Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
CHƯƠNG II : GIÁ TRỊ NGHỆ THUẬT TẠO HÌNH CỦA CHẠM KHẮC ĐÌNH LÀNG VIỆT NAM THẾ KỶ XVI- XVII

CHƯƠNG II : GIÁ TRỊ NGHỆ THUẬT TẠO HÌNH CỦA CHẠM KHẮC ĐÌNH LÀNG VIỆT NAM THẾ KỶ XVI- XVII

Tải bản đầy đủ - 0trang

Giá trị nghệ thuật đình làng Việt Nam thời Lê Trung Hưng

2.2. Giá trị tạo hình của điêu khắc đình làng Việt Nam.

2.2.1. Phong cách bớ cục :

Nói đến thủ pháp của nghệ thuật chạm khắc đình làng là nói đến sự sáng tạo của

người nghệ sĩ dân gian Việt Nam, khơng gian và thời gian trong đó khơng cứng nhắc

cơ định ở một góc độ thời gian, khơng gian. Tất cả hết sức linh hoạt, sinh động của

không gian đồng hiện, của cách kết hợp nhiều điểm nhìn. Cách bơ cục các mảng chạm

khắc ln tùy hứng, gắn bó theo khuôn kiến trúc. Ở tác phẩm “Tắm sen” khi xem

chúng không chỉ nhìn thấy những gì nổi trên mặt nước mà thấy cả người cả hoa sen, cả

cá bơi trong nước hết sức vui vẻ, hồn hậu.

Hay cảnh sinh hoạt xã hội trong điêu khắc đình làng Thổ Tang (Vĩnh Phúc), bên

người uông rượu là người đi cày, người cưỡi ngựa, nó gợi lên cái nhịp điệu của đời

sơng đương thời. Rồi một bàn cờ của người nghệ sĩ dân gian trong Đánh cờ được nhìn

theo nhiều chiều hướng khác nhau: bàn cờ được nhìn từ trên xuông, người đánh cờ

được nhìn vừa chính diện vừa trắc diện. Vậy mà tất cả khơng hề phi lý, nó tổ hợp lại

trong một trật tự, một bơ cục hồn chỉnh của tâm thức phương Đông.

2.2.2. Đường nét, hình khối trong chạm khắc đình làng :

Với bản chất chân thật, sơng hòa mình với thiên nhiên của những nghệ nhân

nông dân, luôn có cách nhìn dung dị, giản đơn, nên các tác phẩm chạm khắc cũng bộc

lộ rõ hơn những đức tính của người dân. Với những đường nét chạm khắc dứt khốt

mà chắc khỏe, đơn giản nhưng sơng động, hấp dẫn, những mảng khôi được diễn tả no

căng, hình thức giản dị, mang tính khái quát cao, tất cả đều được kết hợp trong khơng

gian ước lệ, trong sự hài hòa hoàn chỉnh tạo nên vẻ lung linh ẩn hiện trong mỗi tác

phẩm.

2.2.3. Kỹ thuật chạm khắc :

“Người thợ chạm ở làng xã, từ thuở nhỏ đã quen đục chạm gỗ, nhưng vẫn là

một nông dân vì anh ta tham gia mọi việc đồng áng. Nhát chạm dứt khoát, chắc tay,

nhưng nguồn cảm hứng lại rất chân thật, không phải là chân thật một cách sơ khai

không đạt tới nghệ thuật, mà là chân chất của nghệ sĩ lớn, tươi mát và sinh động, kết

quả một quá trình hấp thụ, cô kết cao độ giữa những tình cảm sâu xa với những hình

thức biểu hiện. Nghệ sĩ chạm gỗ như người ca sĩ hay nhà thơ ở làng xã khi hứng lên,

diễn tả bằng ngôn ngữ hàng ngày những điều rất bình thường, nhưng rất xúc động lòng

người. Những tác phẩm ấy phản ánh lên tất cả vẻ đẹp, chứa đựng mọi hương thơm của

SVTH: Nguyễn Thị Thu Na



11



GVHD:Th.S Trần Văn Tâm



Giá trị nghệ thuật đình làng Việt Nam thời Lê Trung Hưng

quê hương và Tổ quôc. Những nhà điêu khắc ấy không chạm trổ theo mẫu mà theo

cuộc sông. Những cảnh tượng diễn đi diễn lại xung quanh họ, ngày này qua ngày khác,

mùa này qua mùa khác, năm này qua năm khác, in vào tâm khảm nghệ sĩ những nét

khơng thể xố, vì thế cuộc sơng đi thẳng một cách hầu như tự nhiên vào tác phẩm nghệ

thuật, giải phóng nghệ sĩ khỏi những quan niệm phong kiến thơng trị”.

Bằng phương pháp tạo hình độc đáo, giông như người nghệ sĩ Tây Nguyên, nhà

điêu khắc của trang trí đình làng Bắc Bộ khơng bị bó buộc vào những cơ sở tạo hình

như người phương Tây. Không quan tâm đến khoa học giải phẫu, bằng cách xây dựng

hình thể "phi tỷ lệ", thậm chí còn được cường điệu hóa, có khi đầu rất to hoặc cánh tay

rất dài... nhưng tất cả lại hài hòa trong tính biểu cảm của hình ảnh, đó là trạng thái, là

cảm giác mà người nghệ sĩ dân gian muôn tác động đến người xem.

Những mảng khuất, những hình khôi cao thấp tạo nên những thần thái nghệ

thuật điêu khắc chứa đựng những tâm tư, tình cảm, khát vọng sông của con người, của

xã hội một thời, các bức phù điêu được chạm khắc một cách mạnh, đơn giản với quan

niệm không gian thoải mái khác hẳn so với điêu khắc nơi chùa chiền hay cung điện.

Điêu khắc đình làng là sự tập trung và phát huy tột bậc các kỹ thuật chạm khắc

gỗ Việt Nam, trong đó chạm lộng là cách chạm khắc biểu cảm nhất có hiệu quả khơng

gian và hiệu quả khơi cao nhất. Đó gần như những pho tượng tròn, lồi hẳn ra, chồng

chéo nhiều tầng lớp làm mất cảm giác về nền vơn có của phù điêu. Cả thân gỗ được

đục khoét tạo các khoảng trông được luồn lách trong khôi tượng. Điêu khắc và trang

trí chạm lộng thường để mộc và hiện diện cuôn hút mới lạ nhất của nghệ thuật đình

làng.

Chạm lộng có sự kế thừa và phát triển, là đỉnh cao của điêu khắc đình làng.

Nhờ những sáng tạo của các nghệ nhân cừ khôi, chạm lộng đã tiến một bước tiến tạo

nên sự độc đáo. Những biến hố giàu ngơn ngữ điêu khắc đã làm cho chạm lộng tăng

hiệu quả cảm thụ cởi mở, thơng thống, đa chiều, tạo tương phản không gian sáng tôi, vừa giữ được bơ cục thẩm mỹ, tính vững chắc về kết cấu, vừa tạo cảm giác nhẹ

nhàng.

Chạm lộng là hình thức nghệ thuật mang tính kế thừa nghệ thuật điêu khắc

truyền thông, sự phát triển ngày càng nhiều đình làng với quy mô ngày càng lớn đã

đánh thức tiềm năng sáng tạo của những nghệ nhân dân gian trong việc đào luyện thể



SVTH: Nguyễn Thị Thu Na



12



GVHD:Th.S Trần Văn Tâm



Giá trị nghệ thuật đình làng Việt Nam thời Lê Trung Hưng

hiện tác phẩm tạo nên những hiệu quả thẩm mỹ mới, cảm thụ cao hơn trong khơng

gian kiến trúc trang trí.

Bởi vậy, điêu khắc chạm lộng chính là sự sáng tạo trong quá trình lao động

nghệ thuật cùng với sự đòi hỏi ngày càng cao của xã hội đương thời.

Chạm lộng nở rộ và phát triển khi đề tài được khai mở rộng rãi, giàu chất nhân

văn, mang tính cộng đồng và dân chủ, ít màu sắc tơn giáo khơng chịu gò bó của qui

phạm lễ nghi. Các phù điêu được đẩy lên cao dành không gian cho sinh hoạt, ánh sáng

tự nhiên hắt mạnh từ nhiều phía. Từ những mảng chạm nông chuyển dần sang chạm

bong, kênh với kỹ thuật chạm sâu vào bên trong khôi gỗ, tạo thành nhiều lớp khơng

gian mà dường như khơng còn khái niệm về nền. Đó là bước tiến ngoạn mục của chạm

khắc truyền thông với những ưu thế: tạo chiều sâu không gian, hiệu quả tương phản

sáng tơi, có thể đục một, hai tầng tạo nên sự uyển chuyển sinh động, cảm giác nhẹ

nhàng thanh thốt mà khơng ảnh hưởng đến kết cấu công trình...

Thủ pháp không gian, thời gian đồng hiện trong chạm lộng nhằm thể hiện nhiều

hình ảnh, đề tài về cuộc sông thường ngày được coi là đặc trưng đậm nét của điêu khắc

đình làng. Cái đẹp của tự nhiên, sự mộc mạc mang tính cởi mở, chứa đựng vẻ đẹp

nhân hậu của tâm hồn khiến cho sự ''phi lý'' về tỉ lệ thông thường lại trở nên thuận lý

nhờ tính phóng khống, mạnh mẽ mang lại cảm thụ mới mẻ chiêm nghiệm sâu lắng. Ở

đình Tây Đằng (Hà Tây) để diễn tả đời sơng thường nhật, có cảnh chèo thuyền hái hoa,

chèo thuyền uông rượu, trai gái tình tự, làm xiếc, gánh con, nhổ cây đẽo gỗ, đâm thú...

Ở chùa Cói có cảnh dắt ngựa, cưỡi hổ báo... Tất cả đều biểu hiện giá trị điêu khắc đậm

nét với các khôi được diễn tả no căng, hình thức giản dị, khái quát cao. Ý nghĩa của đề

tài, động tác và nghệ thuật đã vượt qua những phi lý của hình thể mang tính cách điệu

nghệ thuật cao. Trong hoạt cảnh của đời sông xã hội đã mang hình thức tượng trưng

với tỉ lệ khơng theo ch̉n mực có sẵn, tuy vậy vẫn thể hiện được bô cục sông động.

Cách chạm tự nhiên thoải mái, rõ ràng đã tạo được một phong cách, không biểu lộ bài

bản định sẵn mà vẫn giàu hơi thở cuộc sông. Điêu khắc chạm lộng Việt Nam là sự phát

triển đỉnh cao của nghệ thuật điêu khắc dân gian.



SVTH: Nguyễn Thị Thu Na



13



GVHD:Th.S Trần Văn Tâm



Giá trị nghệ thuật đình làng Việt Nam thời Lê Trung Hưng

2.3. Kiến trúc và chạm khắc của một số đình làng tiêu biểu ở Việt Nam.

2.3.1. Đình Bảng

2.3.1.1.Kiến trúc đình Bảng :

Có thể khẳng định, đình Đình Bảng (Đình Bảng, Từ Sơn, Bắc Ninh) là ngơi

đình có kiểu kiến trúc đình nhà sàn độc đáo hiếm gặp ở khắp dải đất hình chữ S.



Đình được xây dựng cao hơn mặt đất chừng một mét với những cột trụ chông

bằng gỗ lim to, chắc và nhuộm màu trầm tích của thời gian gần 300 năm có lẻ. Những

chiếc cột trụ to, đường kính bằng tay hai người ơm mới hết khiến ai đến đây cũng phải

trầm trồ thán phục khi biết tất cả sô gỗ ấy được bà Nguyên, vợ quan Thạc Lượng cho

người vận chuyển từ Thanh Hóa ra.

Được xây dựng trên thế đất tụ thủy tang phong, tức là nằm trên lưng của một

con nhện khổng lồ, đình Đình Bảng được coi là kiến trúc tuyệt hảo trong sô những

kiến trúc cổ của Việt Nam. Nhiều dấu hỏi đươc đặt ra cho các thế hệ đời sau luận bàn

và khâm phục. Người ta không hiểu lý do vì sao, hàng trăm người thợ được huy động

chạm khắc và đục đẽo cột kèo nhưng khơng có một sai sót nào. Khi khớp các cột với

nhau, mọi thứ đều chặt chẽ một cách hồn hảo đến khơng ngờ. Mọi nét chạm trổ đều

được làm thủ công bằng tay, với con mắt nghệ thuật tài tình của những người con bình

thường trên quê hương Đình Bảng.



SVTH: Nguyễn Thị Thu Na



14



GVHD:Th.S Trần Văn Tâm



Giá trị nghệ thuật đình làng Việt Nam thời Lê Trung Hưng

2.3.1.2.Chạm khắc đình Bảng :

Mỗi bức chạm khắc ở đình là một tác phẩm không lặp lại tạo nên sự hấp dẫn kỳ

lạ. Người đến đình không chỉ có lòng tâm linh mà còn bị mê mẫn bởi những đường nét

kiến trúc và chạm khắc tinh xảo như thế. Bức bát mã quần phi được thể hiện hết sức

sơng động giúp người xem thấy được sự phóng khống và nét thanh bình của mảnh đất

này qua hình ảnh và tư thế của từng chú ngựa, không con nào giông con nào. Bức

lưỡng nghệ ( một con đực, một con cái) phục chầu mỗi con một vẻ rất sinh động. Bên

cạnh đó còn những bức chạm rồng tuyệt xảo như : Long vân đại hội, Ngũ Long tranh

châu, Lục Long ngự thiên.

2.3.2. Đình Tây Đằng

2.3.2.1. Kiến trúc đình Tây Đằng :



Tồn cảnh đình Tây Đằng



Đình Tây Đằng xưa kia chỉ là một đình làng ngự trên một khu đất khá rộng

thống đãng, nhưng nơi đây hãy còn hoang sơ lắm. Vẻ đẹp của đình Tây Đằng không

phải ở khung cảnh thiên nhiên mỹ lệ, cũng không phải ở quy mơ đồ sộ, khơng có tòa

ngang dãy dọc ngồi hai ngôi nhà tả mạc và hữu mạc được xây dựng sau này và tách

biệt ở hai bên sân. Đình chỉ có một nếp nhà hình chữ “nhất” như khơi hộp hình chữ

nhật, khơng có hậu cung, cũng khơng có tiền tế. Tuy nhiên, vẻ đẹp của ngôi đình tiềm

ẩn bên trong là những giá trị văn hóa nghệ thuật được chạm khắc một cách tài tình của

các nghệ nhân dân gian xưa. Cho đến nay, hiện vẫn chưa xác định một cách chính xác

đình được xây dựng vào năm nào vì khơng có giấy tờ ghi chép lại. Một sơ nhà nghiên

cứu đem đình Tây Đằng so sánh với đình Lỗ Hạnh thuộc huyện Hiệp Hòa, tỉnh Bắc

SVTH: Nguyễn Thị Thu Na



15



GVHD:Th.S Trần Văn Tâm



Giá trị nghệ thuật đình làng Việt Nam thời Lê Trung Hưng

Giang thấy có những nét tương đồng về phong cách kiến trúc, nghệ thuật chạm trổ, bài

trí, bơ cục hoa văn... Đình Lỗ Hạnh có giấy tờ ghi chép cụ thể là được xây dựng vào

năm 1576 nên nhiều người cho rằng đình Tây Đằng có thể cũng được xây dựng vào

thời kỳ ấy.

Tuy nhiên, hiện nay, tại ngơi đình này vẫn còn lưu giữ được một sơ hoa văn có

niên đại từ thế kỷ XI - XIII nên có giả thiết đình Tây Đằng có thể được xây dựng từ

trước thế kỷ XVI.

Đình Tây Đằng được cho là một ngôi đình cổ nhất Việt Nam với những nét độc

đáo riêng của nó. Vật liệu xây dựng đình lúc ban đầu hoàn toàn bằng gỗ mít, một loại

gỗ hàng trăm năm khơng bị tiêu tâm (rỗng lõi). Tuy nhiên về sau này, qua các lần tu

bổ, một sô cấu kiện được thay bằng gỗ lim Trường Sơn - loại gỗ xếp thứ hai trong

nhóm tứ thiết (đinh, lim, sến, táu), hứng nhiều nắng, gió biển tạo nên thớ xoắn rất chắc

chắn... Nhiều người cho rằng ngồi đình chùa, trong di sản văn hóa vật thể của người

Việt chưa phát hiện được công trình nào làm từ gỗ còn ngun vẹn mà có niên đại xa

xưa hơn.

Đình có đến 48 cột lớn nhỏ, cột cái lớn nhất có đường kính 80cm, kích thước

tương đương với hơn một vòng tay ơm của người cao trung bình từ 1,6m trở lên. Đình

không bưng ván xung quanh hay xây tường bao bằng gạch mà chỉ có các cây cột

chơng đỡ toàn bộ trọng lượng của cả khu thượng đình. Sức chịu đựng trọng lực của

những cây cột đình tương đương với móng một ngơi nhà bê tơng 7 tầng. Vì thế, một

khơng gian bên trong đình thực sự thống đãng, tràn ngập ánh sáng từ bơn phía rọi vào

làm nổi bật những hoa văn, nét chạm trổ tinh xảo của tiền nhân.

2.3.2.2. Chạm khắc đình Tây Đằng:



Gánh con – Đình Tây Đằng



SVTH: Nguyễn Thị Thu Na



16



GVHD:Th.S Trần Văn Tâm



Giá trị nghệ thuật đình làng Việt Nam thời Lê Trung Hưng

Một nét độc đáo khác của đình Tây Đằng được thể hiện qua các bức chạm khắc

mang đậm nét văn hóa dân gian trên từng cấu kiện kiến trúc. Các đề tài về thiên nhiên,

hoạt động của con người trong làng xã Việt Nam thời kỳ trung đại như bơi thuyền,

gánh con, đôn củi, múa hát... Những bức chạm khắc này không hề chịu ảnh hưởng của

lôi chạm khắc hoa văn nước ngoài mà ta vẫn bắt gặp ở một sô đình chùa khác. Điều

này thể hiện tư duy độc lập, tính tự cường của người Việt cổ về cuộc sông sinh hoạt

hàng ngày, lao động sản xuất của nhân dân ta trước đây.

Các bức chạm khắc từ hoạt động săn bắt, hái lượm, thuần hóa động vật hoang

dã qua hình tượng voi đi cày đến cảnh đấu tranh chông giặc giã, sau đó đất nước thanh

bình với cảnh người chồng ngồi chải tóc cho vợ dưới gơc cau, trai tráng luyện tập võ

nghệ, nhân dân nô nức trong lễ hội đua thuyền, cảnh cha mẹ, ông bà sum vầy, thầy đồ

dạy... đều có ở đình Tây Đằng. Sự tài tình của các bậc tiền nhân chính là ở chỗ toàn bộ

hơn 1.300 chi tiết chạm khắc gỗ trong đình không hề trùng lặp một chi tiết nào và

được bô trí rất hài hòa, khơng mang tính đơi xứng như các chi tiết kiến trúc ở những

ngôi đình khác... Với những giá trị kiến trúc chạm khắc đặc sắc, độc đáo, đình Tây

Đằng được ví như một bảo tàng nghệ thuật dân gian của thế kỷ XVI.

Bức chạm trên ván gió đình Tây Đằng là hình ảnh chú voi tung cả bơn chân,

vòi, đi và toét miệng cười, cảm giác chú bay như làn gió, quên mất trọng lượng bản

thân có lẽ là bức chạm độc đáo nhất duy chỉ có ở đình Tây Đằng. Có một bức chạm

tạm đặt tên là Chèo thuyền chc rượu có sóng chòng chành bên mạn thuyền, có cả

mây vấn vương quanh thuyền, tất cả như đang lướt theo nhịp đung đưa, như thực lại

như mơ. Cảnh ơng già ngồi chải tóc cho người vợ trẻ gợi cho ta tình cảm vợ chồng

thắm thiết biết nhường nào... Thơng qua các cảnh đó, người xem có thể thấy được ước

vọng người xưa tuy nghèo mà cao sang, quý phái biết nhường nào.

2.4. Hình ảnh đình làng ở Việt Nam.

Đình này nổi bật bởi nghệ thuật kiến trúc và điêu khắc rất tinh xảo của xứ Kinh

Bắc. Có điều khi xem đến vị thành hồng được thờ ở đây thì mới thực sự là điều bất

ngờ. Thành hoàng làng Thổ Hà tên là … Lão Tử, Thái Thượng Lão Quân.



SVTH: Nguyễn Thị Thu Na



17



GVHD:Th.S Trần Văn Tâm



Giá trị nghệ thuật đình làng Việt Nam thời Lê Trung Hưng



Đình Thổ Hà – xã Vân Hà – Việt Yên – Bắc Giang



Đình Phù Lưu (Bắc Ninh)



SVTH: Nguyễn Thị Thu Na



18



GVHD:Th.S Trần Văn Tâm



Giá trị nghệ thuật đình làng Việt Nam thời Lê Trung Hưng



Triển lãm "Không gian văn hóa đình làng Bắc Bộ, Việt Nam" sẽ cho cơng chúng

thấy rõ hơn những giá trị của văn hóa Việt (ảnh minh họa)



Đình Mông Phụ được xây dựng năm 1684 là một một công trình tiêu biểu

mang đậm nét văn hóa của nơng thơn Bắc Bộ.



SVTH: Nguyễn Thị Thu Na



19



GVHD:Th.S Trần Văn Tâm



Giá trị nghệ thuật đình làng Việt Nam thời Lê Trung Hưng



Đình Phù Lão tọa lạc tại xã Đào Mỹ, huyện Lạng Giang, Bắc Giang là ngôi

đình thời Lê, dựng năm 1688.



Phía trước, bên trái đình Phù Lão còn có một tấm bia tứ diện, cao hơn 1m ghi

cơng bà Đào Thị Hiền đã đóng góp tiền của xây dựng đình.



SVTH: Nguyễn Thị Thu Na



20



GVHD:Th.S Trần Văn Tâm



Giá trị nghệ thuật đình làng Việt Nam thời Lê Trung Hưng



Vào đình Phù Lão, ta có thể thấy trên các kẻ là những bức chạm nổi hình ảnh

mang đậm nghệ thuật tạo hình dân gian thể hiện sinh hoạt của các tầng lớp như

quan lại, sỹ, nông, công, thương và có nhiều linh thú như: Long Ly Quy Phượng

và các con giông như nghê, lân, ngựa, rắn, tắc kè, thạch sùng.



SVTH: Nguyễn Thị Thu Na



21



GVHD:Th.S Trần Văn Tâm



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

CHƯƠNG II : GIÁ TRỊ NGHỆ THUẬT TẠO HÌNH CỦA CHẠM KHẮC ĐÌNH LÀNG VIỆT NAM THẾ KỶ XVI- XVII

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×