Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
PHẦN I: MỞ BÀI

PHẦN I: MỞ BÀI

Tải bản đầy đủ - 0trang

Báo cáo thực tập tốt nghiệp



GVHD: Nhan Thị Ngọc Hải



kém khả năng tổng hợp thành chất béo cho cơ thể nó bằng nguyên liệu như bệnh

tim, đường đa, đường đơn, polipeptit,…

Như vậy, chất béo cần thiết cho heo con là dạng chất béo cử sũa mẹ, nái tối

sửa khi nào lượng sữa của nó giúp cho đàn heo con xây dựng được lớp mỡ bọc thân

dày… Nghĩa là sửa mẹ phải có nhiều chất béo ở dạng mà heo con dễ hấp thu và dự

trữ được.

Tuy nhiên, lớp mỡ bọc thân dày của heo con từ những nái tốt sữa, làm cản trở

sự thải nhiệt của cơ thể, khiến cho heo con giảm đi sức đề kháng với khí hậu nóng

của thời tiết tháng 3,4,5,6 dương lịch. Điều này được kiểm chứng qua những lứa để

tiếp cận mùa nóng ở đồng bằng nam Bộ ( tháng 2 đến giữa tháng 3 dương lịch). Ở

các lứa đẻ này, nái tốt sữa, nuôi con rất tốt trong tháng đầu, nhưng qua tháng thứ 2

trở đi vào mùa nghịch các heo bị hầm nóng, khả năng tiêu hóa suy giảm, an thức an

cũng ít đi và vì tiêu hóa khơng hết sữa nên dễ tiêu chảy, dần dần trở nên gầy còm,

lớp mỡ bọc thân giảm chiều dày rất mau.

Trái lại, lớp mỡ bọc thân dày của các heo con đẻ trong thời tiết mát mẻ, khí

hậu ơn hòa ( vào tháng 12,1,2 và các tháng 7,8,9 dương lịch) vừa có tác dụng bảo

vê cho heo con chống bệnh lạnh ban đêm, vừa khơng hạn chế khả năng tiêu hóa sửa

+ thức ăn, do đó heo con tăng trưởng nhanh, chiều dày lớp mỡ bọc thân khơng lại

giảm sút, có khả năng đề kháng cao với những thay đổi đột ngột của khí hậu trong

các thời điểm này.

Như vậy, nguồn cung cấp chất béo trong sửa heo nái cho heo con là một nhân

tố có ảnh hưởng sâu sắc đến sinh lý phát triển của heo con.

1.3. Các dấu hiệu heo bệnh và bất thường.

Đại đa số người đều cho rằng việc phát hiện đàn gia súc bệnh là việc khó

khăn, vì gia súc khơng biết nói để khai bệnh như người, tuy nhiên trong lĩnh vực

thú y, gia súc không biết khai bệnh nhưng lại thường báo bệnh rất chính xác, khơng

khai man, mà cũng không giấu bệnh như người! Một số dấu hiệu sau đây chứng tỏ

heo có bệnh:

Đối với heo con sơ sinh 1-7 ngày tuổi.

SVTH: Phạm Thị Hiền



Trang



3



Báo cáo thực tập tốt nghiệp



GVHD: Nhan Thị Ngọc Hải



Heo sơ sinh là một cơ thể yếu đuối từ (0,7-1,8 kg mỗi con) tế bào non nớt rất

dễ bị bệnh trong nhiều trường hợp bệnh xảy ra trên heo sơ sinh 1-7 ngày tuổi rất

nhạn, heo chết nhanh có khi khơng phát lộ triệu chứng bệnh điển hình, hoặc dấu

hiệu báo bệnh trước. Thông thường lứa tuổi này heo chỉ biết bú mẹ, nó giớn khi

thức và ngủ nhiều. Trong ơ chuồng nếu heo con khỏe mạnh thường ngủ rải rác trên

rơm, không nằm chồng chất, sau 2-3 ngày đẻ ra, heo trắng trở nên bóng bẩy và

trắng hơn ( long mượt ở heo đen và đốm),mông vai nở, tai và đuôi ve vẩy, giật cơ

nhè nhẹ, khi thức dậy chúng chạy giỡn cắn nhau, nhịp thở nhẹ nhàng, cứ khoảng 12 giờ thúc vú bú, tốc độ phát triển có thể rất nhanh ( sau 7 ngày cơ thể tăng gấp đôi

khối lượng nếu sữa mẹ tốt) heo con đi phân từng lọn tròn như hạt dẻ, màu vàng

tươi rời rạc hoặc dính nhau, trong mùa mát trời ít cần phải uống thêm nước, cuống

rốn không nhiễm trùng sẽ rụng và khô dần trong 5 ngày. Từ các dấu hiệu heo khỏe

mạnh như trên, ta có thể phát hiện heo bệnh qua các dấu hiệu sau đây:

a)

Heo con nằm chồng chất lên nhau, xù lơng, gầy còm, gầy trơ xương

mơng, xương sườn, xương sống, mắt lõm sâu. Thiueeus sữa mẹ nếu kèm theo khám

vú mẹ nhăn nheo, hoặc cứng, nếu chuồng ẩm ướt, phân lỏng từ vàng đến xanh dính

bê bết trên mơng, đi, đùi sau. Heo trắng thì cơ thể vẫn đỏ hơn, khơng bóng bảy.

b)

Heo bị liệt hai chi sau: Mẹ đế phần mông chân sau chưa đến mức gây

chết nhưng làm liệt khớp xương quyển và xương bàn chân, heo vẫn bú mẹ được,

nhưng chỉ bò lê lết trong chuồng bằng hai chân trước.

c)

Cuống rốn lồi đầu, mài cuống rốn đỏ nâu khô, viêm cuống rốn nhiễm

trùng nhẹ sẽ gây tiêu chảy dù rằng heo mập khỏe.

d)

Run cơ cơ, giật, sùi bọt mép: nhiễm độc trùng qua cuống rốn ( nhất là

độc trùng trong phân như: clostridium), heo bước qua căn bệch sẽ gầy còm, mạch

máu rốn về gan hay tích mủ xanh, nếu lành bệnh sẽ gây lòi rốn ( Hermia rốn ).

e)

Sút móng chân, lột da, cụt đuôi, xuất huyết nội tạng do mẹ đi đứng

giẫm đạp phải: heo sẽ đi lóng cóng run rẩy hoặc xanh mét lại bệnh.

f)

Lở hai bên mép: Do không cắt răng nanh, lúc giành bú hất nhau bằng

răng nanh trầy mép, sau đó có thể lở loét nướu răng.



SVTH: Phạm Thị Hiền



Trang



4



Báo cáo thực tập tốt nghiệp



GVHD: Nhan Thị Ngọc Hải



g)

Heo con tai xanh, trắng bệch, yếu ớt, do cột rốn không kỹ, bị xuất

huyết lúc cắt rốn mà người trực đẻ khơng hay. Cũng có khi do các heo con nhốt

chung ( lúc chờ mẹ đẻ xong mới cho bú ) mút rốn uống luôn máu. Heo con nào mút

nhiều màu sẽ di phân đỏ bầm sau vài giờ ( máu qua bộ tiêu hóa heo con rất nhanh

so với sữa đầu của mẹ nó ) thường là phân lỏng. Heo con bị mất máu sẽ bị gầy còm

mau chóng hoặc bị chết.

h)

Heo con nằm thở dốc, nhịp thở tăng rất nhanh có thể cứ mỗi giây là

một hoặc hai nhịp thở ( 60 – 120 nhịp/ phút ), heo chỉ thở bằng bụng đó là dấu hiệu

heo sốt cao có tâm biến chứng sưng phổi nguy hiểm, heo sốt cao có thể bị động

kinh cơ giật và chết.

1.3.2. Đối với heo con theo mẹ:

Heo con theo mẹ thường ít bệnh nếu nái bình thường khỏe mạnh. Các dấu hiệu

sau đây chứng tỏ heo con có bệnh:

a) Lơng xù,má hóp, mắt thâm sâu: Bệnh còi. Danh từ bệnh còi ám chỉ nhiều

thể trạng:





Bệnh còi xương vì mất qn bình can xi – photpho hay thiếu can xi hoặc



photpho trong khẩu phần ăn. Tuy nhiên bệnh điển hình rất hiếm thấy, chỉ thấy dạng

còi vì suy dinh dưỡng tồn diện. Trường hợp còi xương này xương rất mềm, chỗ

sụn nối xương phình to.





Bệnh còi do thiếu dinh dưỡng tồn diện: Từ ngữ thiếu dinh dưỡng tồn



diện mơ tả - một chứng bệnh dinh dưỡng xảy ra do heo con thiếu nhiều dưỡng chất

( gần như toàn bộ các dưỡng chất thiết yếu ). Tình trạng này xảy ra khi heo con bị

thiếu sữa mẹ,hoặc sữa mẹ thiếu chất. Lượng dưỡng chất trong sữa chỉ đủ cung ứng

cho một phần nhỏ ( từ 30 – 50 % ) nhu cầu dinh dưỡng của heo con, vì vầy cơ thể

của heo con chỉ đạt tầm vóc từ 30 – 50% ( hay thấp hơn) của cơ thể heo con khỏe

mạnh dinh dưỡng đủ, cùng lứa tuổi đó. Đặc điểm của bệnh còi dinh dưỡng này heo

con vẫn khỏe rất ham bú, nếu đưa ghép sang những nái mới đẻ ít con chúng sẽ bú

no căng bụng đến nỗi không đi đứng nổi đành nằm lăn kềnh ra ngủ. Trường hợp còi

dinh dưỡng này thường xảy ra trên heo con nút vú đặc hoặc vú áp chót rất ít sữa

hoặc vú teo đi khơng sữa, các heo con đó ln ln nhồi vú khi mà mẹ đã “xuống

SVTH: Phạm Thị Hiền



Trang



5



Báo cáo thực tập tốt nghiệp



GVHD: Nhan Thị Ngọc Hải



sữa”, các con khác mút sữa mê mẩn, cuối cùng heo còi đi mút sữa vét ở những vú

mà những con khác đã bú xong, còn thừ lại chút ít, mặc dù trong sữa khơng thiếu

dưỡng chất nào, nhưng vì chỉ bú được ít sữa, cơ thể chỉ đủ chất liệu đủ xây dựng

một cơ thể nhỏ hơn là cơ thể bình thường.





Còi bệnh lý: Trường hợp heo mắc những chứng bệnh mãn tính như tiêu



chảy, viêm rốn mụn mủ ( abces ) do tiêm thuốc ( nhất là chất sắt tiêm )… vi trùng

bệnh hồnh hành làm cơ thể khơng phát triển được. Phải khám kỹ tìm bệnh tích

mới suy ra được căn bệnh.

b. Vàng da, niêm mạc tráng bệch:

Nếu thấy heo bị vàng da, niêm mạc vàng thì có bệnh ở gan như lõi đũa, làm

kết sỏi ở mật, viêm rốn truyền nhiễm vào gan gây viêm gan, tiêm màng bụng dung

dịch glucozo có nhiễm vi nấm hoặc độc trùng gây viêm toàn ở bụng, mẹ đạp con bể

tụy tạng, dịch tụy tạng thấm làm viêm hoại tử ống dẫn mật và vùng lân cận làm tắt

đường tiết mật của gan heo con. Bất cứ sự bất hảo nào xảy ra trên gan đều gây

chứng vàng dạ huỳnh đản ( icterus ).

Khi khám thấy niêm mạc và vành tai ( heo trắng ) trắng bệch đó là dấu hiệu

của bệnh thiếu máu. Nguyên nhân thiếu máu của heo con thường là do thiếu dưỡng

chất ( đi kèm theo bệnh còi do tiêu chảy, còi vì thiếu dưỡng chất tồn diện vẫn có

thể niêm mạc và vành tai đỏ hồng ) và thiếu chất sắt. Trên heo con, bệnh thiếu máu

vì thiếu sắt cấp tính ít khi xảy ra bởi lẽ dù chuồng xi măng nhưng dùng nước song

có phù sa để rửa chuồng, tắm heo mẹ, cho heo con uống nước trong máng tự do,

cũng tạm đủ chất sắt cho nhu cầu heo con. Bệnh thiếu máu heo con thường xảy ra ở

thể mãn tính, làm heo con xanh xao, yếu ớt chứ không làm chết heo con ngay.

c. Sưng phổi cấp tính: Các dấu hiệu heo con sưng phổi là thở nhanh bằng

bụng, sốt, xù long, đuôi và tai không linh hoạt, có thể há miệng thở, đi lại đứng

nằm khơng yên, bỏ bú hoặc lơi bú, lơi ăn.

d. Lông thô, dày: Trường họp long thô, dày nhưng gầy trơ xương sống, mơng

lép, vai lép, đó là dấu hiệu heo đang thiếu chất đạm hoặc khẩu phần quá nhiều chất

xơ, hoặc bắt heo ăn khẩu phần quá nhiều nước mà thiếu dưỡng chất tiêu hóa được

như bột, đường, đạm chất, ( thiếu calo ).

SVTH: Phạm Thị Hiền



Trang



6



Báo cáo thực tập tốt nghiệp



GVHD: Nhan Thị Ngọc Hải



1.3.3. Đối với heo con cai sữa và heo lứa đến 100kg.

a. Bỏ ăn: Một khi heo mất đi tập quán thèm ăn là có sự khơng bình thường

trong cơ thể ( ngoại trừ nái đang động đực, đực giống đã phát hiện thấy heo cái ).

Dấu hiệu bỏ ăn là dấu hiệu đầu tiên cho biết heo cai sữa và heo nái cơ/ bệnh.

b. Đuôi bng thỏng khơng uống cong, ít phe phẩy: cũng là triệu chứng báo

heo có bệnh, nhất là bệnh tiêu chảy ở thể nặng trên heo cai sữa.

c. Há hốc mõm để thở: heo bị sốt cao hoặc say nắng, thường kèm theo dấu

hiệu chảy nước dãi đặc, mắt đỏ ngầu, mê mẩn, tiêm thuốc không thấy đau…

d. Heo không giật mình: heo bệnh sốt, thính giác và phản xạ yếu khơng giật

mình, khơng chơm dậy lẹ làng.

e. Đi đứng long cóng,ngồi, nằm khó khăn, viêm khớp, viêm do đạp gai xương

cá, thể nhẹ thường biểu hiện sưng ở chân bị thương tích.

f.Hồng đản: dấu hiệu bất hòa ở gan, nếu bệnh số nhiều có thể nghi vấn bệnh

viêm gan do lephospira hay virus, ngộ độc.

g. Lở da: mất quân bình về can xi với kẽm gây thiếu kẽm ( zn ), ngồi ra có

thể do ngoại ký sinh như cái ghẻ, ruồi đốt…

h. Heo ho: nếu heo ho từng tràng dài vang dội, mệt mỏi sau khi ho thì có bệnh

diễn ra ở phổi, khí quản, phế quản, thanh cầu, ho khúc khắc nhiều lần trong đêm,

ngày thở bằng bụng là do ấu trùng lãi đũa qua phổi.

i. Sỗ mũi, xanh, hắt hơi: heo vẫn thường nhiễm bệnh cảm cúm như người, hắt

hơi – ( ách xì ).

j. Cắn đi, cắn tai chảy máu, liếm máu: heo thiếu muối ăn ( Nacl ) trong khẩu

phần hoặc thiếu một số sinh tố, khoáng vi lượng như Fe, Cu, Mn, Mg.

k. Mũi ngắn, vẹo mũi, thở khò khè: Do bệnh cảm cúm xảy ra, một số vi trùng

khác thứ phát gây viêm mãn tính hoại tử viêm mũi.

l. Xuất huyết dưới da: Đó là dấu hiệu của một số bệnh như dịch tả heo, thương

hàn, dấu son, thường đi kèm với dấu hiệu bỏ ăn, sốt.



SVTH: Phạm Thị Hiền



Trang



7



Báo cáo thực tập tốt nghiệp



GVHD: Nhan Thị Ngọc Hải



m. Phân khô từng lọn ( bón ): Do heo sốt nhẹ, chuồng hầm nóng heo ăn ít, ít

chất xơ trong khẩu phần ăn, uống nước không đủ.

1.3.4. Heo nái.

a. Bỏ ăn:

Heo mới cai sữa có thể nái nhớ con lơ ăn.

Do thay đổi thức ăn đột ngột.

Do sau khi phối giống xong, cơ thể dưới tác dụng của progesterone sẽ tích cực

dự trữ dưỡng chất, mơ mở dưới da bắt đầu tích lũy mỡ sau thời gian nuôi con.

b. Đi đứng ngần ngừ trong chuồng:

Heo động dục mê chờ phối.

Heo đang sốt hoặc nhiễm bệnh

c. Mắt đỏ: heo sốt cao lòng trắng mắt đỏ ngầy.

d. Khô mũi và lưỡi: trường hợp heo bị sốt mũi khơ có vài máu đơng vì khát

nước, lưỡi cũng khô nước bọt, cần cấp nước cho chút muối ăn để qn bình sinh lý.

e. Thở khò khè, ngáy tiếng lớn: Do viêm mũi và phế quản kinh niên.

f. Chảy máu cam: Cũng do viêm xoan mũi. Heo có thể hắt hơi bật chảy máu

từ một lổ hoặc hai lổ mũi. Tiêm vitamin là cách duy nhất làm hạn chế bót phần nào

chứng chảy máu cam trên heo nái.

1.3.5. Đực giống.

Khi thấy đực giống lừ đừ, khơng hăng tìm nái, đi đứng mệt mỏi, không buồn

ngênh chiến với đực giống khác thì biến lò heo đang nhiễm bệnh tồn diện.

Hai dịch hồn khơng đều thường là dấu hiệu báo khả năng sinh dục bị giảm

sút.

1.4. Mục tiêu nghiên cứu.

Đề tài này chúng tơi thực hiện nhằm mục đích:

Điều tra, đánh giá tình hình chăn ni tại xã Tiên Mỹ.

SVTH: Phạm Thị Hiền



Trang



8



Báo cáo thực tập tốt nghiệp



GVHD: Nhan Thị Ngọc Hải



Điều tra về cơng tác thú y.

Điều tra về tình hình dịch bệnh.

Tham gia vào cơng tác thú y.



SVTH: Phạm Thị Hiền



Trang



9



Báo cáo thực tập tốt nghiệp



GVHD: Nhan Thị Ngọc Hải



PHẦN II. NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP THỰC HIỆN

2.1. Nội dung.

2.1.1. Điều tra về giống vật nuôi công tác giống.

Về số lượng:

Hầu hết các hộ chăn nuôi tại xã Tiên Mỹ đều nuôi lợn nái mống cái và lợn

thịt F1.

Tổng số đầu lợn tháng 4 năm 2014 tại xã Tiên Mỹ có 1054 con.

Tổng đầu lợn nái có 232 con.

Tổng đầu lợn đực giống có 13 con.

Tổng đầu lợn thịt có 809 con.

Theo xu hướng tiêu dùng hiện nay, nhu cầu các loại thịt vẫn tăng cao trong

thời gian tới, đặc biệt thịt lợn vẫn chiếm tỷ lệ cao nhất 63 – 65% tổng số các loại

thịt. Vì vậy ngành chăn ni lợn vẫn đóng vài một trò rất quan trọng cung cấp

thực phẩm trong tiêu dùng của chúng ta.

2.1.2. Phương thức chăn nuôi.

Phương thức chăn nuôi khác nhau phản ánh điều kiện kinh tế và trình độ

chăn ni của từng hộ gia đình, từng đặc điểm kinh tế của mỗi vùng. Hiện nay ở

xã Tiên Mỹ đang tồn tại hai dạng phương thức.

a. Chăn nuôi nông hộ.

Chăn nuôi nông hộ vẫn đã và đang là phương thức chăn nuôi phổ biến nhất,

chiếm khoảng 85 – 90%. Đặc trưng của phương thức này là quy mô nhỏ lẻ chăn

nuôi từ 1- 10 con và nguồn nguyên liệu vẫn có từ địa phương nhưa các sản phẩm

nông nghiệp, phế phụ phẩm của ngành chế biến sản phẩm nông nghiệp là thức ăn

cho lợn, con giống chủ yếu là giống địa phương hoặc giống có tỷ lệ máu nội cao

( F1: ngoại x nội ) có năng suất và giá trị chăn nuôi thấp. Khả năng cung ứng thị

trường của sản phẩm khơng cao, đồng thòi việc chăn ni nhỏ lẻ phân tán gây khó

khăn cho việc quản lý con giống, vận chuyển, mua bán, giết, mổ - gây nên những

rủi ro về con giống, dịch bệnh, vệ sinh an toàn thực phẩm, ô nhiễm môi trường,...

SVTH: Phạm Thị Hiền



Trang 10



Báo cáo thực tập tốt nghiệp



GVHD: Nhan Thị Ngọc Hải



b. Chăn nuôi trại.

Chăn ni gia trại là phương thức chăn ni có sự kết hợp giữa kinh nghiệm

truyền thống và kỹ thuật chăn nuôi ngày càng hiện đại. Đặc trưng của phương thức

này là: Quy mô đàn lợn từ 10 – 30 nái, hay 10 – 50 lợn thịt. Ngoài các phụ phẩm

nơng nghiệp có khoảng 40 – 50% thức ăn cơng nghiệp, con giống chủ yếu là con lai

có từ 50 – 70% máu ngoại trở lên, công tác vệ sinh thú y, chuồng trại chăn nuôi đã

được xem trọng. Phương thức chăn ni này phổ biến, đã mang tính sản xuất hàng

hóa hơn hẳn so với chăn ni nơng hộ nhỏ song năng suất vẫn chưa cao, chưa đáp

ứng được nhu cầu thị trường, nhất là nhu cầu về chất lượng thịt.

2.1.3. Điều tra đánh giá về năng suất sinh sản và các yếu tố ảnh hưởng.

a.



Các chỉ tiêu đánh giá năng suất sinh sản.



Khả năng sinh sản là yếu tố quan tâm hàng dầu của người chăn nuôi lợn nái.

Để đánh giá năng suất sinh sản, người ta đã đưa ra các chỉ tiêu sinh sản. Tự coi chỉ

tiêu đó đưa ra một thanmg chuẩn để đánh giá, so sánh khả năng sinh sản của một cá

thể hay một giống nào đó, nhằm đưa ra biện pháp kĩ thuật tác động nâng cao hiệu

quả kinh tế, chọn lọc, loại thải,...theo từng mục đích riêng.

Có nhiều chỉ tiêu để đánh giá khả năng sinh sản của lợn nái, nhưng xét về mặt

di truyền, chọn giống, người ta thường quan tâm đến một số tình trạng năng suất

nhất định.

Tuổi đẻ lứa đầu, số con đẻ ra còn sống, số con cai sữa, khoảng cách lứa đẻ và

thời gian cai sữa là các chỉ tiêu quan trọng nên dùng để đánh giá khả năng sinh sản

của lợn nái.

Ở nước ta, tiêu chuẩn nhà nước ( TCNN – 1280 – 81, ngày 30 tháng 9 năm

2003 ) [ 17 ] đã quy định các chỉ tiêu giám định về khả năng sinh sản của lợn nái tại

các cơ sở công nghiệp bao gồm:

- Số con đẻ ra/ lứa ( con )

- Số con đẻ ra còn sống/ lứa ( con )

- Số con đẻ ra chết/ lứa ( con )

- Khối lượng sơ sinh/ con ( kg )

SVTH: Phạm Thị Hiền



Trang 11



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

PHẦN I: MỞ BÀI

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×