mang tính tơn giáo mà còn mang tính xã hội rộng lớn. Từ

truyền thống khất thực này, những giá trị văn hóa tiếp tục được giữ gìn, chuyển

giao qua từng thế hệ con người, làm nền tảng cho các chuẩn mực xã hội hiện tại

và trong tương lai./.



9



Một số hình ảnh về Tịnh xá Ngọc Viên



10



TÀI LIỆU THAM KHẢO

1. Một số tôn giáo ở Việt Nam (tái bản lần thứ 8) – Nhà xuất bản Tôn giáo,

Hà Nội, năm 2008.

2.



Phan



Ngọc: Đi



xa



để



lại



nghĩ



http://old.thuvienhoasen.org/hanhhuong-laos-06.htm

3. Đạo phật Khất sĩ – Nối truyền Thích ca chánh pháp.

http://daophatkhatsi.vn/



về



gần.



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Sau chuyến du hóa vào đầu năm 1948 tại vùng Sài Gòn-Gia Định-Chợ Lớn, đoàn Du tăng hướng về miền Tây Nam Bộ và dừng chân tại quê hương Vĩnh Long của Tổ sư. Tại đây, được sự hộ trì tận tình của hàng Phật tử tín tâm, những chiếc am cốc nhỏ được tạm dựng lên

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×