Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
-Khả năng miễn dịch, lợn sơ sinh trong cơ thể chưa có kháng thể, lượng kháng thể chủ yếu ở sữa đầu tiên nên cần cho lợn con bú sớm sữa đầu do vậy lợn con có khả năng miễn dịch hoàn toàn dựa vào sự hấp thụ của cơ thể mẹ.

-Khả năng miễn dịch, lợn sơ sinh trong cơ thể chưa có kháng thể, lượng kháng thể chủ yếu ở sữa đầu tiên nên cần cho lợn con bú sớm sữa đầu do vậy lợn con có khả năng miễn dịch hoàn toàn dựa vào sự hấp thụ của cơ thể mẹ.

Tải bản đầy đủ - 0trang

giết sẽ làm giảm chức năng của hệ thống bảo vệ cơ thể và làm tăng nguy cơ bị

nhiễm các bệnh kế phát.

- Đường lây lan: Virút có nhiều trong dịch mũi, nước bọt, phân, nước tiểu

và phát tán ra mơi trường, chủ yếu lây qua đường tiêu hóa và hơ hấp. Ở lợn mẹ

mang trùng, virút có thể lây nhiễm cho bào thai từ giai đoạn giữa thai kỳ trở đi;

virút được đào thải qua nước bọt và sữa. Virút có thể phát tán thơng qua các hình

thức: Vận chuyển lợn, theo gió (có thể đi xa tới vài km), bụi, nước, dụng cụ chăn

nuôi, thụ tinh và dụng cụ bảo hộ lao động nhiễm trùng và có thể do một số loài

chim hoang.

- Triệu chứng bệnh ở các giai đoạn của lợn

+ Lợn nái giai đoạn cạn sữa: Trong tháng đầu tiên khi bị nhiễm virút, lợn

biếng ăn 7-14 ngày, sốt 39 - 40 độ C, sảy thai thường vào giai đoạn cuối, tai

chuyển màu xanh trong thời gian ngắn, đẻ non, động dục giả, chậm động dục trở

lại sau khi đẻ, ho và có dấu hiệu của viêm phổi và viêm cả đường sinh dục.

+ Lợn nái giai đoạn đẻ và nuôi con: Biếng ăn, lười uống nước, mất sữa và

viêm vú, đẻ sớm khoảng 2-3 ngày, da biến màu, lờ đờ hoặc hôn mê, thai gỗ (1015%), lợn con chết ngay sau khi sinh (30%), lợn con yếu, tai chuyển màu xanh.

Tỷ lệ chết ở đàn con có thể tới 70%. Rối loạn sinh sản có thể kéo dài 4-8 tháng

trước khi trở lại bình thường.

+ Lợn đực giống: Bỏ ăn, sốt, đờ đẫn hoặc hôn mê, giảm hưng phấn hoặc

mất tính dục, lượng tinh dịch ít, chất lượng tinh kém và lợn con sinh ra nhỏ.

+ Lợn con theo mẹ: Thể trạng gầy yếu, nhanh chóng rơi vào trạng thái tụt

đường huyết do khơng bú được, mắt có dỉ màu nâu, trên da có vết phồng rộp,

tiêu chảy nhiều, tăng nguy cơ mắc các bệnh về hơ hấp, chân chỗi ra, đi run

rẩy...

+ Lợn con cai sữa và lợn choai: Nhìn chung cả đàn chán ăn; ho nhẹ, thở

mạnh, lúc sốt da đỏ hồng; táo phân, lông xác xơ...

- Điều trị: Hiện nay, vẫn chưa có thuốc đặc trị để điều trị. Có thể sử dụng

một số thuốc tăng cường sức đề kháng, hạ sốt, giải độc, điều trị triệu chứng và

chủ yếu dùng thuốc ngăn ngừa nhiễm bệnh kế phát (Flo-doxy, Gienta-tylo,

Ampi-kana…) cũng đem lại hiệu quả khá cao.

- Phòng bệnh: Chủ động phòng bệnh bằng cách áp dụng các biện pháp

chăn nuôi an tồn sinh học, chuồng trại phải thống mát về mùa hè, ấm vào mùa

đông, tăng cường sức đề kháng cho đàn lợn. Tiêm phòng đầy đủ các loại vắc

xin, đặc biệt là Dịch tả và Tai xanh. Định kỳ vệ sinh, tiêu độc khử trùng khu vực

chăn nuôi.

2. Bệnh lở mồm long móng:

Bệnh lở mồm long móng là bệnh truyền nhiễm cấp tính, lây lan nhanh,

gây hiệu quả nghiêm trọng về kinh tế, xã hội và môi trường. Để hiểu rõ nguyên

SVTH: BHƠNƯỚCH VÊU



Trang 13



nhân, triệu chứng và các biện pháp phòng và chữa trị bệnh có hiệu quả, xin giới

thiệu vài nét cơ bản về bệnh lở mồm, long móng và các biện pháp phòng, chữa

trị bệnh...

- Ngun nhân gây bệnh lở mồm long móng gia súc.

Bệnh lở mồm, long móng gia súc (LMLM) là bệnh truyền nhiễm, lây lan

nhanh, gây ra bởi 1 trong 7 type vi rút: Type A, O, C, Asia1, SAT1, SAT2, SAT3,

với hơn 60 phân type. ở Việt Nam đã phát hiện bệnh gây ra bởi 3 type A, O và

Asia1. Bệnh LMLM lây lan qua đường tiếp xúc giữa động vật khoẻ với động

vật, sản phẩm động vật, thức ăn, nước uống, không khí, chất thải, dụng cụ,

phương tiện vận chuyển, có măng mầm bệnh. Bệnh lây lan từ vùng này sang

vùng khác, tỉnh này sang tỉnh khác, nước này sang nước khác theo đường vận

chuyển động vật, sản phẩm động vật ở dạng tươi sống (kể cả thịt ướp đông, da,

xương, sừng, móng, sữa, lơng,... ). Động vật mắc bệnh LMLM là các lồi động

vật có móng guốc chẵn như: trâu, bò, lợn, dê, cừu, hưu, nai,...

Theo Tổ chức Thú y thế giới (OIE), đây là bệnh dịch xếp đầu tiên ở bảng A

(gồm các bệnh truyền nhiễm nguy hiểm nhất cho chăn nuôi và hạn chế thương

mại đối với động vật, sản phẩm động vật).

- Triệu chứng bệnh LMLM gia súc.

Thời kỳ ủ bệnh LMLM gia súc thường từ 2 -5 ngày (đối với trâu, bò) và

5- 7 ngày (đối với lợn), nhiều nhất là 21 ngày. Khi phát bệnh gia súc có triệu

chứng: trong 2 - 3 ngày đầu gia súc sốt cao trên 40oC, mệt mỏi, lông dựng, mũi

khô, da nóng; đứng lên, nằm xuống khó khăn, kém ăn; miệng chảy nhiều nước

dãi có bọt; bị viêm dạng mụn nước ở lợi, vành mũi, vành móng, kẽ móng chân,

đầu vú. Khi mụn nước vỡ ra sẽ làm lở, loét ở mồm, móng chân; bệnh nặng có

thể làm long móng, nhất là ở lợn. Con vật đi lại khó khăn, thường đi khập

khiễng, run rẩy. Ngồi ra, đối với bò khi bị bệnh thường hay nâng chân lên rồi

lại hạ chân xuống nhiều lần, ở lợn thì thường hay ở tư thế ngồi hoặc quỳ hai đầu

gối chân trước.

Sau phát bệnh từ 10 đến 15 ngày, con vật có thể khỏi về triệu chứng lâm

sàng, nhưng mầm bệnh vẫn tồn tại trong con vật từ 3-4 tuần (đối với lợn), 4

tháng (đối với dê), 9 tháng đối với cừu, 2-3 năm (đối với trâu, bò) và tiếp tục

thải mầm bệnh ra môi trường làm phát sinh và lây lan dịch bệnh.

- Phòng bệnh lở mồm long móng.

Bệnh LMLM có thể hạn chế được thiệt hại đáng kể bằng các biện pháp

vệ sinh phòng dịch, kiểm dịch động vật, sản phẩm động vật, tiêm phòng vắcxin.

+ Tăng cường cơng tác tun truyền để mọi người hiểu biết về nguyên

nhân, triệu chứng, tác hại và cách phòng, chống bệnh bệnh LMLM.

+ Thực hiện tiêm phòng vắcxin, nhất là vùng khống chế, vùng đệm, vùng

có dịch xảy ra trong vòng 2 năm gần đây. Thực hiện tiêm phòng hai lần trong

SVTH: BHƠNƯỚCH VÊU



Trang 14



một năm, lần thứ nhất cách lần thứ hai 6 tháng, lần thứ nhất nên tiêm vào tháng

3 - 4 trong năm, lần thứ hai nên tiêm vào tháng 9 - 10 trong năm.

+ Vận động mọi người chăn nuôi gia súc cam kết thực hiện “5 không”:

không dấu dịch; không mua gia súc, sản phẩm gia súc mắc bệnh; không bán

chạy gia súc mắc bệnh; không thả rông gia súc, không vận chuyển gia súc bị

bệnh ra khỏi vùng dịch; không vứt xác gia súc bừa bãi ra môi trường.

+ Cách ly triệt để gia súc ốm, không cho chăn thả tập trung; thường xuyên

thực hiện vệ sinh chuồng trại, bãi chăn thả, dụng cụ chăn nuôi, phương tiện vận

chuyển, diệt loài gậm nhấm,... thực hiện tiêu độc, khử trùng khu vực có gia súc

bị ốm, chết. Có thể dùng một trong các hoá chất sau để tiêu độc, khử trùng:

Formol 2%, NaOH 2%, Crezin 5%, nước vôi 20%, vơi bột và một số hố chất

khác được sử dụng theo hướng dẫn của nhà sản xuất, cán bộ thú y.

+ Con giống đưa vào chăn nuôi phải khoẻ mạnh, có nguồn gốc rõ ràng, đã

được tiêm phòng LMLM; trước khi nhập đàn phải được nuôi cách ly 21 ngày.

Thức ăn, nước uống dùng trong chăn nuôi phải đảm bảo tiêu chuẩn vệ sinh thú

y. Người vào thăm quan, nhân viên thú y,... trước khi ra, vào khu vực chăn nuôi

phải phải được vệ sinh, khử trùng và trang bị bảo hộ.

+ Thực hiện kiểm dịch động vật nghiêm ngặt để khỏi bị lây lan theo địa

lý.

+ Khi phát hiện có dịch phải cơng bố dịch theo qui định và thực hiện các

biện pháp hành chính, kỹ thuật kịp thời, triệt để nhằm ngăn chặn sự lây lan.

- Chữa bệnh LMLM.

Vi rút LMLM dễ bị bởi ánh nắng mặt trời, nhiệt độ cao (như nước đun sơi

100oC), các chất có độ toan cao như quả khế chua (pH ³ 3) và các chất kiềm

mạnh như xút (pH ³ 9). Vi rút có thể sống nhiều ngày trong chất thải hữu cơ ở

chuồng ni, các chất có độ kiềm nhẹ (pH từ 7,2 - 7,8); trong thịt ướp đơng vi

rút có thể sống trong nhiều tháng.

Khi bị nhiễm bệnh LMLM, nếu không được điều trị kịp thời, gia súc non

thường bị chết ở tỷ lệ từ 20 – 50%, gia súc trưởng thành thường bị chết từ 2 –

5%, tỷ lệ mắc bệnh trong một đàn thường là 100%. Đến nay, bợợ̀nh LMLM chưa

có thuốc chữa trị đặc hiệu, chỉ có thuốc chữa triệu chứng. Chữa triệu chứng

nhằm làm cho vết thương nhanh chóng lành thành sẹo và khơng gây ra các biến

chứng nguy hiểm làm chết gia súc.

+ Chữa miệng: Dùng các chất sát trùng nhẹ, các loại quả chua như khế,

chanh bóp mền, rưới nước (hoặc bơm xịt nước), trà đi, sát lại ở lưỡi, mặt trong

má, hàm trên, lợi, bỏ bã vào miệng cho con vật nhai. Dùng vải mỏng thấm nước

nói trên xoa vào vùng vết thương 2 – 3 lần/ngày và xoa trong vòng 4 – 5 ngày.

Có thể dùng một trong các chất như: xanh Methylen 1%, thuốc tím 1%, Formol

1%, phèn chua 3%, axit acetic 3% hoặc dùng thuốc mỡ Tetracilin, Penicilin bôi

vào vết thương.

SVTH: BHƠNƯỚCH VÊU



Trang 15



+ Chữa móng: Rửa sạch chân gia súc bằng nước muối, nước lá chát, hoặc

thuốc tím, phèn chua, dấm ăn; sau đó bơi các chất sát trùng hút mủ, nhanh lên da

non lên vùng móng bị bệnh (bột xoan trộn với dầu lạc, diêm sinh). Để đề phòng

ruồi nhặng đẻ trứng vào kẽ móng, có thể dùng Cresin pha lỗng hoặc dùng thuốc

lào, một ít băng phiến đắp vào vết thương.

+ Chữa vú: Rửa mụn loét bằng nước muối ấm, dung dịch axit boric 2-3%

hoặc nước xà phòng, sau đó bơi dầu cá, các thuốc sát trùng vào vết thương.

+ Chăm sóc cho gia súc, đảm bảo giữ chuồng khơ ráo, sạch sẽ, lót chuồng

dày cho gia súc nằm, cho ăn cỏ tươi, cỏ mền; bổ sung cho gia súc ăn cháo khi bị

bệnh nặng.

Cùng với việc điều trị bệnh, cần tiến hành tiêu độc khử trùng chuồng trại,

mơi trường xung quanh khu vực có gia súc bị bệnh và các vật dụng có liên quan

đến gia súc ốm, chết; thực hiện nuôi nhốt, cách ly gia súc,... theo hướng dẫn của

cán bộ thú y. Đối với vùng lần đầu tiên phát hiện có dịch, diện dịch hẹp, số

lượng gia súc mắc bệnh ít hoặc mắc bệnh do vi rút type mới gây ra, thì biện

pháp hiệu quả nhất là tiêu huỷ toàn bộ gia súc nhiễm bệnh, để nhanh chóng dập

tắt ổ dịch.

3. Bệnh dịch tả lợn

Bệnh dịch tả lợn là bệnh truyền nhiễm nguy hiểm ở lợn, bệnh lây lan

mạnh, tỷ lệ chết cao (85% - 100%) và thường ghép với bệnh Tai xanh, Phó

thương hàn, Tụ huyết trùng,.... làm cho bệnh trầm trọng thêm. Bệnh xảy ra

quanh năm nhưng phát ra mạnh vào mùa xuân.

- Nguyên nhân gây bệnh và cách lây lan:

Bệnh dịch tả lợn do vi rút Pestivirut, họ Flavoviridae gây ra. Vi rút có sức

đề kháng cao, có thể tồn tại nhiều năm trong thịt ướp đông, 6 tháng trong thịt

muối, thịt hun khói, trong phân và nền chuồng hàng tháng nhưng rất dễ bị diệt

bởi nhiệt độ cao hoặc hóa chất sát trùng như xút, Han-iodine, Benkocit...

Bệnh lây lan chủ yếu qua đường tiêu hóa hoặc đường hơ hấp trên:

+ Lây lan trực tiếp: do lợn ốm tiếp xúc với lợn khỏe.

+ Lây lan gián tiếp: do thức ăn, nước uống bị nhiễm mầm bệnh hoặc qua các

phương tiện vận chuyển, giầy dép, quần áo của người chăn nuôi, côn trùng làm

lây lan dịch.

- Triệu chứng của bệnh:

Vi rút dịch tả lợn gây bệnh cho tất cả các loài lợn và ở mọi lứa tuổi, đặc biệt

đối với lợn nái thường mang trùng truyền bệnh cho con và làm lây lan dịch. Thời

gian ủ bệnh từ 3 - 8 ngày hoặc có thể dài hơn tùy thuộc vào độc lực của vi rút và

sức đề kháng của con vật. Bệnh có thể xuất hiện ở 3 thể bệnh sau:

+ Thể quá cấp tính:

SVTH: BHƠNƯỚCH VÊU



Trang 16



 Thể này thường thấy ở lợn con, bệnh xuất hiện đột ngột, nhiều trường

hợp lợn con chết mà không biểu hiện triệu chứng lâm sàng.

 Lợn đang khỏe bỗng nhiên ủ rũ, bỏ ăn, sốt cao 41 - 430C.

 Ở chỗ da mỏng như: bẹn, bụng có những nốt đỏ sau chuyển màu tím.

 Bệnh tiến triển 1 - 2 ngày con vật dẫy dụa rồi chết, tỷ lệ chết có thể tới 100%.

+ Thể cấp tính:

 Lợn bệnh chậm chạp, nằm đè lên nhau, kém ăn rồi bỏ ăn, sốt cao 41 42 C kéo dài đến lúc gần chết.

0



 Mắt viêm đỏ có dử màu xám hay nâu đen.

 Lợn ho, khó thở, ngồi như chó ngồi để thở, chảy nước mũi.

 Lợn nôn mửa, lúc đầu phân táo sau tiêu chảy nặng có khi ra cả máu tươi,

phân lỏng màu vàng xám có mùi tanh khắm đặc trưng.

 Niêm mạc miệng, mơi, chân răng, gốc lưỡi có những nốt lt phủ bựa

màu vàng hay vàng xám.

 Chỗ da mỏng ở bẹn, tai, mõm, bụng có những nốt xuất huyết nhỏ bằng

đầu đinh ghim (như muỗi đốt) màu đỏ sau chuyển màu tím.

 Lợn có biểu hiện thần kinh, có những cơn co giật, lợn đi chệnh choạng,

đầu vẹo, bại liệt nhất là bại liệt 2 chân sau.

 Đối với lợn nái chửa thường xảy thai, chết lưu thai hoặc lợn con sinh ra

yếu, chết yểu.

 Bệnh tiến triển 8 - 15 ngày làm vật gầy yếu rồi chết.

+ Thể mãn tính:

 Lợn mắc bệnh ở thể cấp tính lâu ngày khơng khỏi chuyển sang thể mãn

tính, thường thấy ở lợn 2 - 3 tháng tuổi.

 Lợn lúc đi táo lúc tiêu chảy.

 Lợn ho, khó thở.

 Các nốt xuất huyết ở bẹn, tai, mũi, bụng, sườn, lưng chuyển từ màu đỏ

sang màu tím sau đó da bị tróc từng mảng như bánh đa.

 Bệnh tiến triển 1 - 2 tháng làm lợn gầy yếu, chết do kiệt sức.

+ Bệnh tích:

 Chỗ da mỏng như bẹn, chỏm tai, mõm, bụng có những nốt xuất huyết đỏ

hoặc tím tràn lan.

SVTH: BHƠNƯỚCH VÊU



Trang 17



Hạch lâm ba xuất huyết, vỏ thận xuất huyết lấm tấm, niêm mạc bàng

quang xuất huyết.

 Lách xuất huyết, nhồi huyết, rìa lách có hình răng cưa (bệnh tích đặc trưng).

 Viêm ruột, ruột có những nốt lt hình tròn, van hồi manh tràng có nốt

lt hình cúc áo

- Phòng và trị bệnh:

+ Phòng bệnh:

* Về chuồng trại:

 Chuồng trại cao ráo, chắc chắn, tránh nắng, tránh gió lùa, đảm bảo ấm về

mùa Đơng và thống mát về mùa Hè.

 Nền chuồng, tường chuồng phải phẳng để dễ quét dọn, cọ rửa, khơng

đọng nước; trước cửa chuồng có hố sát trùng. Hạn chế người ngồi vào khu vực

chăn ni.

 Có khu vực riêng để nuôi nhốt cách ly động vật mới mua về trước khi

nhập đàn hoặc con vật ốm để theo dõi, điều trị.

* Về con giống:

 Con giống nhập vào ni phải khoẻ mạnh, có nguồn gốc rõ ràng, xuất

phát từ vùng an toàn dịch, được cơ quan thú y cấp giấy chứng nhận kiểm dịch,

được nuôi cách ly để theo dõi 10 - 15 ngày.

 Khai báo với trưởng thơn xóm và thú y để quản lý và thực hiện tiêm

phòng đầy đủ các loại vắc xin theo quy định.

* Về chăm sóc, ni dưỡng:

 Cho vật ni ăn, uống đầy đủ, đúng khẩu phần đảm bảo chất lượng.

 Thường xuyên bổ sung vitamin, điện giải, men tiêu hố để nâng cao sức

đề kháng cho đàn vật ni.

* Về vệ sinh, tiêu độc, khử trùng:

 Hàng ngày phải quét dọn chuồng nuôi, thu gom phân, rác để ủ, đốt hoặc chôn.

 Định kỳ tiêu độc, khử trùng chuồng trại, dụng cụ chăn nuôi bằng vôi bột

hoặc các loại hóa chất sát trùng như Benkocid, Han-iodine, Virkon,... khi khơng

có dịch thực hiện 1 lần/tuần, khi có dịch 2 lần/tuần.

 Sau mỗi đợt nuôi phải tiến hành tổng vệ sinh chuồng trại, rửa nền chuồng

bằng nước sạch, để khô, sau đó phun thuốc sát trùng tồn bộ tường, trần, nền

chuồng. Dùng nước vôi 10% quét nền và tường chuồng. Để trống chuồng ít nhất

2 tuần trước khi nhập ni lứa mới.

* Tiêm phòng vắc xin:

SVTH: BHƠNƯỚCH VÊU



Trang 18



Sử dụng vắc xin Dịch tả lợn nhược độc đông khô chủng C cho tất cả các

loại lợn từ 45 ngày tuổi trở lên, trường hợp tiêm sớm hơn (21 - 30 ngày tuổi)

phải tiêm nhắc lại mũi 2 sau mũi 1 từ 3 - 4 tuần, sau đó cứ 6 tháng tiêm nhắc lại.

* Khai báo dịch:

Người chăn nuôi phải thường xuyên theo dõi quan sát đàn vật ni, khi

thấy lợn có hiện tượng ốm (sốt cao, bỏ ăn, mắt có dử, chỗ da mỏng có những nốt

xuất huyết như muỗi đốt) phải nhanh chóng cách ly những con ốm ra khu vực

riêng; không bán chạy, không vứt xác lợn chết ra môi trường, không giết mổ;

báo ngay cho thú y hoặc chính quyền địa phương để được hướng dẫn biện pháp

xử lý thích hợp.

+ Điều trị bệnh:

Bệnh dịch tả lợn do vi rút gây ra hiện nay chưa có thuốc điều trị đặc hiệu.

4. Bệnh tiêu chảy ở lợn.

- Nguyên nhân : Rất phức tạp do nhiều yếu tố tạo nên:

+ Nguyên nhân từ heo mẹ:



Trong thời gian mang thai: bị bệnh suy dinh dưỡng, sốt bất kỳ. Bệnh

truyền nhiễm: dịch tả, phó thương hàn, Aujeszky, leptospirosis, brucellosis,

PRRS…



Trong thời gian ni con: do MMA, Sốt hậu sản, Sót nhau …Thay đổi

thức ăn.

+ Nguyên nhân từ heo con:





Thể chất heo con yếu đuối: Xuất phát từ bệnh của mẹ, từ di truyền.





Sinh lý và tập tính của heo con: Bộ máy tiêu hố chưa hồn thiện,

thích nằm với mẹ, thích nước bẩn và làm bẩn nước.

+ Nguyên nhân từ ngoại môi:

 Môi trường không phù hợp với yêu cầu của heo con: lạnh, ẩm, dơ bẩn.

 Chăm sóc khơng đúng quy trình: Thiếu sữa đầu, thay đổi thức ăn đột

ngột, bị các stress không cần thiết, thiếu sắt, nước sạch, viatmin A-D.

+ Nguyên nhân trực tiếp:

 Các virus: Rotavirus A.

 Các vi khuẩn: \

 Pathogenic E. coli, Salmonella, Proteus, Enterobacter…; Staphylococcus

aureus, Streptococcus faecalis; Clostridium perfringens type C.

 Một số giun và loài khác: Ascaris, Trichocephalus; Candid

SVTH: BHƠNƯỚCH VÊU



Trang 19



 Triệu chứng

+ Tiêu chảy lan rộng trên đàn heo trong trại.

+ Dấu hiệu rõ nét trên heo con theo mẹ:

 Lười bú

 Phân lỏng, tanh, màu vàng, có sữa khơng tiêu

 Ĩi mữa

 Sụt cân nhanh do mất nước, heo con thích nằm lên bụng mẹ

 Can thiệp bằng các thuốc chống tiêu chảy không mang lại hiệu quả

5. Bệnh viêm phổi

- Nguyên nhân: Do Mycoplasma hyopneumoniae gây ra.

- Phương thức truyền lây:

+ Xâm nhập chủ yếu qua đường hô hấp. Do điều kiện chăn nuôi kém (vệ

sinh chuồng trại, thời tiết thay đổi…), do sức đề kháng của heo giảm, kế phát

với các bệnh đường hô hấp khác như tụ huyết trùng sẽ làm bệnh nặng hơn.

+ Bệnh thường lây lan do nhốt chung giữa con nhiễm bệnh và heo con mắc bệnh

do bú sữa của heo mẹ bị bệnh.

- Triệu chứng: Thời gian nung bệnh từ 1-4 tuần.

+ Vật kém ăn, lười vận động, thường nằm chụm vào nhau. Heo gầy, da nhợt

nhạt, lơng xù, chậm lớn. Bình thường nghỉ ngơi heo không ho chỉ khi xua quấy

rầy heo mới ho (ho vào lúc sáng sớm hay chiều tối), nhiệt độ cơ thể bình thường

hay tăng nhẹ.

+ Thường thấy ở thể mãn tính, bệnh diễn biến trong vài tháng.

+ Bệnh trở nên nặng hơn khi nhiễm bệnh kế phát khác như viêm phổi do

Pasteurella, hoặc Haemophillus, Actinobacillus.

- Điều trị:

+ Dùng dung dịch vô trùng Bio_Tylo200 hoặc Bio genta_tylosin đặc trị

nhiễm trùng hô hấp.

+ Liều lượng và cách dùng: 1ml/20kg P .

+ Đường cấp thuốc: tiêm bắp ngày 1 lần trong 3 – 4 ngày.

6. Bệnh viêm tử cung

- Nguyên nhân:

- Cơ quan sinh dục ngoài bẩn, do heo đực bị viêm niệu quản và dương vật

khi nhảy trực tiếp. Bệnh xảy ra do dụng cụ thụ tinh nhân tạo cứng gây xây xát,

hoặc không sạch đã đưa các vi khuẩn gây nhiễm vào bộ phận sinh dục. Bệnh

SVTH: BHƠNƯỚCH VÊU



Trang 20



cũng có thể do can thiệp khi heo đẻ khó và nhiễm trùng từ chuồng trại kém vệ

sinh. Tỷ lệ mắc bệnh sẽ tăng lên nếu trong khẩu phần thức ăn bị thiếu vitamin

A,D,E gây khô niêm mạc, dễ xây xước, nhiễm khuẩn.

- Triệu chứng:

+ Bệnh thể hiện ở dạng điển hình, heo có biểu hiện mệt mỏi, sốt, hay nằm

úp bầu vú, bỏ ăn, ăn kém, âm hộ sưng tấy đỏ, dịch xuất tiết từ âm đạo chảy ra

nhày trắng đục nếu nặng dịch có máu. Heo đứng nằm, bứt rứt không yên, heo

con thường thiếu sữa, kêu nhiều.

+ Trong trường hợp bệnh nhẹ, heo không sốt, âm hộ không sưng đỏ nhưng

vẫn có dịch nhầy, trắng đục tiết ra từ âm đạo dịch nhầy thường không liên tục

mà chỉ chảy ra từng đợt từ vài ngày đến một tuần. Heo nái thường khơng đậu

thai hoặc khi đã có thai sẽ bị tiêu đi vì quá trình viêm nhiễm từ niêm mạc âm

đạo, tử cung lan sang thai heo.

- Điều trị:

+ Dùng ống thụ tinh nhân tạo thụt rửa âm đạo và tử cung bằng dung dịch

nước muối loãng ( như nước canh) hoặc thuốc tím 1/1000, ngày một lần trong 2

–3 ngày.

+ Chú ý: trong trường hợp bị viêm nặng dịch chảy ra có máu khơng được

thụt rửa, tránh trường hợp viêm ngược và tắc ống dẫn trứng. Trong trường hợp

này có thể dùng PG-F2α hoặc oxytoxin tiêm, giúpđẩydịchviêmrangồi.

+ Tiêm BMG FEMIN hoặc GLUCA-MIN để hạ sức hồi sức ,hạ sốt, tiêu viêm

nâng cao sức đề kháng.

+ Tiêm CEPTYL-NEW hoặc AMPICOLIS T kháng viêm, diệt vi khuẩn gây

bệnh.

VI: Tìm hiểu về giống và công tác giống, thức ăn chăn nuôi

1. Giống và công tác giống.

Về vấn đề con giống thì trại heo Hùng Vân – Tiên Phong – Tiên Phước –

Quảng Nam nhập giống từ Công Ty CP Việt Nam bao gồm nái hậu bị và nọc:

+ Giống heo nái: Landrac và Yorshire

+ Giống heo nọc: Droc và Pidu

a. Lợn landrac

- Đặc điểm ngoại hình:

+ Lợn landrac có nguồn gốc từ Đan Mạch

+ Toàn thân màu trắng,da trắng hồng, đầu nhỏ, mõm dài, tai cụp về phia

trước và trùm hết đầu mắt, có phổi, vai hẹp, thân hình tròn

- Khả năng sản xuất

SVTH: BHƠNƯỚCH VÊU



Trang 21



+ Khối lượng sơ sinh 1.2 – 1.3 kg/con

+ Lợn đực trưởng thành từ 270-330 kg, con cái 200-300kg/con.

+ Bát đầu phối giống từ 9 đến 10 tháng tuổi, mổi năm đẻ 1-2,4 lứa, mỗi lứa

đẻ từ 10-12 con.

+ Tăng trọng nhanh 6 tháng tuổi đạt 100kg/con tỷ lệ nạc 54-56%.

b. Lợn Yorshire

- Đặc điểm ngoại hình.

+ Lợn có lơng da màu trắng, tai to đứng, trán rộng nhìn ngang có hình chữ

nhật, mình dài, mông vai nở, lưng thẳng bụng thon.

- Khả năng sản xuất:

+Lợn đực: 250kg-320kg/con, con cái 200-250kg/con bắtđầu phối giống 9-10

tháng tuổi, mỗi năm đẻ 2,2 -2,4 lứa, mỗi lứa đẻ từ 10-13 con tỷ lệ nạc 53-54%.

c. Lợn Duroc (là giống lợn của Mỹ)

- Đặc điểm ngoại hình:

+ Màu lơng hoongfhoawcj màu đỏ nâu 4 móng chân mõm đen. Tai rủ

về phía trước, con đực nặng 300-350 kg/con thời gian lấy tinh là 7-8 tháng.

d. Lợn Pidu (là giống lai Petrain và Duroc)

- Đặc điểm ngoại hình: lơng màu vàng nâu, lợn đực nặng từ 300-340 kg/con,

thời gian lấy tinh từ 7-8 tháng.

Tóm lại, với múc đích ni lợn thịt có năng suất, chất lượng tốt tại trại chăn

ni lợn cơng nghiệp thường sử dụng nhóm lợn F1.

Duroc x Landrac và Yorshire  Bidu x Landrac và Yorshire  F1.



2. Thức ăn chăn ni

Chương trình cám cho nái hậu bị.

Mã Cám



Loại Heo



Khẩu phần

kg/con/ngày



567s



Heo nọc



2,5



9667



Heo hậu bị



Tự do



SVTH: BHƠNƯỚCH VÊU



Trang 22



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

-Khả năng miễn dịch, lợn sơ sinh trong cơ thể chưa có kháng thể, lượng kháng thể chủ yếu ở sữa đầu tiên nên cần cho lợn con bú sớm sữa đầu do vậy lợn con có khả năng miễn dịch hoàn toàn dựa vào sự hấp thụ của cơ thể mẹ.

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×