Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Cu trỳc ca khúa lun

Cu trỳc ca khúa lun

Tải bản đầy đủ - 0trang

NỘI DUNG

CHƢƠNG 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN

1.1. Cơ sở tâm lý học

1.1.1. Đặc điểm tri

giác

Trẻ mẫu giáo thƣờng tri giác những gì phù hợp với nhu cầu, những gì

thƣờng gặp hoặc ợc giỏo viờn ch dn. Tớnh cảm xỳc th hin rất rõ khi

các em tri giác. Những gì trực quan rực rỡ, sinh động đƣợc trẻ trực giác tốt

hơn. Điều này cho thấy tính cần thiết phải đảm bảo tính trực quan trong

dạy học nói chung và trong kể chyện nói riêng.

1.1.2.Đặc điểm chú ý

Chú ý khơng chủ định phát triển m¹nh ở trẻ 5 - 6 tuổi. Sự chú ý của

trẻ tập chung vào những gì mới mẻ, rực rỡ. Chú ý có chủ định còn thiếu, các

em chỉ thực sự chú ý khi có động cơ cần thúc đẩy nhƣ: đƣợc cô khen, đƣợc

các bạn biểu dƣơng, thán phục,…Vậy khen thƣởng có ý nghĩa lớn với các

em.

1.1.3. Đặc điểm trí nhớ

Ở tuổi này trí nhớ trực quan phát triển mạnh hơn trí nhớ từ ngữ logic.

Các trẻ ghi nhớ những sự vật hiện tƣợng cụ thể dễ dàng hơn nhiều so với

nhũng lời giải thích dài dòng khuynh hƣớng ghi nhớ máy móc là đặc điêm

nổi bật và cần đƣợc phát huy trong mơn kể chun cho trẻ.

1.1.4. Đặc điểm tư duy

Tƣ duy trực quan hình tƣợng chiếm ƣu thế ở trẻ lứa tuổi mẫu giáo. Trẻ

tiếp thu bài giảng của cơ giáo chủ yếu bằng hình ảnh, đồ dùng trực quan. Có



thể nói, hình ảnh và đồ dùng trực quan là một trong những biện pháp phát

triển ngôn ngữ của trẻ.



1.1.5. Đặc điểm tưởng tượng

Trẻ mẫu giáo là tuổi thần tiên, lứa tuổi có nhiều trí tƣởng tƣợng

phong phú nhất, trẻ có thể tƣởng tƣợng mình đƣợc gặp Hồng tử, Cơng chúa,

đƣợc đi chơi cùng Lọ Lem, cơ Tấm,… Đó là những giấc mơ hết sức hồn

nhiên, hết sức đáng yêu của trẻ. Song tƣởng tƣợng của trẻ cßn tản mạn.

Những đồ dùng trực quan sinh động, những cử chỉ điệu bộ, ngôn ngữ giàu

nhạc điệu của giáo viên là điều kiện tốt để trẻ hình thành tƣởng tƣợng.

1.1.6. Sự phát triển nhân cách

Trẻ từ 3-6 tuổi là thời điểm quan trọng cho việc hình thành và phát triển

nhân cách. Ở lứa tuổi này, những tác động giáo dục từ phía nhà giáo dục ảnh

hƣởng chủ đạo đến sự hình thành và phát triển nhân cách của trẻ thơ. Trong

giai đoạn 5-6 tuổi, sự phát triển nhân cách của các em tƣơng đối êm đềm,

phẳng lặng. Tuy nhiên cũng có những biểu hiện rõ nét mới: trẻ dễ xúc động,

khó kìm hãm cảm xúc. Tình cảm của trẻ gắn liền với đặc điểm trực quan, hình

ảnh cụ thể.

1.1.7. Đặc điểm sinh lý lứa tuổi

Trẻ 5-6 tuổi thì não bộ và hệ thần kinh đã phát triển và dần hồn thiện

nên trẻ rất dễ bị kích động. Do vậy ngƣời lớn và giáo viên cần tránh quát

mắng, nạt nộ trẻ, ngắt lời thô bạo khi trẻ đang tham gia học tập, vui chơi.

Giáo viên cần nhẹ nhàng, dịu dàng, tế nhị trong quá trình dạy trẻ kể chuyện.

1.2. Cơ sở giáo dục học

Giáo dục mầm non là quá trình trong đó dƣới tác động chủ đạo của giáo

viên , trẻ hoạt động, học tập, vui chơi. Hoạt động chủ đạo của trẻ là hoạt động

vui chơi. Trẻ học tập thơng qua hoạt động với đồ vật. Q trình giáo dục hình

thành hành vi và thói quen hành vi, những chuẩn mực hành vi đã đƣợc quy

định, đáp ứng đƣợc mục đích và nhiệm vụ giáo dục trong trƣờng mầm non:



giáo dục để hình thành và phát triển nhân cách, không chỉ giáo dục trẻ về

hành vi đạo đức mà còn giáo dục về thẩm mỹ, thể chất cho trẻ.

Chƣơng trình kể chuyện trong bộ mơn: “Cho trẻ làm quen với tác

phẩm văn học” cho trẻ mẫu giáo nói chung và cho trẻ 5 - 6 tuổi nói riêng thì

tất cả các truyện đều hƣớng đến mục tiêu giáo dục toàn diện về nhân cách

cho trẻ trên nhiều mặt khác nhau. Những câu chuyện dành cho trẻ 5 - 6 tuổi

thƣờng là những câu chuyện dài hơn, có ý nghĩa giáo dục sâu sắc về tình yêu

quê hƣơng đất nƣớc, yêu gia đình, bạn bè, trƣờng lớp. Khi dạy trẻ kể

chuyện học trong những giờ học kể chuyện, giáo viên cần phải giúp trẻ

hiểu đƣợc những bài học giáo dục của câu chuyện đó. Ví dụ nhƣ truyện: “

Bơng hoa cúc trắng” giáo dục trẻ về lòng hiếu thảo của con cái dành cho

mẹ. Nhờ có lòng hiếu thảo mà ngƣời con đã giúp mẹ khỏi ốm. Hay truyện:

“Chó Dª đen” giáo dục trẻ về lòng dũng cảm, khơng đƣợc nhút nhát,

đồng thời phê phán những kẻ cạy mạnh bắt nạt yếu.

Giáo dục không chỉ đơn thuần trong nhà trƣờng mà còn đòi hỏi sự tác

động từ nhiều phía: gia đình, nhà trƣờng và xã hội.

Giáo dục cũng có trình tự và logic, phù hợp với tâm sinh lý của trẻ.

Quá trình giáo dục diễn ra từ dễ đến khó, từ đơn giản đến phức tạp. Giáo dục

ghi nhận rằng tuổi càng nhỏ, giáo dục hành vi ý thức cũng phải rất nhỏ bởi vì

kinh nghiệm sống và khả năng nhận thức của trẻ còn vơ cùng ít ỏi. Vì vËy

việc giáo dục trẻ thơng qua những truyện kể không phải là việc làm một sớm

một chiều mà phải lâu dài và phải đƣợc tác động thƣờng xuyên. Điều đó sẽ

mang lại hiệu quả cao trong giáo dục.

Việc dạy trẻ 5 - 6 tuổi kể chuyện và việc giáo dục đạo đức cho trẻ

thông qua ý nghĩa các câu chuyện là hai hƣớng đi song song, nhất quán thúc

đẩy và hỗ trợ để phát triển ngôn ngữ mạch lạc cho trẻ và dần hình thành nhân

cách trẻ thơ. Ngƣời giáo viên mầm non phải biết phối hợp khéo léo về nội

dung và phƣơng pháp giáo dục của câu chuyện kể nhằm đạt mục tiêu giáo dục

đề ra.



1.3. Cơ sở ngôn ngữ

Ngôn ngữ là phƣơng tiện giao tiếp quan trọng nhất của lồi ngƣời.

Ngồi ra ngơn ngữ còn là phƣơng tiện biểu lộ tâm trạng, tình cảm. Bởi thế,

Lê - Nin đã từng nói: “Ngơn ngữ là hiện thực trực tiếp của tư tưởng” .

Hàng vạn năm, khi con ngƣời còn ở thời kỳ ngun thủy thì ngơn ngữ

chƣa hề xuất hiện. Trải qua quá trình lao động và sản xuất con ngƣời cần trao

đổi những thứ thu lƣợm đƣợc. Cuộc sống đã cho con ngƣời âm thanh trong

giao tiếp, để trao đổi những ý tƣởng hay, những kinh nghiệm lịch sử và cho

con ngƣời cách ghi lại, truyền lại cho đời sau những kinh nghiệm lịch sử xã

hội đó. Âm thanh chữ viết đó chính là ngơn ngữ. Thật vậy: “ Cùng với lao

động, ngôn ngữ là yếu tố làm cho con vật trở thành con người” ( F. Ăng ghen). Nói cách khác ngơn ngữ góp phần quan trọng, tích cực cho q trình

hình thành tâm lý con ngƣời. Tiến xa hơn nữa, ngơn ngữ có vai trò rất quan

trọng trong đời sống.

1.4. Kể chuyện và vai trò kể chuyện trong đời sống

1.4.1. Phân biệt đọc và kể

1.4.1.1. Đọc

Ngƣời đọc sử dụng mọi sắc thái giọng của mình và các phƣơng diện

đọc biểu cảm khác làm cho tác phẩm cất tiếng nói. Cơng việc của ngƣời đọc

hết sức nghiêm túc, thể hiện giọng phải chính xác nguyên văn từng c©u,

từng chữ trong văn bản, khơng đƣợc thêm cũng nhƣ bớt một từ nào trong

văn bản đọc. Việc thể hiện một văn bản đọc đều phải đảm bảo số lƣợng từ,

đọc chính xác khơng đƣợc thốt ly văn bản.

1.4.1.2. Kể

Kể cũng dùng âm thanh, các sắc thái ngữ điệu khác nhau để thể hiện

một văn bản nhƣng khi kể so với đọc thì hồn tồn khác nhau về mặt biểu

cảm. Bởi khi kể chuyện, ngƣời kể không phải kể đúng từng từ, từng chữ trong

văn bản đó mà điều quan trọng là ngƣời kể phải làm sao thể hiện đƣợc hết nội

dung câu chuyện bằng ngữ điệu, giọng điệu, bằng cử chỉ, điệu bộ của mình



làm cho ngƣời nghe hiểu đƣợc hết nội dung văn bản. Hầu hết các câu chuyện

kể hay khơng phải ngƣời ta tính đến văn bản đó có bao nhiêu chữ mà phải là

cách thể hiện nội dung đó hấp dẫn nhƣ thế nào. Đặc biệt trong khi kể, ngƣời

kể có quyền thốt ly khỏi văn bản, có thể thêm bớt từ .

Nhƣ vậy, đọc và kể là hai phạm trù khác nhau, cũng có thể trên cùng

một văn bản nhƣng hình thức thể hiện thì hồn tồn khác nhau. Một bên là

đọc chính xác nguyên văn từng chữ đảm bảo số lƣợng từ không đƣợc thêm

bớt, một bên ngƣời kể có quyền đƣợc thốt ly văn bản sao cho nội dung, cốt

truyện, tình tiết và nội dung đƣợc đảm bảo.

1.4.2. Vai trò của kể chuyện trong đời sống nói chung và trong trường mầm

non nói riêng

1.4.2.1. Vai trò của kể chuyện trong đời sống

Nghe kể chuyện và đƣợc kể chuyện lâu nay vẫn là món ăn tinh thần

khơng thể thiếu của trẻ em. Từ xa xƣa, khi chƣa có chữ viết, con ngƣời vẫn

trao đổi với nhau bằng những câu chuyện kể về những việc xảy ra trong đời

sống hàng ngày sau đó ngƣng đọng lại thành kinh nghiệm và tác phẩm văn

học. Đầu tiên là văn học truyền miệng hay còn gọi là văn học bình dân, văn

học dân gian. Ta thấy từ rất lâu, nếu khơng có chuyện kể thì trong cộng đồng

ngƣời, trong lao động sản xuất không xuất phát từ những câu chuyện bình

thƣờng hàng ngày thì khơng thể có kho tàng truyện cổ, những câu hát dân

gian, những câu chuyện ngụ ngôn vô cùng phong phú để lại cho ngày hơm

nay.

Nội dung của mỗi câu chuyện đều có khả năng giáo dục cho con ngƣời

và lay động tƣ tƣởng con ngƣời, hƣớng con ngƣời đến cái chân, thiện, mĩ.

Kể chuyện ngồi ý nghiã trao đổi thơng tin nó còn giúp con ngƣời kinh

nghiệm sống, chẳng hạn nhƣ cách đối xử giữa con ngƣời với con ngƣời.

Thạch Sanh và Lý Thơng trong truyện“Thạch Sanh” là hai nhân cách

hồn tồn trái ngƣợc. Lý Thông là kẻ tham lam, độc ác không làm mà

muốn hƣởng giàu sang còn Thạch Sanh lại là ngƣời hiền lành, tốt bụng

chăm chỉ làm việc. Còn



rất nhiều các câu chuyện có nội dung nhƣ thế: Sọ Dừa, Tấm Cám, Cây

khế,…Ngoài bài học đối nhân xử thế, khi kể chuyện cho nhau, con ngƣời còn

lƣu lại cho thế hệ sau một nền văn hóa của dân tộc để rồi mãi đến bây giờ con

ngƣời hiện đại vẫn giữ đƣợc nét văn hố đó và trở thành phong tục tập quán

ngàn đời của dân tộc. Cỗ xe văn hóa phong phú, sâu sắc ấy vấn ch¹y m·i

với thời gian nhƣ truyện : “Bánh chưng, bánh dầy”, “Sự tích trầu cau”, “Sự

tích ơng Táo lên chầu trời”, …Ngƣời lớn trong mỗi gia đình ln lấy

những câu chuyện đó làm gƣơng để giáo dục con cái về lòng tốt, về tấm

gƣơng anh hùng nhƣ truyện : “Thánh Gióng”, “Quạ và Cơng”, “Ơng

Trạng thả diều”,…Có thể nói qua các câu chuyện có ý nghĩa giáo dục đạo

đức, không chỉ nhằm giáo dục trẻ mà ngay cả ngƣời trƣëng thành cũng đƣợc

cảm hóa.

1.4.2.2. Vai trò cđa kể chuyện trong trường mầm non

Đối với trẻ thơ, mỗi câu chuyện kể giúp trẻ có những ƣớc mơ bay bổng.

Chúng ảnh hƣởng chủ đạo đến sự phát triển toàn diện cho trẻ. Mỗi câu chuyện

kể đều có thể đánh thức ƣớc mơ của trẻ làm cho trẻ nhận thức đƣợc thế giới

xung quanh, có biểu tƣợng về thực tế xã hội, từng bƣớc cung cấp cho trẻ

những kh¸i niệm mới mở rộng và những khái niệm sống mới.

Cũng nhƣ ngƣời lớn, thông qua những câu chuyện đó trẻ có đƣợc

những nhận xét về con ngƣời, trẻ biết yêu cô Tấm, thƣơng ngƣời em trong

“ Cây khế”, biết ghét mụ dì ghẻ độc ác và những ngƣời anh tham lam,…Qua

đó đạo đức của trẻ dần đƣợc hồn thiện.

Kể chuyện có vai trò giúp trẻ nhận thức thế giới khơng chỉ bó hẹp trong

những câu chuyện trong nƣớc mà còn cả những câu chuyện nƣớc ngồi có

trong chƣơng trình mẫu giáo. Đó là những câu chuyện đƣợc chọn lọc, có tính

giáo dục cao, mang lại dấu ấn tốt đẹp khó phai mờ trên đƣờng đời của trẻ từ

khi còn ở tuổi mẫu giáo cho đến khi trƣởng thành. Các câu chuyện của đất

nƣớc Ả Rập, Hi Lạp, Nga, …và các truyện từ khu vực châu Á đều thể hiện rất

rõ điều này, nhƣ truyện “Bông hoa cúc trắng” có xuất xứ từ Nhật Bản, “Ơng

lão đánh cá và con cá vàng” - truyện cổ Nga, “Nàng Bạch Tuyết và bẩy chú



lùn” - truyện cổ Đức,…Có thể nói truyện kể dù là trong hay ngoài nƣớc đều

giúp trẻ nhỏ nhận thức đƣợc thế giới, giáo dục toàn diện cho trẻ nhỏ nhƣ:

“Sơn tinh Thủy tinh”, “Sự tích cây sầu riêng”, “Sự tích cây vú sữa”,…

Những câu chuyện viết về thiên nhiên giúp các em làm quen với đời

sống của động vật, thực vật. Những câu chuyện đó khơng chỉ cung cấp cho trẻ

tri thức bổ ích mà còn dạy cho trẻ biết quan sát tỉ mỉ, biết cách hiểu theo quan

điểm duy vật biện chứng những hiện tƣợng thiên nhiên hoặc cách đối xử với

động vật. M.X.Gorki đã hồi tƣởng lại : “Chắc chắn tôi không thể nào truyền

lại thật đầy đủ và rõ ràng nỗi kinh ngạc của tôi lớn lao như thế nào khi tôi

cảm thấy rằng mỗi quyển sách mở ra trước mắt tôi cánh cửa vào một thế giới

kỳ lạ chưa từng biết, kể cho tơi nghe những con người, những tình cảm,

những suy nghĩ và những mối quan hệ mà xưa nay tôi chưa từng thấy, từng

hay”.

Khi nghe một câu chuyện, trẻ sống bằng cuộc sống của nhân vật, trẻ

biết lắng nghe và đồng cảm với các nhân vật trong truyện. Ngày nay, ở lứa

tuổi em khi còn nhỏ đã biết yêu mến và bảo vệ thiên nhiên qua truyện kể.

Tình u đó chính là lòng yêu quê hƣơng ngay từ những câu chuyện ban đầu

mẹ kể khi còn nằm trong nơi.

Ngồi ra, vai trò to lớn của kể chuyện trong trƣờng mầm non là giúp

các em hoàn thiện nhân cách biết quý trọng con ngƣời, yêu thiên nhiên và

chắp cánh những ƣớc mơ của trẻ. Kể chuyện còn giúp giáo dục thẩm mĩ cho

trẻ. Kể chuyện góp phần chủ đạo trong việc phát triển khả năng tƣ duy, phát

triển ngôn ngữ - nhất là lời nói mạch lạc cho trẻ mẫu giáo lớn, chuẩn bị tâm

thế cho trẻ vào lớp Một. Vốn ngôn ngữ ban đầu còn rất ít nhƣng qua kể

chuyện, các em sẽ tăng thêm rất nhiều. Đó là một thứ ngôn ngữ nghệ thuật

làm nền tảng, làm vốn sống của trẻ phong phú thêm, là nền tảng của ngôn ngữ

mạch lạc và là hành trang chắp cánh cho những ƣớc mơ của trẻ.

1.5. Thế nào là thủ thuật kể chuyện

1.5.1.



Kh¸i niệm cốt truyện



Theo từ điển thuật ngữ văn học, chủ biên Lê Bá Hán,

Trần Đình Sử, Nguyễn Khắc Phi thì : Cốt truyện là hệ

thống những sự kiện cụ thể đợc tỗ chức theo yêu cầu

của hệ thống t tởngvà nghệ thuật nhất định, tạo

thành một bộ phận cơ bản, quan trọng nhất trong hình

thức động của tác phẩm văn học thuộc các loại tự sự và

kịch.[Trang 88 /NXB §HQG / 1999 ].

1.5.2.



Nghệ thuật kể chuyện



Nhƣ chúng ta đã biết, trong cuộc sống hàng ngày con ngƣời thƣờng kể

cho nhau nghe rất nhiều truyện khác nhau. Có một điều mà chúng ta dễ nhận

thấy là cách kể chuyện của mỗi ngƣời. Mặc dù đƣợc nghe cùng một câu

chuyện nhƣng do nhiều ngƣời kể khác nhau mà câu chuyện cũng đƣợc xảy ra

trong một không gian hay thời gian nhất định. Ví dụ nhƣ cùng kể về chuyến

đi Sa Pa của đồn thực tập nghe ngƣời A kể thì ta thấy nó là một sự việc hết

sức bình thƣờng nhƣng khi nghe ngƣời B kể thì đó lại là một câu chuyện hết

sức thú vị và hấp dẫn. Nhƣ vậy có tạo ra đƣợc điều này là do đâu? Đó chính

là nhờ vào nghệ thuật kể chuyện của tài tình của ngƣời B.

Theo cuốn : “Vấn đề dạy tác phẩm và thể loại” của tác giả Nguyễn Viết

Chữ - ĐHSP Hà Nội thì : “Nghệ thuật kể chuyện là biết chọn lọc và sắp xếp.

Người kể chuyện khéo léo thì biết dừng lại ở chỗ nào, lướt qua chỗ nào, cái gì

là chính, cái gì là phụ, cái gì nói trước, cái gì nói sau sao cho câu chuyện có

đầu, có cuối, lơi kéo được sự chú ý của người nghe và làm nổi bật được ý

nghĩa của sự việc”. Nghệ thuật kể chuyện giúp ngƣời kể hút đƣợc ngƣời

nghe, lôi cuốn đƣợc ngƣời nghe đến với cuộc sống của các nhân vật trong

truyện.

1.5.3.



Từ “nghệ thuật kể chuyện” đến “thủ thuật kể chuyện”



Về kể chuyện, có nhiều cách nói khác nhau, có ngƣời nói là nghệ thuật

kể chuyện, có ngƣời nói là cách thức hay phƣơng thức kể chuyện. Nhƣng

chúng tơi thấy rằng “thủ thuật kể chuyện” có thể xem là một thuật ngữ đắt

dành để nói về kể chuyện.



Theo từ điển Tiếng Việt của tác giả Hồng Phê thì : “Thủ thuật là cách

thức tiến hành động tác khéo léo và có tính kỹ thuật hoặc kinh nghiệm cao để

thực hiện một việc làm nào đó có hiệu quả.” [ 1190/ NXB Đà Nẵng/2008 ].

Thuật ngữ này thƣờng đƣợc dùng trong y học vì mọi động tác của y học đều

đòi hỏi sự khéo léo và tinh xảo.

“Thủ thuật kể chuyện” là những kỹ năng đạt đến trình độ cao nhất tinh

xảo nhất chứ không đơn thuần chỉ là những phƣơng thức, phƣơng pháp kể

chuyện thông thƣờng. Nắm đƣợc những thủ thuật cơ bản khi kể chuyện trẻ sẽ

chọn lựa, sắp xếp và diễn tả bằng cả tài năng của mình để từ đó tạo ra đƣợc

một sức hấp dẫn kỳ diệu và thu hút ngƣời khác vào câu chuyện mình kể, cũng

nhƣ ý nghÜa hàm ẩn mà mình muốn diễn đạt và bộc lộ.

Ngôn ngữ vốn là một thứ vật liệu đặc biệt quan trọng trong việc xây

dựng nên các tác phẩm. Nên khi đứng trƣớc ngôn ngữ của cuộc sống, các tài

năng văn học khác nhau đã có những cách thức lựa chọn và xây dựng cho

mình một hệ thống ngôn ngữ kể chuyện mang đặc thù riêng. Ngôn ngữ kể

chuyện là một yếu tố quan trọng trong việc tạo ra nền đặc sắc nghệ thuật của

tác phẩm từ đó làm nên thành cơng khác nhau với từng tác giả. Ngơn ngữ kể

chuyện chính là chiếc cầu nối giúp nhà văn và bạn đọc xích lại gần nhau hơn.

Vì thế, việc khám phá ra ngơn ngữ kể chuyện, tìm ra đƣợc thủ thuật kể

chuyện chính là một điều kiện tốt để ta có thể khám phá ra tài năng thật sự

của các nhà văn.



CHƢƠNG 2

MỘT SỐ THỦ THUẬT KỂ CHUYỆN CƠ BẢN

2.1. Thanh điệu cơ bản

2.1.1. Khái niệm

“ Thanh điệu cơ bản là thanh âm co bản của một tác phẩm văn học

nghệ thuật. Nó tựa hồ như một cái nền trên đó người đọc dựng lên những bức

tranh, những sự kiện, những nhân vật tham gia vào những sự kiện đó”.

2.1.2. Thanh điệu cơ bản trong tác phẩm văn học

Chúng ta đã biết nhiều tác phẩm văn học khác nhau: truyện cƣời, thơ

trữ tình, truyện ngụ ngôn,...Phụ thuộc vào những thể loại ấy mà thanh điệu cơ

bản khi trình bày phải trầm tĩnh, hồnh tráng, buồn rầu hoặc mỉa mai.

Thanh điệu cơ bản do nội dung và hình thức của tác phẩm qui định.Tùy

theo tính chất của bài đọc văn học(chủ đề, nội dung tƣ tƣởng), tùy theo phong

cách ngôn ngữ của tác phẩm mà định ra cái thanh âm cơ bản lúc trình bày.

Thanh âm êm nhẹ đƣợc sử dụng để đọc phần lớn những truyện ngắn

viết cho thiếu nhi. Thanh điệu vui tƣơi cần đƣợc dùng đến khi trình bày một

bài văn, trong đó cã khung cảnh nhộn nhịp của thiên nhiên mùa xuân

chắc chắn sẽ gây cho chúng ta tình cảm vui sƣớng, hạnh phúc vì mùa xuân

đang tới. Thanh âm buồn là đặc trƣng của một số tác phẩm thơ trữ tình.

Nhiệm vụ của ngƣời đọc khi chuẩn bị bài đọc là phải phân tích bài cho

kỹ, hiểu nội dung, chú ý đến hình thức nghệ thuật và định ra thật đúng thanh

điệu cơ bản của tác phẩm đó cho phù hợp.

2.1.3. Thủ thuật sử dụng thanh điệu trước khi kể chuyện

Phƣơng tiện chủ yếu trong việc đem các tác phẩm văn chƣơng đến với

trẻ là giọng đọc, giọng kể của giáo viên. Nắm chắc đƣợc nghệ thuật đọc và kể

chuyện giúp giáo viên sử dụng đƣợc giọng nói của mình để truyền đạt lại xúc

cảm đến trẻ một cách hiệu quả nhất.



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Cu trỳc ca khúa lun

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×