Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
LỊCH SỬ PHÁT TRIỂN [3]

LỊCH SỬ PHÁT TRIỂN [3]

Tải bản đầy đủ - 0trang

2.3. Ai Cập cổ đại (thiên niên kỷ thứ 3 TCN)

Các linh mục sử dụng thạch cao để che mặt. Chất liệu này cũng được những phụ nữ ưa chuộng

để có được làn da trắng khơng tỳ vết, đây cũng là dấu hiệu của sự hưởng thụ của tầng lớp quý

tộc, giới cầm quyền.

Làn da đã được làm trắng bởi hỗn hợp thạch cao, calci carbonate, thiếc oxyd, ngọc trai xay, và

chì carbonat trộn với mỡ động vật, sáp và nhựa tự nhiên. Bằng chứng về sự phức tạp của công

thức bào chế mỹ phẩm xưa đã được xác định bằng cách tiến hành phân tích hóa học thực hiện

bởi Trung tâm nghiên cứu Quốc gia, Phòng thí nghiệm nghiên cứu của Viện bảo tàng Pháp và

Cơ sở bức xạ Synchrotron châu Âu về thành phần của lọ chứa mỹ phẩm được tìm thấy trong

các cuộc khai quật khảo cổ học. Công thức mỹ phẩm đầu tiên được xây dựng sớm nhất là do

Cleopatra - “Cleopatrae gyneciarum libri”.

2.4. Hy Lạp cổ đại

Ở Hy Lạp cổ đại, làn da trắng, nhợt nhạt là biểu tượng của sự tinh khiết. Vì vậy, người phụ nữ

thời này sử dụng bột chì trắng, thạch cao, phấn, cao lanh để sở hữu làn da như mong muốn.

Tuy nhiên, Plato đã cảnh báo sự độc hại của những mỹ phẩm này.

2.5. La Mã cổ đại

Người La Mã cổ đại đã nâng tầm của việc trang điểm đến mức độ như là một hình thức nghệ

thuật. Mỹ phẩm ngồi làm tăng vẻ đẹp của khn mặt và cơ thể, mỹ phẩm còn được dùng để

cải thiện vẻ ngoài và che lấp khuyết điểm, đặc biệt khiếm khuyết do q trình lão hóa. Những

người phụ nữ thuộc các tầng lớp cao "phủ" lên khuôn mặt của họ bởi một hỗn hợp phức tạp.

Ví dụ như, lúa mạch, bột gạc hươu, nụ hoa thuỷ tiên, lúa mì, gơm và mật ong là các thành

phần của một hỗn hợp để làm cho khn mặt sáng bóng. Phân cá sấu khơ, chì carbonat, chiết

xuất từ thực vật, cũng như lanolin được sử dụng để làm trắng da. Gần đây, phân tích công thức

của 1 dạng thuốc mỡ tên là Londinium, được phát hiện ở London cho thấy thành phần có chứa

polyme, tinh bột và thiếc oxyd. Thể chất màu trắng của kem phản ánh một mức độ tinh tế nhất

định về công nghệ.

2.6. Từ thời Trung cổ đến thế kỷ thứ 19

Ở châu Âu, từ thời Trung Cổ đến giữa thế kỷ 20, giáo dục tốt và tư cách đạo đức tốt có liên

quan đến một làn da trắng. Trong thời Trung cổ, những nguyên liệu được dùng để trang điểm

bao gồm nước, hoa hồng và flor; cũng không ngăn cản sự trở lại mạnh mẽ của chì oxyd trong



6



thời kỳ Phục hưng. Hỗn hợp sau đó được trộn với arsen và thủy ngân để tạo nên một làn da

màu bạc. Tuy nhiên, chính quyền bắt đầu trở nên lo lắng về tác dụng độc hại của những loại

mỹ phẩm này. Năm 1779, sau hàng loạt những trường hợp nghiêm trọng liên quan đến mỹ

phẩm, việc sản xuất “kem nền” được kiểm sốt chặt chẽ bởi Hiệp hội Y học hồng gia (Société

Royale de Médicine) được thành lập vào năm 1778. Các thành phần độc hại sau đó đã được

loại bỏ. Các loại mỹ phẩm này gần như biến mất khỏi thị trường, nhưng mãi đến năm 1915,

việc sử dụng chì oxid mới chính thức bị cấm. Năm 1873, Ludwig Leichner, một ca sĩ tại Nhà

hát Opera Berlin, đã tìm cách bảo vệ làn da của mình bằng cách tạo ra kem nền của riêng mình

từ các chất màu tự nhiên. Năm 1883, Alexandre Napoléon Bourjois phát minh ra dạng kem

nền khô hay phấn nền đầu tiên. Với sự ra đời của ngành công nghiệp mỹ phẩm, các sản phẩm

được phân phối rộng rãi hơn. Các kỹ thuật sản xuất hiện đại với quy mô sản xuất công nghiệp

kết hợp với số lượng lớn người tiêu dùng đã mở đầu cho đầu thế kỷ 20.

2.7. Thế kỷ 20: thời đại công nghiệp và đa dạng hoá

Vào thế kỷ 20, phấn thời trang cho da trở nên tinh vi hơn. Thị trường lựa chọn mở rộng với sự

ra mắt của các thương hiệu mới như Gemey, Caron, và Elizabeth Arden.

Những năm 1930, chứng kiến sự phát triển của các thương hiệu như Helena Rubinstein và

Max Factor nhờ những bộ phim chuyên nghiệp và các nghệ sĩ trang điểm Hollywood. Các sản

phẩm thay đổi phù hợp với yêu cầu của các hãng phim với màu sắc vơ cùng sặc sỡ và khó sử

dụng. Sau thành cơng của kem nền của Max Factor có tên thương mại là Pancake, việc sử

dụng từ “trang điểm” trở nên phổ biến. Được khởi xướng bởi Chanel vào năm 1936, thời trang

ở châu Âu và Mỹ bắt đầu chuyển từ da trắng sang làn da rám nắng.

Mặc dù phụ nữ có xu hướng sử dụng mỹ phẩm, trang điểm vẫn không phải là một phần của

cuộc sống hàng ngày. Pancake, hỗn hợp stearate, lanolin và bột khô không dễ dàng để sử

dụng. Những tiến bộ kỹ thuật dần dần làm cho sản phẩm trở nên thiết thực hơn. Vào năm

1937, hộp phấn bột được trang bị thêm rây (Caron). Năm 1940, Lancôme đã cho ra mắt hộp

phấn sáp dạng kem. Coty tạo ra sản phẩm bột nghiền nhỏ (Air Spun) vào năm 1948. Tuy

nhiên, mãi cho đến những năm 1950, số lượng sản phẩm mới thực sự bùng nổ trên thị trường

như kem nền nén trong hộp phấn; kem nền dạng lỏng (Gemey, Teint Clair Fluide, 1954). Đó là

sự khởi đầu của một sự đa dạng hóa tuyệt vời của các công thức: chất lỏng, hộp phấn nén dạng



7



kem hoặc khô, thỏi kem nền và bột. Trang điểm khơng chỉ tạo màu cho da mà còn có nhiều tác

dụng khác như dưỡng ẩm, bảo vệ da khỏi các tác nhân gây hại của mơi trường và chăm sóc da.

Kể từ đó, việc trang điểm cho da đã khơng ngừng thay đổi để phù hợp với các quy định và

những tiến bộ trong kiến thức sinh học, đặc biệt là trong lĩnh vực sinh lý học da. Trong những

thập kỷ qua, việc trang điểm đã thừa hưởng được những lợi ích từ cơng nghệ tiến bộ trong lĩnh

vực ngun liệu thô cũng như sự hiểu biết sâu rộng về quang học và vật lý. Cuối cùng, trang

điểm đã trở nên phong phú với sự đa dạng của các nền văn hóa từ khắp nơi trên thế giới. Thế

kỷ 21 đã mở ra một kỷ nguyên mới về hiệu ứng hình ảnh, các yếu tố cảm giác và đa văn hóa.



3. PHÂN LOẠI FOUNDATION [3]

Người phụ nữ mong đợi kem nền (foundation) có thể tạo nên sự biến đổi hồn thiện trên

khn mặt như che giấu sự khơng hồn hảo trên da mặt, những khuyêt điểm, biến đổi màu và

nếp nhăn, đồng thời hỗ trợ phục hồi làn da xỉn màu và làm cho da sáng bóng hơn. Bên cạnh

việc trang điểm cho đơi mắt và đơi mơi thật hồn hảo, làn da nhận được sự quan tâm hơn rất

nhiều. Chính trong lĩnh vực này, phụ nữ thể hiện chuyên mơn lớn nhất của họ và là những

người đòi hỏi khắt khe nhất. Phụ nữ có kỳ vọng cao cho lớp nền của họ như:

• Đảm bảo sự đồng nhất cho làn da và che giấu đi những khuyết điểm

• Ẩn đi các nếp nhăn và lỗ chân lơng

• Dễ chịu cho làn da

• Làm mờ làn da bóng

• Thích hợp khi trang điểm ngày dài

• Khơng thay đổi màu theo thời gian

• Dễ dàng, dễ chịu khi sử dụng

• Thích hợp cho làn da nhạy cảm.

Để đáp ứng nhu cầu đa dạng, một số lượng lớn các dạng sản phẩm được phát triển như:

• foundation dạng lỏng

• foundation dạng nén thuận tiện cho việc mang đi

• phấn sử dụng riêng lẻ hoặc kết hợp với foundation lỏng



8



3.1. Foundation dạng lỏng (fluid foundation): nhũ tương



Hình 3.1. Foundation dạng lỏng



Các foundation dạng lỏng bao gồm các loại nhũ tương dầu trong nước (D/N) và nước trong

dầu (N/D). Trước những năm 1990, hầu hết các foundation là nhũ tương D/N. Nhìn chung, đặc

điểm của dạng này phù hợp cho da hỗn hợp đến da dầu vì:

- Rất nhanh khơ, đơi khi gây khó khăn khi sử dụng

- Độ che phủ kém

- Nhẹ

- Thích hợp cho da hỗn hợp đến da nhờn vì pha ngoại là nước, giúp làn da cảm thấy mát.

Vào những năm 1990, các công thức foundation N/D đầu tiên đã cách mạng hóa thị trường

kem nền. Pha liên tục là dầu tạo nên bề mặt lâu khô hơn giúp việc dùng sản phẩm hoàn hảo.

Lớp phủ của chất màu được cải thiện giúp chúng phân tán tốt hơn trong pha dầu và nhũ tương

trở nên bền vững hơn.

Trong suốt nhiều năm, pha dầu ngày càng đa dạng từ khi sự ra đời của các loại dầu silicon,

ban đầu ở dạng thơng thường và sau đó ở dạng dễ bay hơi. Dầu silicon đã thay đổi đáng kể các

thuộc tính thẩm mỹ của foundation. Việc sử dụng các loại dầu dễ bay hơi, silicon hay

carbonate, đã đưa đến việc thiết kế ra các foundation có hiệu ứng ‘long-lasting’ (ổn định được

lâu dài trên da). Khi pha ngoại bay hơi, lớp màu sẽ tập trung trên da. Bởi vì quá trình bám dính

diễn ra song song q trình khơ trên bề mặt da, lớp màu chịu được sự ma sát và khơng vấy bẩn

quần áo.

Do đó, foundation “khơng chuyển giao” được sinh ra.

Vào thế kỷ 21, việc kết hợp các loại dầu bay hơi với tính chất bay hơi bay hơi khác nhau tạo ra

các đặc tính mới cho foundation; pha dầu bay hơi đi từ khi dùng tay vỗ nhẹ trong lúc sử dụng.



9



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

LỊCH SỬ PHÁT TRIỂN [3]

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×