Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
PHÂN LOẠI FOUNDATION [3]

PHÂN LOẠI FOUNDATION [3]

Tải bản đầy đủ - 0trang

3.1. Foundation dạng lỏng (fluid foundation): nhũ tương



Hình 3.1. Foundation dạng lỏng



Các foundation dạng lỏng bao gồm các loại nhũ tương dầu trong nước (D/N) và nước trong

dầu (N/D). Trước những năm 1990, hầu hết các foundation là nhũ tương D/N. Nhìn chung, đặc

điểm của dạng này phù hợp cho da hỗn hợp đến da dầu vì:

- Rất nhanh khơ, đơi khi gây khó khăn khi sử dụng

- Độ che phủ kém

- Nhẹ

- Thích hợp cho da hỗn hợp đến da nhờn vì pha ngoại là nước, giúp làn da cảm thấy mát.

Vào những năm 1990, các công thức foundation N/D đầu tiên đã cách mạng hóa thị trường

kem nền. Pha liên tục là dầu tạo nên bề mặt lâu khơ hơn giúp việc dùng sản phẩm hồn hảo.

Lớp phủ của chất màu được cải thiện giúp chúng phân tán tốt hơn trong pha dầu và nhũ tương

trở nên bền vững hơn.

Trong suốt nhiều năm, pha dầu ngày càng đa dạng từ khi sự ra đời của các loại dầu silicon,

ban đầu ở dạng thơng thường và sau đó ở dạng dễ bay hơi. Dầu silicon đã thay đổi đáng kể các

thuộc tính thẩm mỹ của foundation. Việc sử dụng các loại dầu dễ bay hơi, silicon hay

carbonate, đã đưa đến việc thiết kế ra các foundation có hiệu ứng ‘long-lasting’ (ổn định được

lâu dài trên da). Khi pha ngoại bay hơi, lớp màu sẽ tập trung trên da. Bởi vì q trình bám dính

diễn ra song song q trình khô trên bề mặt da, lớp màu chịu được sự ma sát và khơng vấy bẩn

quần áo.

Do đó, foundation “khơng chuyển giao” được sinh ra.

Vào thế kỷ 21, việc kết hợp các loại dầu bay hơi với tính chất bay hơi bay hơi khác nhau tạo ra

các đặc tính mới cho foundation; pha dầu bay hơi đi từ khi dùng tay vỗ nhẹ trong lúc sử dụng.



9



Ngày nay, 90% foundation trên thị trường là nước/silicone/nhũ tương dầu. Trong vài năm qua,

nền hoá học của các tác nhân nhũ hoá ngày càng được mở rộng và cho ra đời nhiều chất nhũ

hóa với những chức năng mới. Với khả năng giữ ẩm hoặc tăng cường tính chất quang học,

những chất này đã góp phần tạo nên sự thoải mái và hiệu quả cao của foundation.

3.2. Foundation dạng nén (Compact foundation)



Hình 3.2.Compact foundation



Compact Foundation là một dạng kem nền được thiết kế dưới dạng hộp phấn. Thành phần của

compact foundation bao gồm sáp và dầu, trong đó có pha màu được phân tán vào dầu bởi

nhiệt. Nhược điểm của compact foundation là chúng có thể nhờn, bề mặt dày và tạo vệt. Việc

sử dụng các loại este và dầu silicon gần đây đã làm bề mặt mỏng hơn, cải thiện chất lượng sản

phẩm. Các loại dầu dễ bay hơi cũng giúp lớp kem nền không bị biến đổi trong suốt thời gian

dài, mang lại độ phủ lâu hơn khi sử dụng. Compact foundation thể hiện ưu điểm khi người

dùng có thể lấy lớp phấn bằng miếng bông, chúng là một sản phẩm lý tưởng để che giấu các

khuyết điểm cục bộ. Dạng đóng gói trong hộp nhỏ gọn làm cho chúng thực tế hơn khi sử dụng

hằng ngày.

Compact Foundation là một dạng bào chế nén đặc biệt có chứa nước. Chúng bao gồm các nhũ

tương N/D hay D/N chứa nhiều sáp được đổ vào hộp phấn dưới tác động của nhiệt, sau khi

nguội chúng sẽ đặc lại tạo thành nhũ tương dạng rắn. Hàm lượng nước trong sản phẩm đòi hỏi

cần thiết sử dụng bao bì khơng thấm nước. Những nhũ tương dạng rắn này rất khó sản xuất

và bảo quản, nhưng chúng có lợi thế rất lớn khi đóng gói nhỏ gọn cũng như thực tế trong sử

dụng. Đôi khi, compact foundation cũng có thể được đóng gói như thỏi son giúp cho việc che

phủ cục bộ chính xác hơn, chẳng hạn như vùng xung quanh mắt.



10



3.3. Phấn nền (Powder)

3.3.1. Phấn bột



Hình 3.3.Phấn bột



Phấn bột đặc trưng bởi sự gắn kết lỏng lẻo của các hạt phấn. Nó khơng chứa chất kết dính

hoặc có thể chứa vừa đủ để cung cấp mức độ liên kết mà kiểm soát được sự linh động sản

phẩm cuối cùng. Phấn bột thường được sử dụng với một miếng bông, nhưng các nhà sản xuất

phát triển sản phẩm để sử dụng một cách dễ dàng hơn bằng cách dùng chổi trang điểm thay vì

bơng. Khơng giống như khi dùng bông, khi dùng chổi trang điểm phấn sẽ phân tán theo ý

người sử dụng.

3.3.2. Phấn nén



Hình 3.4.Phấn nén



Phấn nén là dạng cải tiến tiện dụng hơn của phấn bột. Chúng bao gồm chất độn và chất màu.

Chất kết dính có chứa 10% dầu và mỡ đảm bảo sự kết dính của các hạt phấn nhỏ, đồng thời

cũng đem lại sự thoải mái và dễ sử dụng. Để tạo ra phấn chất lượng cao, phải sử dụng quy

trình xay phù hợp để phân tán chất màu mịn và đồng đều trong suốt khối bột.



11



Hạn chế chính của tất cả các loại phấn là sự khó chịu nhất định liên quan đến dạng kem nền,

chủ yếu là do thiếu chất giữ ẩm.



4. THÀNH PHẦN CHÍNH TRONG FOUNDATION [3]

Ngồi các loại dầu, sáp, các chiết xuất, nước… tùy theo dạng foundation và tùy theo công thức

của mỗi nhà sản xuất. Thì các thành phần khơng thể thiếu trong các foundation là:

4.1. Chất tạo màu

Các gam màu khác nhau của foundation là kết quả của việc kết hợp các chất bột màu với nhau

sao cho:

- Sản phẩm có độ mịn thích hợp và được phân tán đồng nhất để đảm bảo tính ổn định trong

cơng thức.

- Tạo được màu tự nhiên nhất khi thoa lên da.

Để đạt được mục đích này, các chất màu được sử dụng phải tuân thủ các quy định về mỹ

phẩm: vô hại, tinh khiết về mặt hóa học và vi sinh.

Các chất màu vơ cơ như oxyd kim loại (oxyd sắt đen, đỏ, vàng) có thể thêm bột ngọc trai màu

và không màu để tạo độ bóng. Để tạo độ sáng (đặc biệt là những foundation có màu tối), có

thể thay màu đen bằng màu xanh dương.

Để cải thiện sự phân tán của chất màu và ổn định cơng thức, q trình bao phủ chất màu đã

dần dần trở thành tiêu chuẩn. Chẳng hạn với nhũ tương N/D silicone, thường được phủ một

lớp silicone. Phủ bằng acid amin nhằm mục đích phát triển sản phẩm dùng cho những da nhạy

cảm.

4.2. Chất màu có độ phủ

Lượng titan dioxyd quyết định khả năng che phủ khuyết điểm trên da của sản phẩm. Độ che

phủ của một foundation được đánh giá trên thang điểm từ 7 (hiệu ứng da tự nhiên) đến 50

(được make up rõ hoàn toàn). Tuy nhiên, thang đánh giá này bỏ qua các đặc tính quang học

của sản phẩm (cũng có thể che khuyết điểm da thơng qua hiệu ứng tạo nét mềm, mờ). Nó cũng

khơng tính đến ảnh hưởng của kết cấu, mà sẽ xác định mức độ trong suốt hoặc mờ đục của da

nền theo khả năng của sản phẩm để trải đều như một lớp mỏng trên da.

4.3. Các chất độn

Chất độn là tất cả các loại bột (ngoại trừ bột màu) trong sản phẩm, với các chức năng:



12



- Che phủ;

- Hấp phụ bã nhờn và mồ hôi làm cho da mịn màng và điều chỉnh màu sắc cho da;

- Tạo độ mịn và độ mượt, giúp tăng cường chất lượng cảm quan cho mỹ phẩm;

- Giúp thoa sản phẩm trên da dễ dàng hơn (spreadability).

Ví dụ:



 Talc có tính trơn chảy tốt, có thể tạo lớp mỏng trên da với khả năng hấp phụ bã nhờn và

mồ hôi tốt, đồng thời tạo độ mềm mịn tốt. Kaolin, tinh bột và calci carbonat cũng được sử











dụng rộng rãi, nhưng hiện nay chúng được thay thế bởi các dạng khác.

Các dạng silica khác nhau;

Các polymer như nylon và poly methyl methacrylat (PMMA);

Tiểu phân hình cầu mica (cũng có thể được bao).



Những loại bột này khơng chỉ cần thiết cho các thuộc tính cơ bản của một sản phẩm, mà

chúng còn tạo nên các tính chất quang học cho sản phẩm (tạo độ trong suốt hoặc mờ, bóng)

giúp đạt được kết quả mong muốn trên từng loại da.



5. TÍNH AN TỒN VÀ HIỆU QUẢ [3]

Người dùng mỹ phẩm có thể phải tiếp xúc với nhiều loại hóa chất trong nhiều giờ liền nên tất

cả các sản phẩm mỹ phẩm cần phải được kiểm tra tính an tồn và hiệu quả của chúng. Tính an

tồn và hiệu quả của sản phẩm được kiểm soát qua các bước bào chế như sau:

5.1. Thiết kế (Design stage)

Các nguyên liệu riêng lẻ trước khi được phối trộn cần phải được đảm bảo rằng chúng an toàn

và lượng sử dụng không vượt quá liều gây độc. Việc kiểm tra có thể được thực hiện bằng cách

rà sốt hồ sơ về tính chất và thành phần của nguyên liệu, hoặc có thể thử nghiệm để thử độc

tính in vitro trên các mơ hình da nhân tạo (reconstructed skin models).

5.2. Lập cơng thức (Formulation stage)

Cần thiết phải:

- Khảo sát tính bền của chế phẩm bằng phương pháp lão hóa cấp tốc

- Kiểm tra mức độ nhiễm vi sinh bằng phương pháp thích hợp. Mức độ nhiễm vi sinh thường

cao hơn khi chế phẩm có chứa nhiều nước và phụ thuộc vào kiểu dáng bao bì (ví dụ: chế phẩm

chứa trong bình có vòi bơm sẽ có mức độ tạp nhiễm ít hơn so với chế phẩm chứa trong các

loại hộp miệng rộng)



13



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

PHÂN LOẠI FOUNDATION [3]

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×