Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
CHƯƠNG I: KHÁI QUÁT LỊCH SỬ HÌNH THÀNH VÀ ĐẶC ĐIỂM CỦA KIẾN TRÚC ĐÌNH LÀNG VIỆT NAM THẾ KỶ XVI- XVII

CHƯƠNG I: KHÁI QUÁT LỊCH SỬ HÌNH THÀNH VÀ ĐẶC ĐIỂM CỦA KIẾN TRÚC ĐÌNH LÀNG VIỆT NAM THẾ KỶ XVI- XVII

Tải bản đầy đủ - 0trang

Giá trị nghệ thuật đình làng Việt Nam thời Lê Trung Hưng

họp của các hương lão, chức sắc trong làng về việc công, hoặc phân sử kiện tụng, đồng

thời là nơi cúng lễ. Có thể nói nơi đã xảy ra hết thảy các hoạt động của cuộc sông, xã

hội người Việt”

Căn cứ tài liệu trên cho phép ta khẳng định đình làng đã có từ thời Lê Sơ. Đầu

thế kỷ XV. Những ngơi đình xưa nhất còn bảo tồn đến ngày nay đều có niên đại vào

thời nhà Mạc, các đình này có nhiều giá trị nhân văn về kiến trúc và điêu khắc đó là:

-



Đình Thụy Phiêu (Ba Vì, Hà Nội) dựng năm Đại Chính thứ 2 (1531).



-



Đình Lỗ Hạnh (Hiệp Hòa, Bắc Giang) được ghi vào niên hiệu Sùng Khang

(1566- 1577), nhiều người dự đoán vào năm 1576.



-



Đình Phù Lưu (Tiên Sơn, Bắc Ninh), được dựng vào cuôi thế kỷ XVI.



-



Đình Là (Thường Tín, Hà Tây) dựng năm Diên Thành thứ 4 (1581).



-



Đình Tây Đằng ( Ba Vì, Hà Nội) dựa vào phong cách kiến trúc và điêu khắc,

người ta dự đoán được dựng vào thế kỷ XVI.

Tới thế kỷ thứ XVIII việc xây dựng đình có nhiều giảm sút nhưng vẫn có



những ngơi đình được xây dựng với quy mô lớn như đình Hồi Quan, đình Đình Bảng.

1.1.2. Chức năng:

Là một thiết chế văn hố tín ngưỡng tổng hợp, theo các nhà nghiên cứu đình

làng có 3 chức năng: Tín ngưỡng – Hành chính – Văn hóa.

* Chức năng tín ngưỡng:

Trong các đình làng Việt Nam, vị thần được thờ phụng là Thành Hoàng làng, vị

vua tinh thần, vị thần hộ mệnh của làng.

Nguồn gôc của Thành Hoàng làng cũng rất phức tạp. Trước hết là những vị thần

tự nhiên, được thờ ở rất nhiều đình làng. Các vị thần này đều được “khoác áo” nhân

thần với các tiểu sử rất thế tục. Được thờ khá phổ biến là Sơn tinh và Thuỷ thần.

Thứ hai là các nhân thần. Các nhân vật lịch sử như Lý Bí, Ngơ Quyền, Đinh

Tiên Hồng, Trần Hưng Đạo… Chiếm sơ đơng trong các nhân thần là những người ít

nổi tiếng hơn như quan lại, nho sĩ và đặc biệt là các bộ tướng của Hai Bà Trưng, nhất

là các nữ tướng. Những vị thần này thực ra là những nhân vật truyền thuyết có tính

“giả lịch sử” hơn.

Loại Thành Hồng thứ ba gắn liền với tín ngưỡng bản địa như tục thờ cây, thờ

đá thời nguyên thuỷ.



SVTH: Nguyễn Thị Thu Na



5



GVHD:Th.S Trần Văn Tâm



Giá trị nghệ thuật đình làng Việt Nam thời Lê Trung Hưng

Thành Hồng làng còn có thể là những người xuất thân hèn kém, có người chết

vào giờ thiêng cũng được thờ làm thần. Ngoài ra, ở một sô làng nghề thủ công người

ta thờ các tổ làng nghề, được gọi là “tiên sư”.

Những ngôi đình ở miền Trung và miền Nam đã tiếp thu ảnh hưởng của tín

ngưỡng Chăm và Khơ Me, nữ thần Pơ. Ino Naga của Chăm Pa được người Việt đưa

vào đền thờ với cái tên đã được Việt hóa là Thiên Y A Na Ngọc Diện thánh phi hay gọi

đơn giản là bà chúa Ngọc. Ở Nam Bộ, dân làng còn đưa vào thờ trong đình các vị thần

có nguồn gơc Khơ Me như Árắc, Trà Viên tướng quân…

* Chức năng hành chính :

Đình làng thực sự trở thành trụ sở hành chính của làng, còn được gọi là “nhà

việc”, nơi mọi việc thuộc về hành chính của làng đều được tiến hành ở đó, từ việc xét

xử các việc tranh chấp, phạt vạ, khao vọng, đến thu tơ, thuế, việc bắt lính, thu dịch …

Các làng đều có hương ước riêng với nội dung cụ thể khác nhau. Tuy nhiên, các

hương ước thường bao gồm những nội dung chủ yếu sau:

-



Những quy ước về ruộng đất: Việc phân cấp công điền, công thổ theo định kỳ

và quy ước về việc đóng góp (tiền và thóc).



-



Quy ước về việc khuyến nơng, bảo vệ sản xuất, duy tu đê đập, cấm lạp sát trâu

bò, cấm bỏ ruộng hoang, chặt cây bừa bãi…



-



Những quy ước về tổ chức xã hội và trách nhiệm của các chức dịch trong làng.

Việc xác định trách nhiệm của các chức dịch nhằm hạn chế họ lợi dụng quyền

hành và thế lực để mưu lợi riêng.



-



Những quy ước về văn hóa tinh thần và tín ngưỡng. Đó là những quy ước nhằm

đảm bảo các quan hệ trong làng xóm, dòng họ, gia đình, láng giềng…được duy

trì tôt đẹp. Quy định về việc sử dụng hoa lợi của ruộng công vào việc sửa chữa

hoặc xây dựng đình, chùa, đền, quy định về thể lệ tổ chức lễ hội, lễ ra làng, lễ

nộp cheo…

* Chức năng văn hóa :

Đình làng là trung tâm sinh hoạt văn hoá của cả làng. “Cây đa, bến nước, sân



đình” đã đi vào tâm hồn những người dân quê. Đỉnh cao của các hoạt động văn hóa

diễn ra ở đình là lễ hội. Làng vào hội cũng có nghĩa là làng vào đám, là hoạt động có

quy mô và gây ấn tượng nhất trong năm đôi với dân làng.



SVTH: Nguyễn Thị Thu Na



6



GVHD:Th.S Trần Văn Tâm



Giá trị nghệ thuật đình làng Việt Nam thời Lê Trung Hưng

Những lễ hội truyền thông được dân làng thường xuyên tổ chức vào các dịp lễ

hội như: lễ hội xuông đồng, lễ hội mừng cơm mới, lễ cầu phúc… và cùng với những lễ

hội này là những trò chơi cổ truyền nhằm biểu dương và ca ngợi tài trí của con người

như: đánh cờ, đấu vật, kéo co, đánh đáo, đá cầu, làm xiếc, đua thuyền… Đây là những

sinh hoạt văn hoá lành mạnh mang rõ dấu ấn bản sắc dân tộc và mỗi vùng đều có một

bản sắc riêng như hội pháo ở làng Đồng Kỵ - Bắc Ninh, hát quan họ ở một sô đình

làng Bắc Ninh, bơi chải ở các đình làng dọc triền sông…

1.2. Khái quát về nghệ thuật kiến trúc và chạm khắc đình làng.

1.2.1. Kiến trúc của ngôi đình trong tín ngưỡng, tôn giáo truyền thống Việt

Nam :

Đình làng là gương mặt của nền kiến trúc mà không chỉ là công trình oai

nghiêm và đồ sộ nhất trong khung cảnh làng quê Việt Nam nghèo nàn thời quân chủ,

mà còn là nơi bảo tồn khá trọn vẹn những đặc điểm của nền kiến trúc dân tộc.

Kiến trúc đình làng phát triển với sự đóng góp của quần chúng nhân dân và

thực sự trở thành những công trình đầu tư sáng tác tập thể trong thi cơng kiến trúc và

trang trí nội thất bên trong. Kiến trúc đình làng với đặc trưng cân bằng, ổn định và linh

hoạt là hệ quả của thế ứng xử của cư dân đồng bằng Bắc Bộ đôi với môi trường vừa

chế ngự, vừa hạn chế sự khắc nghiệt của thiên nhiên, vừa linh hoạt khôn khéo tận dụng

những điều kiện thuận lợi để tồn tại và phát triển.

Hướng đình rất quan trọng, người ta tin rằng hướng dựng đình ảnh hưởng trực

tiếp đến công việc làm ăn cuả cả làng. Đình thường được dựng trên bãi đất cao ráo,

bằng phẳng rộng rãi và được xây dựng gần khu đông dân cư. Kiến trúc đình làng là

công trình to lớn nhất ở làng, nhưng nó khơng vượt trội, phá vỡ cảnh quan xung

quanh… Ngôi đình là nơi con người tìm thấy sự gắn bó, hồ điệu với thiên nhiên, cũng

như tìm thấy sự đồng cảm của con người với con người. Xét về mặt tổng thể trước

đình làng luôn là ao đình(tròn hoặc bán nguyệt), tiếp đến là sân đình với nhiều hàng

cây cổ thụ, đây là hai yếu tô quan trọng tạo nên diện mạo của đình làng. Các cây cổ

thụ thường được trồng phía sau và hai bên sân đình, kết hợp với kiến trúc của ngôi

đình tạo nên tính đăng đơi. Tính đăng đơi của đình cũng tác động đến cảm giác, tạo sự

ổn định, bền vững, thể hiện nhu cầu thường ngày của cư dân nông nghiệp.

Kiến trúc đình thường theo dạng chủ yếu là chữ nhất, chữ tam, chữ đinh, chữ

công. Hệ thông kết cấu gỗ, cột và bẩy, liên kết với mộng tạo thế cân bằng vững chắc

SVTH: Nguyễn Thị Thu Na



7



GVHD:Th.S Trần Văn Tâm



Giá trị nghệ thuật đình làng Việt Nam thời Lê Trung Hưng

cho tồn bộ cơng trình. Các hàng cột lớn được kê lên trên hòn đá tảng khơng cần móng

gọi là chân cột. Cột trong kiến trúc đình Việt Nam đều được làm bằng gỗ ngun cây,

khơng có cột nơi, khơng sơn vẽ và được liên kết với nhau bằng các kiểu khác nhau,

đồng thời người ta có thể xoay hướng đình mà khơng cần tháo gỡ.

Tồ lớn của đình hay gọi là nhà đại bái thường là một căn nhà lớn lợp ngói mũi,

kiểu bơn mái xoè rộng ra ơm lấy đất. Thế nhưng, bơn tầu mái cao rộng đó khơng trở

nên nặng nề nhờ bơn góc của bơn đầu đao cong vút như nâng các mái bay bổng. Kiểu

mái này chính là đặc điểm nổi bật của kiến trúc truyền thông Việt Nam, khác hẳn với

kiểu tầu hộp hay giả tầu của nền kến trúc Trung Hoa mà ta thường thấy trên hầu hết

các mái nhà ở cô đô Huế. Kiến trúc đại đình có nét chung của nền kiến trúc gỗ Phương

Đông, dựa trên sự liên kết của các bộ vì, kèo. Sức nặng của toà nhà do cột trong vì

đảm nhiệm nên khi ấy tường nhà không phải là cơ sở chịu lực mà chỉ làm nhiệm vụ

che nắng, mưa, gió, bão. Tuy nhiên, khác với các dân tộc khác, kiến trúc đình làng

Việt ban đầu là một khơng gian mở, mỗi khi làng có việc, cửa bức bàn bôn mặt đình

được dùng làm bàn tiệc, khiến bơn mặt đình càng trở nên thơng thống. Ở đình làng,

chúng ta rất rễ nhận ra hầu hết các thành phần kiến trúc đều được chạm khắc trang trí

trên các vì kèo, đầu bẩy, đầu dư, ván nong, côn…. Trang trí đình làng lấy gian giữa

làm trung tâm nên được chạm khắc hình các vật như chúng ta vẫn thường thấy ở mĩ

thuật phong kiến Việt Nam như tứ linh (Long – Ly – Quy - Phượng), các loại hoa lá

được cách điệu cao như tứ quý (Tùng - Cúc – Trúc – Mai)… Có thể nói gian giữa của

đình được trang trí bằng lơi mĩ thuật chính thơng song có một nét riêng là rất gần gũi

với người dân lao động. Từ gian giữa toả ra các gian bên là thường thể hiện những đề

tài sinh hoạt của người dân có tính chất thoải mái, tự do và cả những những lời lên án

chế độ quân chủ hà khắc thời phong kiến. Tất cả những điều ấy là dấu ấn tuyệt vời cho

các thế hệ mai sau hiểu và cảm được khơng khí sinh hoạt của cộng đồng làng xã thời

xưa. Đồng thời là bản sắc của nền kiến trúc Việt Nam - một bản sắc văn hoá và lịch sử

sâu sắc nhất.

1.2.2. Nghệ thuật chạm khắc đình làng :

Ở làng xã của Việt Nam đình làng là nơi bảo lưu nhiều vôn nghệ thuật dân gian

của dân tộc ta. Kiến trúc sư Trọng Hồi đã nói: “Đình làng là một bảo tàng sông của

thời đại”



SVTH: Nguyễn Thị Thu Na



8



GVHD:Th.S Trần Văn Tâm



Giá trị nghệ thuật đình làng Việt Nam thời Lê Trung Hưng

Khi bước vào bên trong đình, khơng khí mát dịu làm ta như trút bỏ vướng mắc

của đời sông, chìm vào không gian tâm linh bao bọc xung quanh để tĩnh trí mà chiêm

bái trước đức Thành Hoàng làng, nhìn ngắm những hình chạm khắc trên kiến trúc. Và

ta hiểu rằng ngôi đình đang ôm vào bên trong, thầm lặng giữ gìn một di sản nghệ thuật

vơ giá, mà đến ngày hơm nay nhìn ngắm nó vẫn thấy hiển hiện, xôn xao đời sông xã

hội mấy trăm năm về trước và để lại những giá trị to lớn về văn hóa, lịch sử và nghệ

thuật.

Nhìn một cách khái quát, nghệ thuật điêu khắc đình làng ở đồng bằng Bắc Bộ

phát triển từ những bước đầu tiên ở thế kỷ XVI, đạt dấu ấn rực rỡ đỉnh cao ở thế kỷ

XVII, chững lại, chín muồi ở thế kỷ XVIII và thối trào ở thế kỷ XIX. Có thể nói, giá

trị nhiều mặt mà điêu khắc đình làng để lại tập trung ở di sản điêu khắc đình làng thế

kỷ XVI - XVII. Điêu khắc đình làng của 2 thế kỷ này đại diện điển hình nhất cho toàn

bộ nghệ thuật điêu khắc ở đồng bằng Bắc Bộ.

Xuất phát từ nhu cầu nghệ thuật ngày càng cao của con người, đặc biệt đình

làng lại là nơi hội họp, tập trung của mọi người trong làng, những người nghệ nhân

dân gian đã tạo ra những bức chạm khắc nhằm trang trí cho ngơi đình. Phần lớn là

hình tượng con người với những hoạt động đời thường vừa nói lên thị hiếu thẩm mĩ,

vừa nói lên ước mơ, khát vọng của người dân lao động.



SVTH: Nguyễn Thị Thu Na



9



GVHD:Th.S Trần Văn Tâm



Giá trị nghệ thuật đình làng Việt Nam thời Lê Trung Hưng

CHƯƠNG II : GIÁ TRỊ NGHỆ THUẬT TẠO HÌNH CỦA CHẠM KHẮC ĐÌNH

LÀNG VIỆT NAM THẾ KỶ XVI- XVII

2.1. Giá trị văn hóa.

Cũng như nhiều loại hình nghệ thuật dân gian khác, điêu khắc đình làng là kết

quả sáng tạo của nghệ nhân dân gian nhằm phục vụ cho đời sông chung của làng xã.

Vì vậy, điêu khắc đình làng luôn mang đậm tâm hồn, tình cảm của người dân Việt và

mĩ thuật đình làng trở thành sản phẩm đặc sắc của truyền thơng văn hóa... Nói đến

điêu khắc đình làng, là nói đến những chạm khắc trang trí mang một giá trị nghệ thuật

đặc sắc của mĩ thuật cổ Việt Nam. Điêu khắc đình làng được thể hiện trên khung vì

kèo của kiến trúc gỗ, vì vậy thành phần trang trí làm bớt đi cái thơ mộc của gỗ. Nhìn

tổng thể các bức chạm khắc giông như một bức tranh liên hoàn nhưng ngắt ra ở mỗi

đoạn mà ta có thể xem nó như một tác phẩm độc lập, hoàn chỉnh, được các nghệ nhân

xây dựng lên từ những sinh hoạt, những ước mơ giản dị của người dân lao động. Cảnh

mẹ gánh con, đôn củi, bắn hổ, đá cầu, xem hát, chơi cờ, uông rượu... là những sinh

hoạt làng quê cho đến những cảnh như: tắm sen, nam nữ vui đùa, tình tứ là thông điệp

gửi gắm tâm tư tình cảm, khát vọng của những người dân hồn hậu.

Đình làng là sản phẩm của Nho giáo nhưng điêu khắc đình làng vượt lên trên cả

giáo lý khắt khe của Nho giáo đó. Nếu như "nam nữ thụ thụ bất thân" thì các chàng

trai, cô gái trong Tắm sen ở đình Tây Đằng (Hà Tây), Bôn nụ cười đình Hưng Lộc (Hà

Nam) tự do vui đùa, trêu ghẹo nhau. Nếu như con "rồng" của nhà Nho là biểu trưng

cho Thiên tử thì con rồng trong điêu khắc đình làng chỉ là biểu tượng của nhân duyên,

là sự hội ngộ, sum vầy "bao giờ rồng mới gặp mây" giông như khát vọng tình yêu nam

nữ qua hình ảnh Rồng - Tiên. Một trong nét đặc sắc của điêu khắc đình là mang đậm

tính nhân văn. Như đã nói bôi cảnh lịch sử của mỹ thuật đình làng là một xã hội đầy

biến động, thế nhưng ta không thấy cảnh đâm chém, chết chóc trong chủ đề của loại

hình nghệ thuật dân gian, bằng thủ pháp riêng của mình, điêu khắc đình làng tốt lên

vẻ hồn nhiên, dí dỏm, vui tươi của một đời sông no đủ an bình. Nó gợi ta nhớ đến

những hình khắc trên mặt trơng đồng Đông Sơn, là những cảnh hội hè, tế lễ. Phải

chăng đó chính là khát vọng và mỹ cảm của người dân lao động?



SVTH: Nguyễn Thị Thu Na



10



GVHD:Th.S Trần Văn Tâm



Giá trị nghệ thuật đình làng Việt Nam thời Lê Trung Hưng

2.2. Giá trị tạo hình của điêu khắc đình làng Việt Nam.

2.2.1. Phong cách bớ cục :

Nói đến thủ pháp của nghệ thuật chạm khắc đình làng là nói đến sự sáng tạo của

người nghệ sĩ dân gian Việt Nam, khơng gian và thời gian trong đó khơng cứng nhắc

cơ định ở một góc độ thời gian, khơng gian. Tất cả hết sức linh hoạt, sinh động của

không gian đồng hiện, của cách kết hợp nhiều điểm nhìn. Cách bơ cục các mảng chạm

khắc ln tùy hứng, gắn bó theo khuôn kiến trúc. Ở tác phẩm “Tắm sen” khi xem

chúng không chỉ nhìn thấy những gì nổi trên mặt nước mà thấy cả người cả hoa sen, cả

cá bơi trong nước hết sức vui vẻ, hồn hậu.

Hay cảnh sinh hoạt xã hội trong điêu khắc đình làng Thổ Tang (Vĩnh Phúc), bên

người uông rượu là người đi cày, người cưỡi ngựa, nó gợi lên cái nhịp điệu của đời

sơng đương thời. Rồi một bàn cờ của người nghệ sĩ dân gian trong Đánh cờ được nhìn

theo nhiều chiều hướng khác nhau: bàn cờ được nhìn từ trên xuông, người đánh cờ

được nhìn vừa chính diện vừa trắc diện. Vậy mà tất cả khơng hề phi lý, nó tổ hợp lại

trong một trật tự, một bơ cục hồn chỉnh của tâm thức phương Đông.

2.2.2. Đường nét, hình khối trong chạm khắc đình làng :

Với bản chất chân thật, sơng hòa mình với thiên nhiên của những nghệ nhân

nông dân, luôn có cách nhìn dung dị, giản đơn, nên các tác phẩm chạm khắc cũng bộc

lộ rõ hơn những đức tính của người dân. Với những đường nét chạm khắc dứt khốt

mà chắc khỏe, đơn giản nhưng sơng động, hấp dẫn, những mảng khôi được diễn tả no

căng, hình thức giản dị, mang tính khái quát cao, tất cả đều được kết hợp trong khơng

gian ước lệ, trong sự hài hòa hoàn chỉnh tạo nên vẻ lung linh ẩn hiện trong mỗi tác

phẩm.

2.2.3. Kỹ thuật chạm khắc :

“Người thợ chạm ở làng xã, từ thuở nhỏ đã quen đục chạm gỗ, nhưng vẫn là

một nông dân vì anh ta tham gia mọi việc đồng áng. Nhát chạm dứt khoát, chắc tay,

nhưng nguồn cảm hứng lại rất chân thật, không phải là chân thật một cách sơ khai

không đạt tới nghệ thuật, mà là chân chất của nghệ sĩ lớn, tươi mát và sinh động, kết

quả một quá trình hấp thụ, cô kết cao độ giữa những tình cảm sâu xa với những hình

thức biểu hiện. Nghệ sĩ chạm gỗ như người ca sĩ hay nhà thơ ở làng xã khi hứng lên,

diễn tả bằng ngôn ngữ hàng ngày những điều rất bình thường, nhưng rất xúc động lòng

người. Những tác phẩm ấy phản ánh lên tất cả vẻ đẹp, chứa đựng mọi hương thơm của

SVTH: Nguyễn Thị Thu Na



11



GVHD:Th.S Trần Văn Tâm



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

CHƯƠNG I: KHÁI QUÁT LỊCH SỬ HÌNH THÀNH VÀ ĐẶC ĐIỂM CỦA KIẾN TRÚC ĐÌNH LÀNG VIỆT NAM THẾ KỶ XVI- XVII

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×