Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
III. THỰC TIỄN ÁP DỤNG NGUYÊN TẮC THỐNG NHẤT GIỮA LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN Ở VIỆT NAM HIỆN NAY

III. THỰC TIỄN ÁP DỤNG NGUYÊN TẮC THỐNG NHẤT GIỮA LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN Ở VIỆT NAM HIỆN NAY

Tải bản đầy đủ - 0trang

Trong khi đề cao vai trò của thực tiễn, Đảng ta không hề hạ thấp, không hề

coi nhẹ lý luận. Quá trình đổi mới là quá trình Đảng ta không ngừng nâng cao

trình độ lý luận của mình, cố gắng phát triển lý luận, đổi mới tư duy lý luận về

chủ nghĩa xã hội và áp dụng vào thực tiễn con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở

nước ta về những nội dung sau:

1. Lĩnh vực chính trị

Đảng lãnh đạo tuyệt đối, toàn diện và trực tiếp nhưng Đảng không làm

thay Nhà nước, không được sử dụng quyền lực Nhà nước; Đảng lãnh đạo Nhà

nước ban hành luật pháp nhưng Đảng phải hoạt động trong khuôn khổ Hiến

pháp và pháp luật; Đảng giữ vai trò lãnh đạo chính trị khơng có nghĩa là chỉ đạo

chung chung, chỉ dừng ở việc đề ra cương lĩnh, đường lối chung, không thể

không quyết định những chủ trương, chính sách lớn liên quan đến sự phát triển

kinh tế - xã hội và ổn định chính trị đến quốc phòng, an ninh và quan hệ đối

ngoại của quốc gia, đến công tác cán bộ của cả hệ thống chính trị, đến đời sống

chung của các tầng lớp nhân dân. Có thể thấy, lý luận của Đảng đã được vận

dụng vào thực tiễn và không ngừng được bổ sung và phát triển trong thực tiễn.

Tiến hành đổi mới hệ thống chính trị, từ chế độ tập trung quan liêu với

phương thức quản lý hành chính mệnh lệnh sang dân chủ hoá các lĩnh vực của

đời sống xã hội, thực hiện dân chủ toàn diện. Trong hệ thống chính trị - xã hội

ngày nay, điểm mới đáng chú ý so với cấu trúc của hệ thống chính trị như trước

đây là sự hiện diện của các tổ chức xã hội rộng lớn của nhân dân, đặc biệt là các

hội đoàn trong lĩnh vực kinh tế - xã hội, các tổ chức hiệp hội nghề nghiệp, kinh

doanh, dịch vụ xã hội… Đảng không quản lý trực tiếp các tổ chức này nhưng có

liên hệ mật thiết với các tổ chức đó. Đường lối, chính sách của Đảng có được

xây dựng và thực thi tốt hay khơng, nhất là các vấn đề có liên quan trực tiếp đến

quyền và lợi ích của các thành viên tổ chức hiệp hợi, khơng thể khơng tính đến

vai trò và sự tác động của các tổ chức xã hội.

Tất cả các tổ chức Đảng, đoàn thể ở cơ sở phải thật sự gần dân, tin dân,

trọng dân, nghe dân; các tổ chức trong hệ thống chính trị ở cơ sở phối hợp hoạt

động chặt che, đồng bộ, phát động được các phong trào cách mạng tích cực đổi

mới, như vậy thì se khơi dậy mạnh me tiềm năng con người, đất đai, ngành

nghề, ý chí chính trị và truyền thống văn hóa và hiện đại hóa đất nước. Việc tiếp

xúc mật thiết với dân cho thấy Đảng ta coi trọng thực tiễn đời sống của nhân

dân, lấy đó làm cơ sở, là mục đích, chân lý cho những chủ trương, quyết sách.

8



Thực hiện đổi mới hệ thống chính trị là thiết thực thực hiện nguyên lý của

chủ nghĩa Mác – Lê nin, đó là cách mạng là sự nghiệp của quần chúng là đem

lời dạy của Hồ Chí Minh: đem chính trị vào giữa dân, cơ sở là nơi Đảng và

chính quyền sống trong lòng dân, là cầu nối giữa Đảng, chính phủ với dân.

2. Lĩnh vực kinh tế

Từ đại hội VI, Đảng ta đã tập trung xây dựng nền kinh tế thị trường định

hướng xã hội chủ nghĩa, dứt khoát từ bỏ mơ hình kinh tế phi hàng hóa, phi thị

trường, mô hình kinh tế tập trung quan liêu, bao cấp. Kinh tế thị trường là một

kiểu tổ chức kinh tế - xã hợi, trong đó quá trình sản xuất, phân phối, trao đổi và

tiêu dùng đều được thực hiện thông qua thị trường. Vì vậy, kinh tế thị trường

không chỉ là “công nghệ”, là “phương tiện” để phát triển kinh tế - xã hợi, mà còn

là những quan hệ kinh tế - xã hợi, nó khơng chỉ gồm lực lượng sản xuất mà còn cả

mợt hệ thống sản xuất. Đây chính là bước chuyển căn bản mà có ý nghĩa sâu xa

vì đã tôn trọng quy luật khách quan về sự phù hợp giữa quan hệ sản xuất và lực

lượng sản xuất; tuỳ thuộc vào trình độ phát triển của lực lượng sản xuất mà từng

bước thiết lập quan hệ sản xuất cho phù hợp. Như vậy, rõ ràng là khơng thể có

mợt nền kinh tế thị trường chung chung, trừu tượng tách rời khỏi hình thái kinh tế

- xã hội, tách rời khỏi chế độ chính trị - xã hội của một nước.

Kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa là nền kinh tế vừa tuân theo

quy luật của kinh tế thị trường, vừa chịu sự chi phối của các nhân tố định hướng

xã hội chủ nghĩa. Theo tinh thần của các đại hội Đảng Cộng sản Việt Nam từ lần

thứ VI đến lần thứ XII định hướng xã hội chủ nghĩa nền kinh tế thị trường thể

hiện ở các nội dung: Thực hiện dân giàu, nước mạnh, xã hợi cơng bằng, dân chủ,

văn minh, giải phóng mạnh me và không ngừng phát triển sức sản xuất, nâng

cao đời sống nhân dân, đẩy mạnh xóa đói giảm nghèo phát triển kinh tế nhiều

hình thức sở hữu, nhiều thành phần kinh tế, trong đó kinh tế nhà nước giữ vai trò

chủ đạo; thực hiện tiến bợ và cơng bằng xã hội ngay trong từng bước và từng

chính sách phát triển, tăng trưởng kinh tế gắn liền với phát triển văn hóa, y tế,

giáo dục…. giải quyết tốt các vấn đề xã hội vì mục tiêu phát triển con người,

thực hiện chế độ phân phối chủ yếu theo kết quả lao động, hiệu quả kinh tế, phát

huy quyền làm chủ xã hợi của nhân dân, bảo đảm vai trò quản lý, điều tiết nền

kinh tế của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa dưới sự lãnh đạo sáng suốt

của Đảng cộng sản Việt Nam. Từ tư duy quản lý dựa trên mô hình một nền kinh

tế chỉ huy tập trung, kế hoạch hoá tuyệt đối với cơ chế bao cấp và bình quân

sang tư duy quản lý mới thích ứng với nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần,

9



vận hành theo cơ chế thị trường, có sự quản lý của Nhà nước theo định hướng

Xã Hội Chủ Nghĩa.

Một số thành thành tựu đổi mới trong nước với thực hiện chính sách mở

cửa, tích cực và chủ động hội nhập kinh tế quốc tế đã mở ra không gian phát

triển mới cho nền kinh tế Việt Nam và mang lại cho Việt Nam một vị thế quốc tế

mới, từ một quốc gia bị phong tỏa, cấm vận; từ một nền kinh tế kém phát triển

và “đóng cửa”, sau 20 năm đổi mới, Việt Nam đã vươn mạnh ra thế giới. Đến

nay Việt Nam đã có quan hệ ngoại giao với gần 170 nước và vùng lãnh thổ; mở

rộng quan hệ kinh tế thương mại với 221 quốc gia và vùng lãnh thổ. Ngoài ra,

Việt Nam còn là thành viên chính thức của nhiều tổ chức kinh tế quốc tế và khu

vực, điều đáng nói nhất là năm 2007, Việt Nam đã trở thành thành viên chính

thức thứ 10 của Tổ chức Thương mại thế giới (WTO).

3. Lĩnh vực văn hóa

Tiến hành cách mạng xã hợi chủ nghĩa trên lĩnh vực tư tưởng và văn hóa

làm cho thế giới quan Mác – Lê nin và tư tưởng, đạo đức Hồ Chí Minh giữ vị trí

chủ đạo trong đời sống tinh thần xã hợi.

Đảng ta khẳng định nền văn hóa nước ta là nền văn hóa Việt Nam tiên tiến,

đậm đà bản sắc dân tộc và từng bước làm rõ các nội hàm của các khái niệm “tiên

tiến”, “đậm đà bản sắc dân tộc”. “Tiên tiến” là yêu nước tiến bộ, mà nội dung

cốt lõi là lý tưởng độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội theo chủ nghĩa Mác – Lê

nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, nhằm mục tiêu tất cả vì con người, vì hạnh phúc và

sự phát triển phong phú, tự do, toàn diện của con người trong mối quan hệ hài

hòa giữa cá nhân và cợng đồng, giữa xã hợi và tự nhiên.

Nền văn hóa Việt Nam đang xây dựng là mợt nền văn hóa thống nhất mà đa

dạng của cộng đồng các dân tộc Việt Nam. Những giá trị và đặc sắc văn hóa của

54 dân tộc anh em được kế thừa và phát triển góp phần làm phong phú thêm nền

văn hóa Việt Nam thống nhất trong đa dạng. Giao lưu, hợp tác văn hóa với nước

ngoài được mở rợng. Mợt số nét mới trong chuẩn mực văn hóa của con người

Việt Nam từng bước được hình thành. Các tài năng văn hóa – nghệ thuật được

khuyến khích. Nhiều di sản văn hóa được giữ gìn, tơn tạo. Hệ thống sản phẩm

văn hóa góp phần trực tiếp vào sự phát triển, tăng trưởng của ngành du lịch, của

nền kinh tế quốc dân. Hoạt động giao lưu, hợp tác quốc tế về văn hóa thực sự

khởi sắc, góp phần làm cho vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế được nâng

cao, văn hóa được bạn bè thế giới hiểu biết hơn.

10



Kế thừa và phát huy những truyền thống văn hóa tốt đẹp của tất cả các dân

tộc trong nước, tiếp thu những tinh hoa văn hóa nhân loại, xây dựng mợt xã hợi

dân chủ, văn minh, vì lợi ích chân chính và phẩm giá con người, với trình độ trí

thức, đạo đức, thế lực và thẩm mỹ ngày càng cao, chống tư tưởng, văn hóa trái

với những truyền thống tốt đẹp của dân tợc và những giá trị cao quý của loài

người, trái với phương hướng đi lên chủ nghĩa xã hội.

4. Lĩnh vực xã hội

Trong quá trình tiến hành sự nghiệp đổi mới, bên cạnh việc tập trung vào

xây dựng nền văn hóa mới, Đảng ta rất coi trọng việc phát triển một xã hội công

bằng, dân chủ, văn minh. Đảng ta xác định rõ các nhiệm vụ và giải pháp có tính

chất toàn diện và tổng thể chiến lược phát triển xã hợi, từ cơng tác kế hoạch hóa

dân số, giải quyết việc làm cho người lao động, thực hiện công bằng xã hội…

đến thực hiện đúng chính sách giai cấp và chính sách dân tộc.

Quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo được đảm bảo đầy đủ. Hiện nay, hơn 20

triệu tín đồ thuộc các tôn giáo được tự do thực hiện các hoạt động tôn giáo.

Quyền của đồng bào các dân tộc thiểu số không những được pháp luật bảo vệ

mà còn được Nhà nước chăm sóc, giúp đỡ thơng qua các chương trình phát triển

kinh tế - xã hội cho các vùng khó khăn, thơng qua các chính sách xã hợi, văn

hóa như hệ thống trường dân tợc nợi trú…

Thực tiễn đổi mới, nước ta đã đạt được những thành tựu to lớn: Đất nước ta

đã ra hỏi khủng hoảng kinh tế – xã hợi, có sự thay đổi toàn diện và cơ bản, đời

sống nhân dân được cải thiện rõ rệt, hệ thống chính trị và khối đại đoàn kết toàn

dân tộc được củng cố và tăng cường, giữ vững an ninh, đường lối đổi mới của

Đảng ta là đúng đắn, sáng tạo, phù hợp với thực tiễn Việt Nam.

Có thể nói rằng mỗi Đại hợi Đảng là mợt dịp để Đảng và Nhà nước ta tổng

kết thực tiễn, nâng tầm lý luận, làm căn cứ cho việc hoạch định đường lối, chính

sách phù hợp cho từng giai đoạn. Những thành tựu tổng kết thực tiễn, nghiên

cứu lý luận đã cung cấp nhiều luận cứ khoa học cho việc hoạch định đường lối,

chính sách của Đảng; góp phần vào những thành công rất to lớn của Đảng và

nhân dân ta trong công cuộc đổi mới, tạo thế và lực mới cho đất nước.

Lý luận đổi mới ở nước ta ngày càng có vai trò quan trọng trong việc tác

đợng trở lại thực tiễn. Lý luận của chủ nghĩa Mác – Lê nin và tư tưởng Hồ Chí

Minh trở thành cơ sở khoa học cho việc hoạch định đường lối chính sách của

Đảng, cho việc quản lý của Nhà nước. Tuy nhiên, thực tế công tác lý luận ở

11



nước ta hiện nay còn nhiều bất cập. Lý luận vẫn còn tình trạng tách rời thực tiễn,

chưa sâu sắc và nhạy cảm để phát triền những mâu thuẫn và tình huống có vấn

đề trong quá trình đổi mới. Chính vì vậy, chưa bao giờ lý luận lại cần thiết và có

tầm quan trọng như hiện nay.

Đảng ta cũng đưa ra những phương hướng, giải pháp để phát triển lý luận,

đó là: phát hiện, ủng hộ và nhân rộng những nhân tố mới, qua thực tiễn làm sáng

tỏ những vấn đề mới, bổ sung, hoàn thiện và phát triển đường lối”, “chú trọng

nâng cao tính khoa học, tính thực tiễn và sức mạnh dạn khám phá, sáng tạo

trong công tác nghiên cứu khoa học, nghiên cứu lý luận. Sớm xây dựng và ban

hành quy chế dân chủ trong nghiên cứu lý luận”.

Tóm lại, từ những phân tích trên cho thấy rõ phải coi trọng lý luận nhưng

khơng được cường điệu vai trò của lý luận coi thường thực tiễn trong nhận thức

khoa học và hoạt động cách mạng. Cội nguồn của những đột phá tạo ra những

bước tiến vượt bậc của xã hợi loài người có sự đóng góp của lý luận đích thực.

Tuy nhiên, lý luận phải gắn với thực tiễn, phải được kiểm tra, đúc kết, khái quát

từ thực tiễn thông qua việc tổng kết thực tiễn. Trong công cuộc xây dựng XHCN

ở nước ta khi đất nước nảy sinh những vấn đề cần được giải đáp về mặt lý luận.

Đảng ta đã đứng trên quan điểm, phương pháp luận của Chủ nghĩa Mác – Lê nin

và tư tưởng Hồ Chí Minh để xem xét. Hàng loạt các vấn đề từ kinh tế, chính trị,

văn hóa, xã hợi… khơng thể giải quyết bằng lý luận mà đòi hỏi Đảng ta phải

thực hiện thông qua thực tiễn, tổng kết thực tiễn, chỉ có như vậy cơng c̣c xây

dựng Chủ nghĩa xã hội của ta mới giảm bớt chông gai, gập ghềnh.

KẾT LUẬN

Trải qua nhiều thay đổi về đường lối quản lý, hiện nay nước ta đã tìm được

hướng đi đúng mặc dù vẫn còn khơng ít sai lầm cần sửa đổi. Đạt được những

thành tựu như vậy là do Đảng và Nhà nước ta đã đi từ thực tiễn hoàn cảnh đất

nước để đưa ra được những lý luận đúng đắn làm cơ sở cho việc ban hành các

chính sách kinh tế - xã hợi phù hợp. Qua đây ta có thể nhìn nhận được rõ hơn vai

trò quan trọng của nguyên tắc thống nhất giữa lý luận và thực tiễn, và từ đó có

thể vận dụng, liên hệ nguyên tắc này để góp phần phát triển kinh tế, xã hợi nước

ta hiện thời và trong tương lai.



12



DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

1. Giáo trình Triết học (dùng trong đào tạo trình độ thạc sĩ, tiến sĩ các ngành

khoa học xã hội và nhân văn không chuyên ngành Triết học), Bộ Giáo dục và

Đào tạo, Nhà xuất bản Đại học Sư phạm, năm 2016.

2. V.I.Lênin toàn tập, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, năm 2005.

3. Giáo trình tư tưởng Hồ Chí Minh, Bợ Giáo dục và Đào tạo, nhà xuất bản

Chính trị quốc gia, năm 2016.



13



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

III. THỰC TIỄN ÁP DỤNG NGUYÊN TẮC THỐNG NHẤT GIỮA LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN Ở VIỆT NAM HIỆN NAY

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×