Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
b) Thị trường cạnh tranh ngày càng gay gắt

b) Thị trường cạnh tranh ngày càng gay gắt

Tải bản đầy đủ - 0trang

Vì vậy, để nâng cao năng lực cạnh tranh với thép ngoại ngay trên “sân nhà”,

các doanh nghiệp sản xuất thép khơng còn “con đường” nào khác là đầu tư đổi mới

cơng nghệ ít tiêu hao năng lượng, cơng suất lớn, ổn định sản xuất, củng cố hệ thống

phân phối, mở rộng thị trường tiêu thụ, điều chỉnh giá bán linh hoạt hơn.



1.4 Khái niệm và đặc điểm cán thép tấm

Thép tấm được chia làm hai loại là thép tấm cán nóng và thép tấm cán nguội.

Thép tấm cán nóng thường là loại dày, dày vừa; còn thép tấm cán mỏng và cực mỏng

thì được cán nguội.

Khác với thép hình, thép tấm được cán trên các trục không khoét rãnh, mức

độ biến dạng đồng đều trên toàn bộ chiều rộng tiếp xúc, diện tích tiếp xúc rất lớn nên

lực cán rất lớn. Do đặc điểm lực cán lớn nên sự biến dạng đàn hồi của khung giá cán

và các chi tiết lắp trên giá cán và truyền động cũng rất lớn làm ảnh hưởng đến độ

chính xác của sản phẩm cán.

Thép tấm cán nóng thường có chiều dày từ 4 60mm. Thép có chiều dày dưới

1.4mm thường được cán nguội.



8



Bảng 1.2 Sự khác nhau giữa thép cán nóng và thép cán nguội



Độ dày thơng



Thép cuộn cán



Thép cuộn cán



nguội



nóng



0.15mm-2mm



0.4mm trở lên



Trắng sáng, có độ bóng



Xanh đen, tối đặc



cao.



trưng



Thường được xén biên



Hai biên cuộn



thẳng và sắc mép



thường bo tròn, xù



thường

Bề mặt



Mép biên



xì, biến màu rỉ sét

khi để lâu.

Bảo quản



Hàng cán nguội thường



Có thể để thép cuộn



có bao bì và để trong



cán nóng ngồi trời



nhà.Rất nhanh rỉ sét bề



một thời gian dài.Và



mặt khơng sử dụng được



khơng cần bao bì bảo

quản.



1.5 Tình hình sản xuất và tiêu thụ thép tấm

Trước đây, nước ta hiện vẫn chưa có nhà máy cán thép nóng, chủ yếu là nhập

phơi từ nước ngồi về và sau đó cán nguội.

Nhưng sau hơn 3 năm xây dựng và lắp đặt ngày 20/12/2007 Công ty cổ phần

thép Cửu Long Vinashin (đơn vị thành viên của Tập đồn cơng nghiệp tàu thủy Việt

9



Nam Vinashin) đã vận hành chạy thử dây chuyền sản xuất cán nóng thép tấm đầu tiên

ở Việt Nam. Sự kiện này đã thu hút sự qua tâm của các cấp lãnh đạo ngành đóng tàu vì

nó mang một ý nghĩa rất quan trọng: mẻ thép tấm đầu tiên do người Việt Nam chế tạo

đã ra lò đánh dấu một bước chuyển biến rất tốt cho ngành cơng nghiệp đóng tàu thủy,

từ chỗ phải nhập 100% thép tấm nước ngoài thì bây giờ sẽ có điều kiện nội địa hóa

dần khâu vật liệu quan trọng này. Tuy nhiên sau đó công ty này đã bị phá sản.

Ngày 11/03/2010 tại Hà Nội, Tổng cơng ty thép Việt Nam (VNSTEEL) và

Tập đồn thiết kế, chế tạo công nghệ sản xuất thép trên thế giới – Danieli, Italia - đã

kí hợp đồng chuyển nhượng cổ phần của VNSTEEL tại công ty cổ phần thép miền

Nam về việc thực hiện dự án sau khi thỏa thuận sơ bộ về một lien doanh với 80% vốn

Việt Nam và 20% vốn Italia để xây dựng một nhà máy cán thép tấm nóng đầu tiên tại

Việt Nam được ký tại Rome ngày 10/12/2009 nhân chuyến viếng thăm chính thức

nước Cộng hòa Italia của đồn cấp cao chính phủ Việt Nam do Chù tịch nước Nguyễn

Minh Triết dẫn đầu.

Liên doanh mới này, ngay trong năm 2010 sẽ được xây dựng tại khu vực Phú

Mỹ I, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu một nhà máy thép tấm cán nóng công suất 2 triệu

tấn/năm với số vốn đầu tư 550 triệu USd bằng hình thức chìa khóa trao tay. Nhà máy

sẽ được đầu tư, trang bị những thiết bị, công nghệ hiện đại nhất đang có hiện nay trong

ngành cơng nghiệp sản xuất thép. Khi hoàn thành xây dựng và đi vào hoạt động, nhà

máy sẽ đáp ứng khoảng trên 20% nhu càu thép cán nóng cho thị trường Việt Nam.

Năng lực sản xuất bán thành phẩm của các công ty thép trong nước, đặc biệt

là phôi thép đã được cải thiện đáng kể trong 5 năm qua, từ 1,3 triệu tấn lên 3,7 triệu

tấn vào năm 2010. Do đó, tỷ suất lợi nhuận của những doanh nghiệp có thể sản xuất

phôi thép gia tăng đáng kể và giảm mức độ ảnh hưởng bất lợi từ những biến động của

thị trường nguyên liệu. Trong năm 2010, sản lượng phôi thép sản xuất trong nước đáp

ứng 70% khối lượng nguyên liệu đầu vào cho ngành thép.

Đặc biệt, ba doanh nghiệp thép hàng đầu là Tisco, Hòa Phát và Pomina đã

tăng cơng suất đáng kể. Công suất sản xuất phôi thép của Tisco và Công ty Thép miền

10



Nam đạt 350.000 tấn/năm/công ty trong năm 2010. Hòa Phát đang thực hiện giai đoạn

2 của dự án Nhà máy thép liên hợp nhằm nâng công suất sản xuất phôi thép từ 350.000

tấn lên 1 triệu tấn trong năm 2012. Pomina cũng tăng công suất sản xuất phôi thép từ

500.000 tấn lên 1,1 triệu tấn vào đầu năm 2012. Tổng công suất sản xuất phôi thép

trong nước sẽ tăng từ 5,7 triệu tấn năm 2010 lên 7,5 triệu tấn vào năm 2012, đảm bảo

nguồn cung phôi thép cho sản xuất trong nước trong năm 2012 và giúp các cơng ty

thép nội địa kiểm sốt tỷ suất lợi nhuận tốt hơn.

Nhu cầu thép tấm lá (sử dụng trong các ngành công nghiệp: thép ống, tôn

mạ, ô tô, xe máy, điện lạnh và đồ gia dụng…) tại Việt Nam tăng nhanh chóng trong vài

năm qua. Các số liệu thống kê cho thấy tiêu thụ đạt gần 5 triệu tấn/năm chiếm khoảng

40% tổng tiêu thụ thép các loại. Tuy nhiên sản xuất trong nước chỉ đáp ứng chưa đến

10% còn lại phải nhập khẩu.

Thị trường thép Việt Nam còn khá nhỏ. Năm 2007 cả nước tiêu thụ gần 8,7

triệu tấn thép các loại, trong đó thép xây dựng dạng thanh là 4,21 triệu tấn và phần còn

lại là thép tấm. Hiện tại, năng lực sản xuất thép thanh đã vượt 50% so với nhu cầu, còn

năng lực thép tấm trong nước mới vào khoảng 600.000 tấn.

Tuy mức tiêu thụ hiện còn ít, nhưng theo ơng Đỗ Duy Thái, Tổng giám đốc

Công ty Thép Việt, thị trường thép Việt Nam đã bước vào giai đoạn phát triển. Ơng

nói: “Các doanh nghiệp trong và ngồi nước đều nhìn thấy triển vọng này, từ đó bắt

đầu một cuộc chạy đua đầu tư”.

Viện Nghiên cứu chiến lược thuộc Bộ Công Thương dự báo, đến năm 2020

nhu cầu thép của Việt Nam vào khoảng 22 triệu tấn. Con số này tuy khá lớn, nhưng

vẫn chưa thấm vào đâu so với năng lực sản xuất vào thời điểm đó.

Nếu tất cả các dự án của doanh nghiệp trong và ngoài nước đã và chuẩn bị

được cấp giấy phép thực hiện đúng tiến độ đầu tư đã cam kết, thì đến năm 2020 ngành

thép Việt Nam sẽ có sản lượng khơng dưới 40 triệu tấn.



11



Tiềm năng của thị trường trong nước rõ ràng là còn khá lớn, nhưng đó khơng

phải là lý do duy nhất để Việt Nam thu hút được dự án thép lớn của nước ngồi. Vị trí

địa lý gần như là trung tâm của khu vực Đông và Nam châu Á, bờ biển dài và có nhiều

khu vực thuận lợi cho việc xây dựng cảng biển nước sâu để tiếp nhận tàu trọng tải lớn,

lại có nguồn than anthraxit khá lớn, Việt Nam là địa điểm tốt để xây dựng các cơ sở

sản xuất thép lớn cung cấp cho cả khu vực.

Theo quan điểm của Bộ Cơng Thương, việc nước ngồi đầu tư lớn vào ngành

thép có nhiều ưu điểm, như: hầu hết là dự án 100% vốn nước ngoài; thu hút nhiều lao

động và sẽ đóng góp nhiều cho ngân sách qua thuế; phần lớn các dự án đầu tư ở miền

Trung, là khu vực còn nhiều khó khăn…

Nhưng nhiều doanh nghiệp thép trong nước lại cho rằng, chính các dự án

chủ yếu do nước ngoài đầu tư 100% vốn lại là điều khơng có lợi, vì ngồi khoản thuế

mà thu được nhiều hay ít vẫn còn là ẩn số, Việt Nam sẽ chẳng còn gặt hái được gì đáng

kể. Một số nhà doanh nghiệp đề nghị, Việt Nam nên làm theo cách của Trung Quốc là

giới hạn tỷ lệ góp vốn của nước ngoài trong các dự án thép, nhằm tạo cơ hội cho các

nhà đầu tư trong nước.

Dù sao, sự xuất hiện của các dự án luyện cán thép lớn cũng là mối đe dọa đối

với các doanh nghiệp sản xuất trong nước, nhất là những cơ sở nhỏ. Tuy nhiên, điều

quan trọng hơn là sự xuất hiện của các tổ hợp sản xuất thép này đặt ra nhiều vấn đề

đáng lo, nhất là về môi trường.

Với quy mô sản xuất hàng chục triệu tấn thành phẩm, mỗi năm các tổ hợp

này cũng sẽ thải ra hàng chục triệu tấn xỉ than và xỉ quặng cùng với một lượng lớn

khói bụi vào khơng khí. Xử lý những chất thải này như thế nào là việc khơng thể

khơng tính đến ngay từ bây giờ. Lẽ đương nhiên, khi nộp hồ sơ xin cấp phép, nhà đầu

tư nào cũng đưa ra phương án giải quyết, nhưng điều đó khơng có nghĩa ta có thể yên

tâm. Bài học của Hyundai - Vinashin và Vedan là ví dụ.



12



Các tổ hợp luyện cán thép này sẽ tiêu thụ nguồn năng lượng điện, than khổng

lồ. Mặc dù một số dự án có kế hoạch đầu tư xây dựng nhà máy điện riêng để tự đáp

ứng nhu cầu năng lượng, nhưng nó cũng khiến cho mức độ phụ thuộc vào nguồn năng

lượng nhập khẩu của Việt Nam ngày càng lớn. Mỗi dự án đều chiếm diện tích đất và

mặt nước rất lớn, chẳng hạn khu liên hợp luyện cán thép của Formosa ở Hà Tĩnh sử

dụng trên 3.000 héc ta đất và mặt nước.

Do đó song song với việc phát triển ngành sản xuất thép ta cũng cần chú ý

đến việc tiết kiệm nhiên liệu, bảo vệ mơi trường bằng cách là có thể thay thế các dây

chuyền công nghệ lạc hậu tiêu hao nhiều năng lượng bằng những dây chuyền hiện đại

tiết kiệm tài nguyên quốc gia. Đây là mục tiêu mà các nhà máy thép đang hướng đến.



CHƯƠNG II: CƠ SỞ LÝ THUYẾT CÁN



2.1 Nguyên lý cán

Cán là phương pháp gia công làm biến dạng kim loại giữa khe hở của hai hay

nhiều trục làm việc quay tròn quanh đường tâm của chúng.



2.2 Vùng biến dạng và các thơng số của nó

2.2.1 Vùng biến dạng

Khoảng không gian giới hạn bởi mặt tiếp xúc giữa trục cán trên, trục cán

dưới với phôi cán và mặt tiết diện đầu phôi mới chạm vào trục cán và mặt cắt theo

đường nối hai tâm trục cán vng góc với đường cán gọi là vùng biến dạng.



13



Hình 2.1: Sơ đồ tính tốn các thơng số cán

Với V1, V2: lần lượt là tốc độ quay của trục cán trên và trục cán dưới

R1, R2: lần lượt là bán kính của trục cán trên và trục cán dưới

H, h: lần lượt là chiều dày của phơi vào và phơi ra

: góc ăn phôi

Theo nhiều thực nghiệm đều cho kết quả là vùng biến dạng thực tế luôn luôn

lớn hơn vùng biến dạng lý thuyết trên bản vẽ bởi vì có sự ảnh hưởng của vùng biến

dạng đến vùng lân cận.



2.2.2 Các thông số vùng biến dạng

: lượng ép tuyệt đối



δ



δh =



h gọi là hệ số lượng ép tỷ đối



η



gọi là hệ số biến dạng theo chiều cao



η



=



∆h

h0



h1

h0



(%)



(<1).



∆b = b1 − b0



∆b lượng dãn rộng tuyệt đối



14



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

b) Thị trường cạnh tranh ngày càng gay gắt

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×