Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
CHƯƠNG I: TỒNG QUAN VỀ NGÀNH THÉP

CHƯƠNG I: TỒNG QUAN VỀ NGÀNH THÉP

Tải bản đầy đủ - 0trang

khác như đóng tàu, giao thơng vận tải, xây dựng nhà máy và sản xuất máy móc thiết bị

phục vụ cho hoạt động sản xuất tạo ra sản phẩm đáp ứng nhu cầu của con người.

Hiện nay, với sự phát triển của khoa học kỹ thuật nhiều vật liệu mới đã ra đời

như vật liệu Compozit, Polymer, Ceramic… nhằm thay thế cho thép nhưng vẫn chưa

đáp ứng được nhu cầu của thị trường đề ra.

Nhận biết được tầm quan trọng của ngành thép hầu hết các quốc gia đã dành

nhiều chính sách ưu đãi để phát triển ngành thép. Các nước có tiềm lực kinh tế mạnh

như: Nhật Bản, Nga, Mỹ Trung Quốc, Thụy Điển…là những nước có nền cơng nghiệp

sản xuất thép mạnh mẽ nhất.



1.2 Tình hình thép thế giới

Brussels- thế giới sản xuất thép thô- đạt khoảng 1,414 triệu tấn cho năm 2010

tăng 15% so với năm 2009 và là một kỷ lục mới cho sản xuất thép thơ tồn cầu.

Tất cả các nước sản xuất thép lớn và khu vực cho thấy tăng hai con số trong

năm 2010. EU và Bắc Mỹ có tỉ lệ tăng trưởng cao hơn trong đó châu Á có tỉ lệ tăng

trưởng thấp hơn.

Trong tháng 12/2010, theo tình hình báo cáo sản xuất thép thô của 66 nước

vả Hiệp hội thép thế giới là 116,2 triệu tấn tăng 7,6% so với cùng kì năm ngối. Các tỉ

lệ sử dụng thép thơ của 66 nước trong tháng 12/2009 giảm nhẹ xuống 73,8% so với

75,2% trong tháng 11/2011. Tuy nhiên so với 12/2010 thì tháng 12/2011 có tỉ lệ sử

dụng cao hơn 1,1%.



3



Hình 1.1 Sản lượng thép thơ hàng năm



Hình 1.2 Tỷ lệ sản xuất thép thô của 10 nước đứng đầu thế giới

Trong tháng 1/2011 sản lượng thép thô của thế giới tiếp tục tăng. Theo thống

kê từ hiệp hội thép thế giới (WSA) sản lượng thép thô của 64 nước là119 triệu tấn,

tang 5,3% so với cùng kỳ năm ngối. Trong đó sản lượng thép thô của Trung Quốc đạt

52,8 triệu tấn với mức tăng trưởng 0,5%.



4



Bảng 1.1 Sản lượng thép thô của thế giới trong tháng 1/2011 ( triệu tấn)

Khu vực

Thế giới

Trung Quốc

Nhật bản

Hàn Quốc

Đức

Italia

Mỹ

Brazil



Sản lượng

119

52,8

9,7

5,6

3,7

2,1

6,8

2,8



Tăng trưởng (%)

5,3

0,5

10,7

24,2

4,4

10.3

9,4

3,8



1.3

Tình

hình

thép



Việt Nam

1.3.1 Sơ lược quá trình phát triển

Việt Nam đã coi ngành sản xuất thép là ngành công nghiệp trụ cột của nền

kinh tế, đáp ứng tối đa nhu cầu về các sản phẩm thép của các ngành công nghiệp khác

và tăng cường xuất khẩu. Bên cạnh đó, Chính phủ dành nhiều chính sách khuyến khích

các thành phần kinh tế khác đầu tư vào ngành thép nhằm tận dụng tối đa nguồn vốn và

nhân lực còn rỗi của các ngành thúc đẩy phát triển kinh tế đảm bảo công ăn việc làm

cho người lao động.

Ngành thép Việt Nam còn rất non trẻ, được xây dựng từ những năm 60 của

thế kỉ XX với sự ra đời của mẻ gang đầu tiên năm 1963, nhưng phải đến năm 1968

mới có mẻ thép đầu tiên ra đời tại công ty gang thép Thái Nguyên. Trong giai đoạn từ

1975 đến 1990, ngành thép Việt Nam phát triển rất chậm, phần lớn sử dụng nguồn thép

của các nước Đông Âu và Liên Xô cũ, sản lượng trong giai đoạn này duy trì ở mức

40.000-80.000 tấn/năm.

Từ năm 1990 đến nay, ngành thép Việt Nam có nhiều thay đổi và tăng trưởng

mạnh. Sự ra đời của tổng công ty thép Việt Nam (VSA) năm 1990 đã góp phần quan

trọng vào sự bình ổn và phát triển của ngành. Năm 1996 là năm đánh dấu sự chuyển

mình của ngành thép với sự ra đời của bốn công ty lien doanh sản xuất thép là: công ty



5



lien doanh thép Việt Nhật (Vinakyoei), Việt Úc (Vinausteel), Việt Hàn (VPS) và Việt

Nam – Sigapore (Nasteel) với tổng công suất khoảng 840.000 tấn/năm.

Từ 2002-2008 nhiều doanh nghiệp tư nhân và doanh nghiệp lien doanh với

nước ngoài được thành lập, ngành thép Việt Nam thực sự phát triển mạnh mẽ với tổng

công suất lên đến trên 6 triệu tấn/năm. Hiện nay, hầu hết các nhà máy thép ở Việt

Nam chỉ sản xuất các loại thép dài, các sản phẩm thơng thường như thép thanh tròn

trơn, thép vằn thép dây cuộn và một số loại thép hình cỡ nhỏ và vừa phục vụ cho xây

dựng và gia công. Các loại thép dài cỡ lớn (>) phcu5 vụ cho các cơng trình xây dựng

lớn hiện vẫn chưa tự sản xuất được mà phải nhập ở nước ngoài. Từ năm 2006 trở về

trước nước ta khơng có doanh nghiệp nào sản xuất thép dẹt.

Năm 2007 theo thống kê sơ bộ toàn thế giới tiêu thụ 1400 triệu tấn thép.

Trong đó Việt Nam tiêu thụ dưới 10 triệu tấn, bé hơn 1%, bình quân 100kg/người.

Bình quân khối ASEAN tiêu thụ khoảng 200kg/người. Ở các nước tiên tiến, sản lượng

tiêu thụ đạt 1000kg/người.



1.3.2 Tình hình phát triển

a) Chưa chủ động được nguồn phơi

Hiện nay ngành thép Việt Nam còn phụ thuộc nhiều vào thị trường thế giới.

Mặc dù phôi sản xuất trong nước chiếm 60% tổng lượng cho sản xuất thép (còn lại

40% phơi phải nhập khẩu) nhưng ngun liệu cho sản xuất phôi là thép phế liệu vẫn

phải nhập tới 70%. Và tình hình phế liệu trên thế giới đang có xu hướng tăng. Vì vậy

Việt Nam cũng gặp khó khăn trong vấn đề cạnh tranh, nếu nâng giá thép lên cao thì tạo

điều kiện cho thép từ các nước nhập vào ồ ạt; ngược lại nếu hạ giá thành thì khơng đủ

cho chi phí. Trong khi đó, nước ta đang trong giai đoạn hội nhập với thế giới nên mơi

trường trong nước cũng gặp nhiều vấn đề khó khăn. Vì vậy các doanh nghiệp trong

nước cần phải đầu tư các quy trình cơng nghệ mới, nâng cao năng suất, chất lượng sản

phẩm.



6



b) Thị trường cạnh tranh ngày càng gay gắt

Hiệp hội thép Việt Nam cho biết từ năm 2010 ngành thép Việt Nam sẽ đối

mặt với sự cạnh tranh gay gắt ngay trên sân nhà. Ngành thép Việt Nam sẽ khơng còn

được hưởng các ưu đãi cao về chính sách thuế do thực hiện đầ đủ các cam kết hội nhập

WTO từ năm 2010 trở đi.

Bên cạnh đó, nhiều dự án thép mới đi vào sản xuất năm 2010 sẽ tăng thêm sự

mất cân đối giữa nguồn cung và mức tiêu thụ của thị trường, dẫn đến sự cạnh tranh

quyết liệt trên thị trường tiêu thũ các sản phẩm thép xây dựng, thép cuộn cán nguội,

ống thép hàn, tôn mạ kim loại…

Đặc biệt, thép Việt Nam sẽ tiếp tục phải gánh chịu sự cạnh tranh khốc liệt về

giá bán do chi phí sản xuất phơi thép ở Việt Nam cao gấp 2 lần so với thế giới, trong

khi năm 2010 được dự báo là năm mà giá cả nguyên vật liệu đầu vào như quặng, than,

dầu, điện tiếp tục tăng.

Theo dự báo của Hiệp hội thép Việt Nam, sản xuất và tiêu thụ thép xây dựng

và các sản phẩm thép khác sẽ tăng.

Theo dự báo của Hiệp hội thép Việt Nam năm 2011 sản xuất và tiêu thụ thép

xây dựng và các sản phấm thép khác tăng 10-12% so với năm 2010. Tuy nhiên cung

ứng thép choa sản xuất thép trong nước chỉ đáp ứng khoảng 60%. Như vậy những

tháng cuối năm ngành thép vẫn có khả năng duy trì được tốc độ tăng trưởng. Giá thép

sẽ khơng còn những đợt tăng/giảm giá đột biến vì ngành thép thế giới đã rút kinh

nghiệm từ năm 2008 nẹn sẽ điều chỉnh sản lượng và giá phù hợp với tình hình cung

cầu thế giới. Tuy nhiên tiến độ các dự án thường không đúng và các doanh nghiệp

mới khi thâm nhập thị trường sẽ vẫn còn khó khăn do đặc trưng của ngành phụ thuộc

nhiều vào hệ thống phân phối.

Hơn nữa, Bộ Công Thương và Hiệp hội Thép cũng khuyến cáo, theo lộ trình

cam kết với WTO, thời gian tới, một số sản phẩm thép sẽ không được hưởng ưu đãi và

bảo hộ cao về thuế nhập khẩu, tính cạnh tranh với sản phẩm thép nhập khẩu sẽ ngày

càng trở nên khốc liệt hơn.



7



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

CHƯƠNG I: TỒNG QUAN VỀ NGÀNH THÉP

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×