Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Hiện nay các trung tâm nghiên cứu thực hiện nhiều phương pháp nhân giống, các phép lai kinh tế thế nữa là hội nhập nhiều giống lợn có năng suất và chất lượng tốt không ngừng cải tiến tầm vóc cũng như mang lại hiệu quả kinh tế cao.

Hiện nay các trung tâm nghiên cứu thực hiện nhiều phương pháp nhân giống, các phép lai kinh tế thế nữa là hội nhập nhiều giống lợn có năng suất và chất lượng tốt không ngừng cải tiến tầm vóc cũng như mang lại hiệu quả kinh tế cao.

Tải bản đầy đủ - 0trang

Cùng với mở rộng, phát triển các mơ hình, loại hình chăn ni, hiện các

trại giống, trại sản xuất trên địa bàn tỉnh và công tác nghiên cứu, nhân rộng các

giống ni có chất lượng, chống chịu với dịch bệnh cũng đang được tiến hành.

Nhờ vậy, năng suất, chất lượng vật nuôi và giống nuôi của tỉnh đã từng bước

được cải thiện, nâng cao, đáp ứng được nhu cầu chăn ni của người dân trên

địa bàn.

Nhưng vẫn còn những hạn chế cần khắc phục

Điều đáng quan tâm là mặc dù quy mô và tổng đàn gia súc, gia cầm của

tỉnh đều tăng; bước đầu đã xuất hiện nhiều mơ hình ni, giống ni có hiệu

quả. Song phương thức chăn ni truyền thống hộ gia đình vẫn chiếm tỷ lệ khá

lớn, đó là chăn ni mang nặng tính quảng canh, chủ yếu tận dụng các phụ

phẩm nơng nghiệp. Chính phương thức nuôi này đã khiến cho việc áp dụng các

tiến bộ khoa học kỹ thuật vào chăn nuôi gặp rất nhiều khó khăn, nhất là trong

cơng tác giống, chăm sóc, ni dưỡng và phòng chống dịch bệnh. Bên cạnh đó,

cơng tác phòng bệnh cho vật ni chưa được người dân chú trọng. Ngồi ra, hầu

hết các chủ vật ni chưa tn thủ đầy đủ các quy trình phòng chống dịch bệnh

như khai báo dịch bệnh, vệ sinh chuồng trại hoặc sau khi xử lý mầm bệnh, quy

trình tiêu độc, khử trùng mầm bệnh không được thực hiện triệt để, thường

xuyên; chất thải, nước thải chảy ra môi trường không được xử lý triệt để làm cho

mầm bệnh tồn tại, phát tán và lưu hành trong mơi trường.

Ngồi các lý do nêu trên, hiện nay do chưa có vắc xin phòng bệnh tai

xanh ở heo; việc vận chuyển, buôn bán heo và các sản phẩm từ heo trong toàn

tỉnh và các tỉnh lân cận tăng mạnh. Đặc biệt, khơng ít địa bàn cán bộ thú y hoạt

động cầm chừng, khi có dịch bệnh công tác khai báo, tuyên truyền để bà con

hiểu, tự giác tiêu hủy chậm... từ đó dịch bệnh trên đàn gia súc, gia cầm dễ lây

lan trên diện rộng, quy trình vận chuyển, bn bán gia súc, gia cầm giữa các địa

phương chưa được kiểm soát chặt chẽ đang là các tác nhân gây lây lan mầm

bệnh trên diện rộng, khó kiểm sốt, ảnh hưởng đến chất lượng chăn nuôi của

người người dân.

Cần thực hiện một số giải pháp cơ bản

Để Quảng Nam có được một nền chăn ni ổn định, hiệu quả hơn, trước

mắt cần đẩy mạnh công tác giống và nâng cao chất lượng giống; tăng cường

công tác vệ sinh phòng bệnh, nhất là trong cơng tác tiêm phòng và vệ sinh

chuồng trại, thực hiện kiểm sốt giết mổ gắn với kiểm dịch động vật tại các địa

bàn dân cư, các chợ đầu mối, trung tâm mua bán, giết mổ gia súc, gia cầm và

các tuyến đường, cửa khẩu bn bán với bên ngồi. Riêng đối với các hộ chăn

nuôi, bên cạnh việc xây dựng chuồng trại kiên cố, quan tâm xử lý tốt vệ sinh

chuồng trại, cần chú trọng công tác phối giống, mạnh dạn đưa những vật ni có

chất lượng cao vào ni, ứng dụng hiệu quả kỹ thuật phối giống; chính quyền và

ngành chức năng địa phương cần hướng dẫn, hỗ trợ nông dân địa phương hình



SVTH: BHƠNƯỚCH VÊU



Trang 5



thành một số vùng chuyên canh phục vụ chăn nuôi như phát triển những cánh

đồng cỏ, những bãi chăn thả; mở rộng mạng lưới thú y cơ sở....

Về lâu dài, đi đôi với chiến lược quy hoạch, phát triển ngành chăn nuôi

theo hướng hiện đại, bền vững, tỉnh cần ban hành hành nhiều chính sách hỗ trợ

về vốn, kỹ thuật, con giống nhằm giúp nông dân tập trung đầu tư chăn ni,

trong đó chăn ni một số loại vật ni vừa có giá trị hàng hóa, vừa phù hợp với

điều kiện khí hậu, thổ nhưỡng của địa phương, đồng thời khuyến khích các hộ

chăn ni theo mơ hình trang trại có quy mơ lớn được xem là hướng phát triển

chính. Làm được điều này, Quảng Nam mới tạo được một môi trường chăn nuôi

bền vững, ổn định cho người chăn ni, góp phần nâng cao tỷ trọng của ngành

chăn nuôi trong tỷ trọng tăng trưởng kinh tế chung của tỉnh..

III. Vấn đề dinh dưỡng thức ăn đối với lợn

1. Thức ăn chăn nuôi:

Giá trị sinh vật học của protein phụ thuộc vào loại thức ăn (protein động

vật cao hơn thực vật) vào loại gia súc sử dụng thức ăn, vào phương pháp chế

biến sử dụng thức ăn. Có hai biện pháp chính nhằm nâng cao giá trị sinh vật học

của protein trong thức ăn.

- Thức ăn đậm đặc

Thức ăn đậm đặc là loại thức ăn đã được chế biến sẵn, có ít nhất từ ba

nguồn nguyên liệu, phối hợp theo những công thức nhất định, đáp ứng được nhu

cầu dinh dưỡng cho từng đối tượng vật nuôi, độ tuổi, năng suất sản phẩm khác

nhau.

Hiên nay thức ăn đậm đặc đã trở nên phổ biến không chỉ trong chăn nuôi

gia súc, gia cầm, mà cả cho thuỷ sản, động vật quý hiếm khác.

* Đặc điểm của thức ăn đậm đặc là: tổng hợp từ nhiều nguồn nguyên liệu

và đều qua chế biến nên hàm lượng dinh dưỡng cao, dễ tiêu hoá, hấp thu, hợp vệ

sinh và tiện lợi trong bảo quản, vận chuyển và sử dụng. Sản xuất công nghiệp

nên giá thành hạ. Hiệu quả chăn nuôi cao khi sử dụng hợp lý thức ăn đậm đặc.

* Phân loại thức ăn đậm đặc. Dựa vào thành phần thức ăn đậm đặc mà

phân ra các loại.

Thức ăn đậm đặc. Thành phần chính là thức ăn tinh, có trộn thêmkhống,

vitamin, kháng sinh và các chất có hoạt tính sinh học khác. Khi sử dụng trộn

thêm với thức ăn thơ, xanh, củ quả, nhiều nước để có khẩu phần hoàn chỉnh.

Thức ăn siêu đậm đặc. Thành phần gồm đầy đủ các yếu tố dinh dưỡng

theo nhu cầu của đối tượng vật nuôi. Khi sử dụng chỉ cần cho vật ni ăn theo

hướng dẫn trên bao bì và uống đủ nước.

Thức ăn đậm đặc bổ sung là hỗn hợp nhằm bổ sung khống, vitamin,

kháng sinh, kích tố, hoặc các hoạt chất sinh học khác. Khi sử dụng chỉ bổ sung

với lượng nhỏ (theo hướng dẫn) để hiệu quả sử dụng khẩu phần tăng lên.

SVTH: BHƠNƯỚCH VÊU



Trang 6



Trên cơ sở hiểu biết cơ bản về các loại thức ăn trên đây, người chăn nuôi sẽ

lựa chọn và chế biến, bảo quản, sử dụng cho phù hợp với từng đối tượng vật

nuôi và điều kiện chăn nuôi cụ thể.

2. Tác dụng thành phần dinh dưỡng trong thức ăn

Tác dụng của protein

Protein là thành phần quan trọng cấu tạo nên các tổ chức; giữ chức năng

sinh học quan trọng trong các enzyme trao đổi chất, các hormon, các chất kháng

thể.

Thức ăn protein sau khi được tiêu hóa, hấp thu dưới dạng các acid amin.

Các acid amin sẽ theo máu về gan tuần hoàn tới các mơ bào.

Ngồi các acid amin có nguồn gốc từ thức ăn, máu còn tiếp nhận các acid

amin làsản phẩm của quá trình phân giải protein trong các tổ chức.

Các acid amin tham gia vào q trình chuyển hóa trong cơ thể

Cơ thể động vật khác với cơ thể thực vật là nó khơng tự tổng hợp được

tồn bộ các acid amin. Những acid amin cơ thể không tự tổng hợp được mà phải

lấy từ nguồn thức ăn bên ngồi vào gọi là các acid amin khơng thay thế (cần

thiết, thiết yếu). Tùy theo loại gia súc, giai đoạn sinh trưởng, phát dục và mối

quan hệ chuyển hóa lẫn nhau mà số lượng các acid amin không thay thế ở các

loại gia súc có khác nhau.

Các acid amin khơng thay thế ở gia súc, gia cầm



Acid amin



Lợn







Lysine



+



+



Methionine



+



+



Tryptophan



+



+



Valine



+



+



Leucine



+



+



Isoleucine



+



+



Threonine



+



+



Phenylalanine



+



+



Histidine



+



+



Arginine



+



Ngoài ra, đối với gà, các acid amin glycine, glutamic, proline, tyrosine,

cystine là những acid amin không thay thế trong những điều kiện nhất định.



SVTH: BHƠNƯỚCH VÊU



Trang 7



So với nhu cầu của gia súc, thức ăn thường thiếu lysine, methionine và

tryptophan. Vấn đề bổ sung các acid amin không thay thế cho gia súc bằng con

đường thức ăn là vấn đề rất cần thiết, nếu thêm các acid amin còn thiếu vào khẩu

phần thức ăn gia súc thì nhu cầu protein của gia súc sẽ giảm thấp hơn so với khi

chưa bổ sung. Giữa protein động vật và protein thực vật có thành phần các acid

amin không thay thế khác nhau.

Thành phần acid amin không thay thế trong một số loại thức ăn

Acid amin

Thức ăn



LeuHisti- Leu- Trypto- PhenylMethi- ThreoIzoleucine

Valine

dine cine phan alanine

Onine nine

cine



Lúa mì



2,1



2,7



1,2



5,7



4,5



2,5



3,3



6,8



3,6



Ngơ



2,2



2,0



0,8



5,0



5,0



3,1



3,7



22,0



4,0



Ðỗ tương



2,3



5,8



1,2



5,7



4,2



2,0



4,0



6,6



6,7



Lạc



2,1



3,0



1,0



5,4



8,0



1,2



1,5



7,0



3,0



Sữa bò



2,6



7,5



1,6



5,7



8,4



3,4



4,5



11,3



8,5



Trứng gà



2,1



7,2



1,5



6,3



7,3



4,1



4,9



9,2



8,0



Thực hiện sự cân đối các acid amin trong khẩu phần là biện pháp giảm

thấp mức tiêu hao protein có hiệu quả nhất trong chăn ni hiện nay. Ðể thực

hiện sự cân đối này, trong chăn nuôi lợn và gia cầm người ta sử dụng nhiều

protein có nguồn gốc động vật hoặc bổ sung các acid amin không thay thế. Các

acid amin này tổng hợp bằng con đường hóa học hoặc vi sinh vật. Để đánh giá

chất lượng của protein trong thức ăn, người ta dùng chỉ tiêu giá trị sinh vật học

của protein.

Giá trị sinh vật học của protein phụ thuộc vào loại thức ăn (protein động

vật cao hơn thực vật) vào loại gia súc sử dụng thức ăn, vào phương pháp chế

biến sử dụng thức ăn. Có hai biện pháp chính nhằm nâng cao giá trị sinh vật học

của protein trong thức ăn.

Hỗn hợp các loại thức ăn với nhau. Thí dụ: trong thí nghiệm với chuột,

thức ăn khơng hỗn hợp thì protein ngơ có giá trị sinh vật học 60%, sữa là 85%

nhưng khi hỗn hợp ba phần ngô với 1 phần sữa, giá trị sinh vật học của protein

hỗn hợp là 76%.

Nguyên nhân của sự tăng này là sự bổ sung cho nhau giữa các acid amin

khơng thay thế trong hỗn hợp có lợi cho quá trình trao đổi, sử dụng acid amin

trong cơ thể.

Xử lý nhiệt: chẳng hạn hạt đậu tương được xử lý 105 oC trong 90 phút, giá

trị sinh vật học của nó tăng hai lần so với khi còn sống.

SVTH: BHƠNƯỚCH VÊU



Trang 8



Nguyên nhân của sự tăng này là do nhiệt độ đã phá hủy chất ức chế men

tripxin có trong đậu tương giải phóng methionin trong các liên kết phức tạp, vì

vậy cơ thể sử dụng protein và acid amin tốt hơn.

Tuy vậy, nhiệt độ cao có thể làm các acid amin có trong protein liên kết

với các hợp chất khó bị phân giải, làm giảm tỷ lệ tiêu hóa, giảm giá trị sinh vật

học của protein. Do đó biện pháp xử lý nhiệt thường được áp dụng đối với hạt

họ đậu nhưng với giới hạn nhiệt độ và thời gian nhất định.

Tác dụng của lipid

Lipid là chất dinh dưỡng cần thiết đối với cơ thể vì:

- Là thành phần quan trọng trong cấu trúc tế bào.

- Là chất oxy hóa cho nhiệt năng lớn nhất: gấp 2,25 lần so với glucid và

protein.

- Là dung mơi hòa tan một số vitamin A, D, E, K nhờ đó nó xúc tiến quá

trình hấp thu các vitamin này trong cơ thể.

Trong chăn ni, ít thấy trường hợp gia súc mắc bệnh thiếu mỡ, nhưng

cũng như các acid amin, cơ thể không tự tổng hợp được một số acid béo nhất

định như acid alinoleic, đây là loại acid béo có nhiều trong cỏ xanh, khô, cao

lương, ngô,...

Trong cơ thể, nguồn dự trữ năng lượng lớn nhất cũng là lipid, nó được

tích lũy trong các mô ở dưới da hoặc trong xoang bụng. Mỡ lồi nhai lại mang

nhiều acid béo bão hòa hơn ngựa. Cho lợn ăn nhiều thức ăn bột, đường, mỡ lợn

sẽ chứa nhiều acid béo bão hòa nhưng nếu cho ăn nhiều thức ăn chứa nhiều acid

béo chưa bão hòa thì hàm lượng các acid béo này sẽ tăng lên trong mỡ lợn, làm

tăng chỉ số iôt của mỡ, làm mỡ nhão, dễ bị ôi hỏng khi bảo quản.

IV.Đặc điểm sinh lý của lợn

1.Một số đặc điểm sinh học và sản xuất của lợn

a. Khả năng tăng trưởng:

- Tốc độ sinh trưởng của lợn được xếp vào hàng đầu trong số các loại vật

nuôi, qua nghiên cứu người ta thấy rằng dù bất kỳ giống lợn nào chỉ sau 2 tháng

tuổi khối lượng đều gấp 10 lần so với sơ sinh và sau 10 tháng có thể gấp 100

lần.

b. Sản xuất thịt nhanh và phẩm chất thịt tốt

- Nuôi lợn để lấy thịt phục vụ cho nhu cầu tiêu dùng của con người là mục

đích chính của con người. Do thịt có dinh dưỡng cao và khả năng thịt lớn giá

thành hợp lý hơn các lồi vật ni khác, không chỉ ở nước ta mà các nước trên

thế giới đều có.



SVTH: BHƠNƯỚCH VÊU



Trang 9



+ Khả năng sản xuất của lợn được đánh giá qua 2 chỉ tiêu là tỷ lệ thịt xẻ

và tỷ lệ thịt nạc, các giống lợn ngoại đều có tỷ lệ thịt xẻ trên 70%, tỷ lệ thịt nạc

trên 50%.

+ Thịt lợn có tỷ lệ protein đạt 15%, khả năng hợp khẩu vị nhiều người dể

ché biến và bảo quản, là sản phẩm có giá trị và nguồn nguyên liệu dể cho nhiều

nganh chế biến thực phẩm.

+ Lợn là lồi dể ni, tính thích nghi cao.

-Lợn thuộc lồi động vật ăn tạp nên có thể vận dụng được nhiều thức ăn từ

các nguyên liệu phụ phẩm nơng nghiệp để chăn ni lợn.

-Lợn dể thích nghi với vùng có khí hậu lạnh do có lớp mỡ dày tích lũy dưới

da, còn ở vùng nhiệt độ cao thì tăng cường hô hấp để giải nhiệt nhằm giúp cơ

thể ổn định thân nhiệt, vì vậy lợn có thể thích nghi ở nhiều nơi trên thế giới.

-Khả năng sản xuất cao : lợn là loài động vật đa thai, mắn đẻ, mỗi năm lợn

nái có thể đẻ khoảng 1.9 – 2 lứa / năm. Nếu ni lợn theo hình thức cơng nghiệp

thì khoảng 2.4 lứa /năm, trung bình mỗi lứa đạt từ 10-12 con, mỗi lợn nái tốt có

thể sử dụng trong vòng 5 – 6 năm và có thể sản xuất 120 – 150 lợn con.

2. Đặc điểm sinh lý của lợn nái.

- Sự thành thục về tính mỗi giống lợn khác nhau , thường thì các giống lợn

nội thành thục về tính sớm hơn lợn ngoại khoảng 5 – 6 tháng tuổi,khi đạt khối

lượng 30 – 40 kg, lợn ngoại khoảng 7 – 8 tháng tuổi đạt khoảng 80 – 90 kg. Lúc

này bộ máy sinh sản đã phát triển hồn thiện, buồng trứng đã có tế bào trứng

chín và rụng, lợn bắt đầu có triệu chứng động dục.Lợn cái động dục lần đầu thì

khó đậu, vì vậy cần phối gióng cho lợn vào chu kỳ động dục lần 2 và lần 3 là

thích hợp nhất, lúc này lợn đã phát triển hồn thiện hơn về tầm vóc.

- Các nhân tố ảnh hưởng đến sự thành thục về tính:

+ Giống : các giống nội thành thục hơn giống ngoại

+ Dinh dưỡng : lợn được nuôi dưỡng với khẩu phần ăn thích hợp đầy đủ thì

thành thục hơn giống lợn nuôi dưỡng với chế độ nuôi dưỡng thấp hơn.

Chu kỳ động dục: gia súc cái tuổi thành thục đều xuất hiện, lợn cái động dục

có tính chu kỳ, chu kỳ động dục là khoảng thời gian giữa 2 lần động dục. Cường

độ và thời gian trung bình là 21 ngày, biến động từ 18 – 25 ngày, với lợn lai lợn

ngoại thì thời gian động dục kéo dài khoảng 45 ngày. Thời gian động dục được

chia làm 3 giai đoạn:

+ Giai đoạn trước chịu đực: bắt đầu từ khi lợn có triệu chứng biểu hiện lần

động dục đầu tiên, thời gian kéo dài khoảng 24 – 36 giờ. Lợn có biểu hiện hưng

phấn mạnh, phá chuồng,bỏ ăn, âm hộ sưng có dịch chảy ra trong suốt.

+ Giai đoạn chịu đực: là giai đoạn mê ì, khi co người hoặc lợn đực thìtính

đến gần thì lợn xoay mơng lại ở tư thế chuẩn bị giao phối, âm hộ lúc này giảm

SVTH: BHƠNƯỚCH VÊU



Trang 10



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Hiện nay các trung tâm nghiên cứu thực hiện nhiều phương pháp nhân giống, các phép lai kinh tế thế nữa là hội nhập nhiều giống lợn có năng suất và chất lượng tốt không ngừng cải tiến tầm vóc cũng như mang lại hiệu quả kinh tế cao.

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×