Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
3 Tình hình thép Việt Nam

3 Tình hình thép Việt Nam

Tải bản đầy đủ - 0trang

lien doanh thép Việt Nhật (Vinakyoei), Việt Úc (Vinausteel), Việt Hàn (VPS) và Việt

Nam – Sigapore (Nasteel) với tổng công suất khoảng 840.000 tấn/năm.

Từ 2002-2008 nhiều doanh nghiệp tư nhân và doanh nghiệp lien doanh với

nước ngoài được thành lập, ngành thép Việt Nam thực sự phát triển mạnh mẽ với tổng

công suất lên đến trên 6 triệu tấn/năm. Hiện nay, hầu hết các nhà máy thép ở Việt

Nam chỉ sản xuất các loại thép dài, các sản phẩm thông thường như thép thanh tròn

trơn, thép vằn thép dây cuộn và một số loại thép hình cỡ nhỏ và vừa phục vụ cho xây

dựng và gia công. Các loại thép dài cỡ lớn (>) phcu5 vụ cho các cơng trình xây dựng

lớn hiện vẫn chưa tự sản xuất được mà phải nhập ở nước ngoài. Từ năm 2006 trở về

trước nước ta khơng có doanh nghiệp nào sản xuất thép dẹt.

Năm 2007 theo thống kê sơ bộ toàn thế giới tiêu thụ 1400 triệu tấn thép.

Trong đó Việt Nam tiêu thụ dưới 10 triệu tấn, bé hơn 1%, bình quân 100kg/người.

Bình quân khối ASEAN tiêu thụ khoảng 200kg/người. Ở các nước tiên tiến, sản lượng

tiêu thụ đạt 1000kg/người.



1.3.2 Tình hình phát triển

a) Chưa chủ động được nguồn phôi

Hiện nay ngành thép Việt Nam còn phụ thuộc nhiều vào thị trường thế giới.

Mặc dù phôi sản xuất trong nước chiếm 60% tổng lượng cho sản xuất thép (còn lại

40% phơi phải nhập khẩu) nhưng nguyên liệu cho sản xuất phôi là thép phế liệu vẫn

phải nhập tới 70%. Và tình hình phế liệu trên thế giới đang có xu hướng tăng. Vì vậy

Việt Nam cũng gặp khó khăn trong vấn đề cạnh tranh, nếu nâng giá thép lên cao thì tạo

điều kiện cho thép từ các nước nhập vào ồ ạt; ngược lại nếu hạ giá thành thì khơng đủ

cho chi phí. Trong khi đó, nước ta đang trong giai đoạn hội nhập với thế giới nên môi

trường trong nước cũng gặp nhiều vấn đề khó khăn. Vì vậy các doanh nghiệp trong

nước cần phải đầu tư các quy trình cơng nghệ mới, nâng cao năng suất, chất lượng sản

phẩm.



6



b) Thị trường cạnh tranh ngày càng gay gắt

Hiệp hội thép Việt Nam cho biết từ năm 2010 ngành thép Việt Nam sẽ đối

mặt với sự cạnh tranh gay gắt ngay trên sân nhà. Ngành thép Việt Nam sẽ khơng còn

được hưởng các ưu đãi cao về chính sách thuế do thực hiện đầ đủ các cam kết hội nhập

WTO từ năm 2010 trở đi.

Bên cạnh đó, nhiều dự án thép mới đi vào sản xuất năm 2010 sẽ tăng thêm sự

mất cân đối giữa nguồn cung và mức tiêu thụ của thị trường, dẫn đến sự cạnh tranh

quyết liệt trên thị trường tiêu thũ các sản phẩm thép xây dựng, thép cuộn cán nguội,

ống thép hàn, tôn mạ kim loại…

Đặc biệt, thép Việt Nam sẽ tiếp tục phải gánh chịu sự cạnh tranh khốc liệt về

giá bán do chi phí sản xuất phôi thép ở Việt Nam cao gấp 2 lần so với thế giới, trong

khi năm 2010 được dự báo là năm mà giá cả nguyên vật liệu đầu vào như quặng, than,

dầu, điện tiếp tục tăng.

Theo dự báo của Hiệp hội thép Việt Nam, sản xuất và tiêu thụ thép xây dựng

và các sản phẩm thép khác sẽ tăng.

Theo dự báo của Hiệp hội thép Việt Nam năm 2011 sản xuất và tiêu thụ thép

xây dựng và các sản phấm thép khác tăng 10-12% so với năm 2010. Tuy nhiên cung

ứng thép choa sản xuất thép trong nước chỉ đáp ứng khoảng 60%. Như vậy những

tháng cuối năm ngành thép vẫn có khả năng duy trì được tốc độ tăng trưởng. Giá thép

sẽ khơng còn những đợt tăng/giảm giá đột biến vì ngành thép thế giới đã rút kinh

nghiệm từ năm 2008 nẹn sẽ điều chỉnh sản lượng và giá phù hợp với tình hình cung

cầu thế giới. Tuy nhiên tiến độ các dự án thường không đúng và các doanh nghiệp

mới khi thâm nhập thị trường sẽ vẫn còn khó khăn do đặc trưng của ngành phụ thuộc

nhiều vào hệ thống phân phối.

Hơn nữa, Bộ Công Thương và Hiệp hội Thép cũng khuyến cáo, theo lộ trình

cam kết với WTO, thời gian tới, một số sản phẩm thép sẽ không được hưởng ưu đãi và

bảo hộ cao về thuế nhập khẩu, tính cạnh tranh với sản phẩm thép nhập khẩu sẽ ngày

càng trở nên khốc liệt hơn.



7



Vì vậy, để nâng cao năng lực cạnh tranh với thép ngoại ngay trên “sân nhà”,

các doanh nghiệp sản xuất thép không còn “con đường” nào khác là đầu tư đổi mới

cơng nghệ ít tiêu hao năng lượng, cơng suất lớn, ổn định sản xuất, củng cố hệ thống

phân phối, mở rộng thị trường tiêu thụ, điều chỉnh giá bán linh hoạt hơn.



1.4 Khái niệm và đặc điểm cán thép tấm

Thép tấm được chia làm hai loại là thép tấm cán nóng và thép tấm cán nguội.

Thép tấm cán nóng thường là loại dày, dày vừa; còn thép tấm cán mỏng và cực mỏng

thì được cán nguội.

Khác với thép hình, thép tấm được cán trên các trục không khoét rãnh, mức

độ biến dạng đồng đều trên toàn bộ chiều rộng tiếp xúc, diện tích tiếp xúc rất lớn nên

lực cán rất lớn. Do đặc điểm lực cán lớn nên sự biến dạng đàn hồi của khung giá cán

và các chi tiết lắp trên giá cán và truyền động cũng rất lớn làm ảnh hưởng đến độ

chính xác của sản phẩm cán.

Thép tấm cán nóng thường có chiều dày từ 4 60mm. Thép có chiều dày dưới

1.4mm thường được cán nguội.



8



Bảng 1.2 Sự khác nhau giữa thép cán nóng và thép cán nguội



Độ dày thơng



Thép cuộn cán



Thép cuộn cán



nguội



nóng



0.15mm-2mm



0.4mm trở lên



Trắng sáng, có độ bóng



Xanh đen, tối đặc



cao.



trưng



Thường được xén biên



Hai biên cuộn



thẳng và sắc mép



thường bo tròn, xù



thường

Bề mặt



Mép biên



xì, biến màu rỉ sét

khi để lâu.

Bảo quản



Hàng cán nguội thường



Có thể để thép cuộn



có bao bì và để trong



cán nóng ngồi trời



nhà.Rất nhanh rỉ sét bề



một thời gian dài.Và



mặt không sử dụng được



khơng cần bao bì bảo

quản.



1.5 Tình hình sản xuất và tiêu thụ thép tấm

Trước đây, nước ta hiện vẫn chưa có nhà máy cán thép nóng, chủ yếu là nhập

phơi từ nước ngồi về và sau đó cán nguội.

Nhưng sau hơn 3 năm xây dựng và lắp đặt ngày 20/12/2007 Công ty cổ phần

thép Cửu Long Vinashin (đơn vị thành viên của Tập đồn cơng nghiệp tàu thủy Việt

9



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

3 Tình hình thép Việt Nam

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×