Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Hình 3.2: Trang trại tổng hợp trên địa bàn Huyện

Hình 3.2: Trang trại tổng hợp trên địa bàn Huyện

Tải bản đầy đủ - 0trang

49



chức tín dụng phi chính thống. Trong 30 trang trại điều tra chỉ có 7 trang trại

đƣợc vay vốn từ Ngân hàng Chính sách xã hội với lãi suất ƣu đãi là

0,65%/tháng, nhƣng lƣợng vốn vay là không lớn (khoảng 30 – 50 triệu đồng).

d) Tiếp cận khoa học kĩ thuật công nghệ

Qua nghiên cứu, không phải tất cả các trang trại điều tra đều tham gia

các buổi tập huấn kỹ thuật và chủ yếu tập trung vào các lớp tập huấn về kỹ

thuật chăn ni, thú y vì đây là loại hình đem lại doanh thu và thu nhập lớn

trong trang trại. Tuy nhiên, nhiều chủ trang trại cho biết các lớp tập huấn này

đa phần khơng có tính thực tế, chủ yếu là lý thuyết, khó áp dụng vào sản xuất

của trang trại. Khi đi hội thảo về kiến thức chăn nuôi hoặc kiến thức thú y do

các công ty thức ăn chăn nuôi hoặc công ty thuốc thú y tổ chức thì cơng ty

nào nói cũng tốt, sản phẩm của cơng ty mình là tốt nhƣng khi vật ni bị

bệnh, sử dụng thuốc thì hiệu quả đem lại không cao.

Hộp 3.1: Ý kiến của chủ trang trại về thức ăn chăn nuôi và thuốc thú y

Trang trại chúng tôi nuôi thường xuyên khoảng 950 con gà một lứa.

Khi đi tham gia hội thảo về việc sử dụng thức ăn chăn nuôi và thuốc thú y của

một số công ty như công ty cám RTD, New Hope, EH,… hay sử dụng thuốc

thú y của công ty RTD, Hanvet, Nam Dũng,… thì cơng ty nào cũng nói sản

phẩm của cơng ty mình là tốt. Nhưng khi gà nhà tơi bị bệnh tôi mua thuốc về

sử dụng đúng theo hướng dẫn của cơng ty thì hiệu quả đem lại khơng cao. Do

đó, chúng tơi khơng tin tưởng vào những gì các cơng ty nói khi đi tham gia

hội thảo. Khi được mời thì chúng tơi đi để tham khảo thêm chứ khi vật nuôi bị

bệnh chúng tôi thường tự mua thuốc của công ty BAYER về chữa theo kinh

nghiệm, hoặc nhờ đại lý thuốc thú y về chữa.

Bà Bùi Thị Tố Nga, xã Ninh Giang, Huyện Hoa Lư

(Nguồn: Phỏng vấn sâu trang trại, 2016)

e) Áp dụng kĩ thuật trong phát triển kinh tế trang trại

Mức độ áp dụng khoa học công nghệ và tiếp cận các nguồn thông tin

khoa học kỹ thuật mới ở các trang trại hiện nay còn khá hạn chế, một phần do

trình độ của chủ hộ, một phần do thơng tin kỹ thuật còn thiếu hoặc chƣa chất

lƣợng. Điều này ảnh hƣởng rất lớn đến việc áp dụng các tiến bộ khoa học kỹ



50



thuật, các quy trình sản xuất mới vào trong sản xuất của các trang trại, làm

giảm hiệu quả sản xuất của trang trại.

Đa số các trang trại đều có các hoạt động chăn nuôi và chăn nuôi cũng

là một hoạt động mang lại thu nhập khá cao cho trang trại. Chính vì vậy, cơng

tác thú y và phòng trừ dịch bệnh đƣợc các chủ trang trại đặc biệt quan tâm.

Nhận thức đƣợc vai trò to lớn của cơng tác tiêm phòng qua điều tra cho thấy

100% các trang trại đều tiến hành tiêm phòng thƣờng xun cho vật ni. Đối

với lợn thì các trang trại thƣờng tiêm phòng vacxin nhƣ: tụ huyết trùng, dịch

tả,… Đối với chăn nuôi gà, các trang trại thƣờng xuyên tiêm phòng vacxin

phòng một số bệnh thƣờng gặp nhƣ: dịch tả, tụ huyết trùng, cầu trùng,… Khi

vật nuôi bị bệnh thì có 30% các trang trại tự mua thuốc về chữa, 33% các

trang trại mời đại lý thuốc thú y về chữa bệnh, chỉ có 10% các trang trại mời

nhân viên thú y của xã, thị trấn về chữa bệnh, còn đa số các trang trại đều kết

hợp tất cả các hình thức trên đạt 27% các trang trại.

Bảng 3.10: Công tác thú y ở các trang trại điều tra

Chỉ tiêu



STT



Số lƣợng



Tỷ lệ (%)



1



Tiêm phòng thƣờng xuyên



30



100



2



Tự mua thuốc về chữa



9



30



3



Mời nhân viên thú y xã, thị xã về chữa



3



10



4



Mời đại lý thú y về chữa



10



33



5



Kết hợp



8



27



(Nguồn: Tác giả điều tra trang trại năm 2016)

3.1.2.3. Xây dựng cơ sở hạ tầng phát triển kinh tế trang trại trên địa bàn

huyện Hoa Lư

Các trang trại tổng hợp, các trang trại xây dựng xa khu dân cƣ đều có

giao thơng đi lại khó khăn. Hệ thống đƣờng dẫn ra các trang trại chủ yếu là

đƣờng cấp phối, đƣờng đất, đi lại khó khăn đặc biệt là về mùa mƣa. Đa số các



51



trang trại sử dụng xe công nông, xe tự chế để vận chuyển hàng hoá và vật tƣ

vào trang trại ảnh hƣởng đến giao thƣơng của trang trại.

Hệ thống điện của Huyện cũng rất hạn chế, thƣờng xuyên bị mất điện

về mùa khô, mất điện không báo trƣớc gây ảnh hƣởng không nhỏ đến hoạt

động sản xuất kinh doanh của các trang trại. Bên cạnh đó, trên địa bàn Huyện

chƣa có hệ thống xử lý rác thải, khơng có chỗ đổ rác thải, các chất thải sinh

hoạt, chất thải chăn nuôi hầu nhƣ đƣợc thải trực tiếp ra hệ thống kênh mƣơng

và môi trƣờng, không qua xử lý, hay thải ra trực tiếp ao hồ của gia đình, gây

ảnh hƣởng đến môi trƣờng sống và môi trƣờng sản xuất của ngƣời dân. Cùng

với hệ thống chợ chƣa phát triển, đã làm giảm sút khả năng tiêu thụ sản phẩm

ngay tại địa phƣơng của các trang trại.

3.1.2.4. Quản lý chất lượng hoạt động của các trang trại trên địa bàn huyện

Hoa Lư

Từ thực tế trang trại ở tỉnh Ninh Bình nói chung và kinh tế trang trại ở

huyện Hoa Lƣ nói riêng cho thấy, kinh tế trang trại ở nƣớc ta đang phát triển với

tốc độ khá nhanh, quy mô ngày càng lớn, phạm vi hoạt động rộng. Với mức độ

tập trung hố và chun mơn hố, với phạm vi hoạt động đa ngành, nhiều trang

trại không thể đƣợc coi là kinh tế hộ gia đình nơng dân nữa mà thực sự đã là

những cơ sở kinh doanh. Chính vì vậy, việc tăng cƣờng sự quản lý chất lƣợng

của Nhà nƣớc đối với hoạt động của các trang trại là việc quan trọng.

3.1.2.5. Tiêu thụ sản phẩm của trang trại trên địa bàn huyện Hoa Lư

Nếu năng suất, sản lƣợng cây trồng vật nuôi quyết định đến mặt lƣợng

năng lực sản xuất của các trang trại thì giá cả thị trƣờng nông sản, kênh tiêu

thụ sản phẩm nông sản sẽ quyết định đến mặt chất lƣợng giá trị sản xuất của

trang trại. Giá cả nông sản bị ảnh hƣởng, bị chi phối của nhiều yếu tố và có

nhiều biến động lên xuống thất thƣờng nhƣ: kênh tiêu thụ sản phẩm, thời

điểm thu hoạch, thời điểm bán, dạng sản phẩm khi tiêu thụ,… và ảnh hƣởng



52



trực tiếp đến hiệu quả kinh tế của các trang trại. Các dạng sản phẩm và thị

trƣờng tiêu thụ của các trang trại đƣợc thể hiện qua bảng 3.11.

Bảng 3.11: Dạng sản phẩm và thị trƣờng tiêu thụ của các trang trại

TT chăn nuôi



TT tổng hợp



SL

(TT)

9



CC

(%)

100,00



SL

(TT)

21



CC

(%)

100



SL

(TT)

30



CC

(%)

100,00



- Thô



5



55,56



13



61,9



18



59,99



- Sơ chế



4



44,44



8



38,1



12



40,01



2. Thị trƣờng tiêu thụ



9



100,00



21



100,00



30



100,00



- Trong Huyện



2



22,22



7



33,34



9



30,0



- Ngoài Huyện, trong tỉnh



3



33,33



8



38,10



11



36,66



- Các tỉnh khác



4



44,45



6



28,58



10



33,34



Diễn giải

1. Dạng sản phẩm tiêu thụ



Tổng



(Nguồn: Tổng hợp từ số liệu điều tra, 2016)

Qua nghiên cứu, chúng tôi nhận thấy đa số các trang trại đều bán sản

phẩm của các trang trại mình dƣới dạng thơ, chiếm 59,99%, chỉ có một số ít

các trang trại (khoảng 12/30 trang trại) có sơ chế sản phẩm nhƣ: phân loại,

loại bỏ lá già, quả thối, nuôi gia súc, gia cầm sinh sản… trƣớc khi tiêu thụ sản

phẩm. Nhƣ vậy, giá trị hàng hóa sản phẩm bán khơng cao, giảm tính cạnh

tranh trên thị trƣờng.

Về thị trƣờng tiêu thụ sản phẩm thì đa số các sản phẩm của các trang

trại đều đƣợc tiêu thụ trong nƣớc. Các sản phẩm từ chăn nuôi nhƣ gà, vịt, lợn

chủ yếu đƣợc tiêu thụ đi các tỉnh khác; các sản phẩm nhƣ Sắn, rau, hay nuôi

trồng thủy sản chủ yếu đƣợc tiêu thụ ở thị trƣờng trong huyện và trong tỉnh.

Các sản phẩm chăn ni của các trang trại có quy mơ rất lớn nhƣ gà,

lợn nhƣng chƣa có một trang trại nào trên đại bàn huyện có kênh tiêu thụ ổn

định nhƣ ký hợp đồng tiêu thụ sản phẩm. Khách hàng chủ yếu của các trang

trại đa số là các tƣ thƣơng trên địa bàn huyện và tƣ thƣơng từ nơi khác đến

mua, sau đó chuyển đi các thị trƣờng khác để tiêu thụ nên các trang trại



53



thƣờng bị ép giá. Điều này ảnh hƣởng lớn đến hiệu quả sản xuất kinh doanh

của các trang trại nhất là khi có sự biến động lớn về giá cả đầu vào và khi dịch

bệnh xảy ra.

3.1.3. Kết quả và hiệu quả sản xuất kinh doanh của các trang trại điều tra

trên địa bàn huyện Hoa Lư

3.1.3.1. Kết quả sản xuất kinh doanh của các trang trại điều tra

a) Chi phí cho sản xuất kinh doanh của trang trại

Chi phí sản xuất là số tiền mà trang trại phải chi để mua các yếu tố đầu

vào cần thiết cho q trình sản xuất hàng hóa nhằm mục đích thu lợi nhuận.

Trong nền kinh tế hàng hóa, bất cứ một trang trại nào cũng phải quan tâm đến

chi phí sản xuất. Việc giảm chi phí sản xuất đồng nghĩa nới việc tăng thu nhập

của trang trại. Những chi phí sản xuất kinh doanh của các trang trại đƣợc thể

hiện qua bảng 3.12.

Bảng 3.12: Chi phí sản xuất kinh doanh của các trang trại năm 2015

Diễn giải



STT

Tổng chi phí



ĐVT

Triệu đồng



TT chăn

ni

1.545,22



TT tổng

hợp

1.372,41



1

2



Chi cho trồng trọt

Chi cho chăn nuôi



%

%



0,18

45,82



12,82

50,00



3

4



Chi cho nuôi trồng thủy sản

Chi cho hoạt động phi nơng nghiệp



%

%



2,35

51,65



36,70

0,48



(Nguồn: số liệu điều tra, 2016)

Chi phí sản xuất bình quân của trang trại năm 2015 là khoảng 1,3 tỷ

đồng, trong đó chi cho hoạt động chăn ni chiếm khoảng 46,75%, chi cho các

ngành nghề kinh doanh khoảng 40,22%, chi phí cho ni trồng thủy sản khoảng

10,02% và chi cho trồng trọt khoảng 3%. Chi phí bình qn của các trang trại

chăn nuôi cao hơn rất nhiều so với các trang trại tổng hợp là do ngồi quy mơ

chăn ni lớn các trang trại chăn ni ở đây còn kết hợp với kinh doanh thức ăn

chăn ni chi phí kinh doanh thức ăn chăn nuôi chiếm 51,65%.



54



51.65



50



45.82



46.75

40.23



36.7



12.82

0.18



2.35



TT chăn nuôi



10.02

0.48



TT tổng hợp



3



Tính chung



Chi trồng trọt

Chi chăn ni

Chi ni trồng TS

Chi HĐ phi NN



Hình 3.3: Cơ cấu chi phí SXKDcủa trang trại năm 2015

Qua điều tra cho thấy 9/30 trang trại chăn ni có hoạt động kinh

doanh thức ăn chăn ni với quy mô nhỏ đến lớn (từ đại lý cấp 2, cấp 3 đến

đại lý cấp 1 cho các công ty thức ăn chăn nuôi).

Đối với các trang trại tổng hợp, hầu hết các trang trại đều kết hợp trồng

cây hàng năm, cây ăn quả kết hợp với nuôi cá và chăn nuôi gia súc, gia cầm.

Chất thải từ các hoạt động chăn nuôi (chăn nuôi lợn, chăn nuôi gà, vịt) là thức

ăn cho cá, và chỉ sử dụng thức ăn công nghiệp cho cá trong những giai đoạn

vỗ béo cho cá để bán hoặc thiếu thức ăn. Bên cạnh đó, diện tích đất trồng cây

hàng năm thƣờng đƣợc các trang trại trồng cây hàng hóa (rau, sắn, khoai,

ngơ,…) hoặc lấy sản phẩm, phụ phẩm từ hoạt động trồng trọt làm thức ăn cho

hoạt động chăn nuôi và thủy sản. Tổng chi phí bình qn của các trang trại

tổng hợp là trên 1,08 tỷ đồng.

Trong tổng chi phí dành cho chăn ni thì chi phí cho thức ăn chăn

ni chiếm tới 80%. Đối với trang trại chăn nuôi do đa số các trang trại đều

sử dụng thức ăn công nghiệp cho vật ni nên chi phí cho thức ăn chăn nuôi

chiếm tỷ trọng rất lớn (khoảng trên 81%), các trang trại tổng hợp do kết hợp

giữa thức ăn công nghiệp với thức ăn sẵn có nhƣ ngơ, rau xanh, thóc, đậu



55



tƣơng,... nên chi phí dành cho thức ăn chiếm tỷ lệ ít hơn (khoảng 73%). Bình

qn các trang trại mua con giống vào khoảng 550 ngàn đồng đến 1,2 triệu

đồng đối với 1 con lợn siêu nạc và khoảng 600-800 ngàn đồng đối với một

con lợn sinh sản đối với gà lông phƣợng là khoảng 8.000-10.000 đồng/con tùy

từng thời điểm; giá vịt siêu thịt khoảng từ 12.000-15.000 đồng/con; giá lợn

rừng giống vào khoảng 150-250 ngàn đồng/kg. Chi phí bình qn 1 trang trại

dành cho con giống vào khoảng 14,5%. Chi phí cho con giống của các trang

trại chăn ni chiếm khoảng 13%, còn đối với các trang trại tổng hợp khoảng

19%. Chi phí cho con giống của các trang trại chăn nuôi chiếm tỷ lệ thấp hơn

đối với các trang trại tổng hợp là do một số trang trại chăn ni có ni lợn

nái, tự cung cấp con giống cho trang trại của mình nên sẽ giảm đƣợc chi phí

cho con giống và tăng chi phí thức ăn vì phải nuôi lợn từ lúc lợn con đến lúc

lợn xuất chuồng.

b) Doanh thu từ sản xuất kinh doanh của các trang trại

Doanh thu của các trang trại là toàn bộ số tiền mà trang trại thu đƣợc

khi bán sản phẩm của trang trại mình trong vòng 1 năm. Đối với bất kỳ một

trang trại nào việc tăng doanh thu và giảm chi phí sản xuất là mục đích chính

của kinh tế trang trại nói riêng và của bất kỳ một cơ sở kinh tế nào nói chung.

Doanh thu của các hoạt động sản xuất kinh doanh của các trang trại đƣợc thể

hiện qua bảng 3.13.

Tƣơng ứng với mức đầu tƣ của các trang trại, t ổng hợp là loại hình trang

trại có doanh thu cao hơn, trong đó doanh thu từ hoạt động chăn nuôi và kinh

doanh thức ăn chăn nuôi chiếm tỷ lệ cao nhất, có một số trang trại có nguồn

thu từ trồng trọt hoặc thủy sản, nhƣng rất ít không đáng kể.



56



Bảng 3.13: Doanh thu từ các hoạt động sản xuất kinh doanh của TT, 2015

Chỉ tiêu



ĐVT



TT chăn TT tổng hợp Tính chung

ni

2.258,861

1.983,679

1.646,23



Tổng doanh thu



Triệu đồng



Thu từ trồng trọt



%



0,24



14,39



10,15



Thu từ chăn nuôi



%



68,59



47,28



53,67



Thu từ nuôi trồng TS



%



3,20



37,70



27,35



Thu từ phi nông nghiệp



%



27,97



0,63



8,83



(Nguồn: số liệu điều tra, 2016)

Đối với các trang trại tổng hợp có doanh thu ít hơn các trang trại chăn

nuôi và tỷ lệ các nguồn thu không khác biệt nhau quá nhiều. Thu từ các hoạt

động chăn nuôi vẫn chiếm tỷ trọng cao nhất (khoảng 47,28%), tiếp đến là thu

từ các hoạt động thủy sản (khoảng 37,7%), tiếp nữa là thu từ các hoạt động

trồng trọt (khoảng 14,39 %), ngồi ra còn một số trang trại có nguồn thu từ

hoạt động phi nông nghiệp khác nhƣng chiếm tỷ lệ rất nhỏ (trung bình thu từ

các hoạt động phi nông nghiệp chiếm khoảng 0,63% tổng doanh thu của các

trang trại). Trong đó điển hình là trang trại của Ơng Nguyễn Văn Tƣ, xã Ninh

Thắng, Hoa Lƣ có doanh thu hàng năm khoảng 4,86 tỷ đồng, và doanh thu từ

các hoạt động thủy sản đƣợc khoảng 800 triệu đồng, thu từ chăn nuôi khoảng

3,4 tỷ đồng và thu từ các hoạt động trồng trọt khoảng 660 triệu đồng.

c) Thu nhập từ các hoạt động sản xuất kinh doanh của các trang trại

Khác với các đơn vị kinh tế khác kinh tế hộ nông dân và kinh tế trang

trại không thể theo đuổi mục tiêu lợi nhuận vì kinh tế trang trại đa phần sử

dụng lao động gia đình là chính, và khi sử dụng lao động gia đình nên các

trang trại khơng thể tính tốn đƣợc chi phí cho lao động, đây chính là đặc thù

của nền kinh tế Việt Nam nói chung và kinh tế trang trại nói riêng. Do vậy,

đối với kinh tế trang trại từ trƣớc đến nay chúng ta thƣờng sử dụng chỉ tiêu

thu nhập hỗn hợp (MI) để tính tốn kết quả và hiệu quả kinh tế của trang trại.



57



Bảng 3.14: Thu nhập từ các hoạt động sản xuất kinh doanh của trang trại

Stt

1



Chỉ tiêu

Tổng thu nhập



ĐVT

Triệu đồng



TT chăn

ni

713,641



TT tổng

hợp

811,269



Tính

chung

762,455



1.1



Trồng trọt



%



0,58



22,1



6,71



1.2



Chăn ni



%



61,32



35,62



54,2



1.3



Ni trồng thủy sản



%



8,41



40,18



18,26



1.4



Phi nông nghiệp



%



29,69



2,1



20,83



(Nguồn: số liệu điều tra, 2016)

Qua nghiên cứu, chúng ta thấy đa số thu nhập của các trang trại đều đến

từ hoạt động chăn nuôi chiếm 54,2%, tiếp đến là các hoạt động phi nông

nghiệp 20,83%, kế đến là thủy sản chiếm 18,26% và thấp nhất là từ trồng trọt

6,71%. Tỷ lệ đóng góp của các hoạt động sản xuất trong thu nhập của các loại

hình trang trại khác nhau.

Đối với trang trại chăn ni thì hoạt động chăn nuôi chiếm tỷ trọng lớn

nhất 61,32%, tiếp đến là các hoạt động kinh doanh thức ăn chăn nuôi 29,69%,

thấp nhất là từ thủy sản và trồng trọt. Nguyên nhân chính, là các trang trại

chăn nuôi chủ yếu kinh doanh thức ăn chăn nuôi là để lấy nguồn thức ăn cho

chăn nuôi và không phải đi mua lẻ cám từ các đại lý với giá cao hơn chứ

khơng phải mục đích kinh doanh thức ăn là chính. Các trang trại này vừa kết

hợp chăn nuôi với kinh doanh thức ăn chăn nuôi và một phần nhỏ để bán,

ngoại trừ mốt số trang trại kinh doanh thức ăn chăn ni là chính và từ đó

chăn ni để tăng thu nhập. Các trang trại này chủ yếu vừa chăn nuôi vừa làm

đại lý cấp 1 cho công ty thức ăn chăn nuôi và lƣợng tiêu thụ thức ăn chăn nuôi

hàng tháng là rất lớn (khoảng trên 100 tấn thức ăn/tháng).

Đối với các trang trại tổng hợp thì hoạt động thủy sản là hoạt động có

thu nhập lớn nhất chiếm 40,18%, sau đó đến chăn nuôi 35,62%, hoạt động

trồng trọt 22,1%, thấp nhất và đóng góp khơng đáng kể vào thu nhập của các

trang trại tổng hợp là hoạt động phi nông nghiệp 2,1%. Ngun nhân chính là



58



do thủy sản (chủ yếu là ni cá nƣớc ngọt) không phải sử dụng thức ăn công

nghiệp, chủ yếu lấy nguồn thức ăn từ chăn nuôi và trồng trọt, chi phí lớn nhất

từ ni cá chủ yếu là chi phí con giống và lúc vỗ béo cho cá để bán. Còn hoạt

động trồng trọt cho thu nhập khá cao là đa số các trang trại đều có diện tích

khá lớn trồng cây ăn quả và đang trong giai đoạn cho thu hoạch nên hầu nhƣ

không phải đầu tƣ nhiều (chủ yếu đầu tƣ phun thuốc bảo vệ thực vật).

3.1.3.2. Hiệu quả sản xuất kinh doanh của các trang trại

* Hiệu quả về xã hội và Hiệu quả môi trường

Trong những năm gần đây kinh tế trang trại của Huyện hoa Lƣ, tỉnh

Ninh Bình đã từng bƣớc hình thành và phát triển mạnh mẽ và ngày càng trở

thành mơ hình kinh tế có hiệu quả kinh tế ở nơng thơn. Phát triển kinh tế trang

trại góp phần chuyển đổi cơ cấu kinh tế nông nghiệp nông thôn và tăng giá trị

sản xuất của ngành nông nghiệp. Bên cạnh hiệu quả kinh tế thì kinh tế trang

trại ở Hoa Lƣ còn mang lại cả hiệu quả xã hội, hiệu quả mơi trƣờng và nó

đƣợc thể hiện qua một số điểm sau:

- Kinh tế trang trại huyện Hoa Lư đã góp phần tăng giá trị sản xuất

của ngành nơng nghiệp, giúp người dân làm giàu ở nông thôn, giải quyết việc

làm, tăng thu nhập cho lao động nông thôn.

Các trang trại đã tận dụng nguồn lực lao động gia đình, tăng thu nhập

cho lao động gia đình. Bên cạnh đó, các trang trại trên địa bàn Huyện còn tạo

đƣợc cơng ăn việc làm ổn định, thƣờng xuyên cho nhiều lao động địa phƣơng

với mức lƣơng từ 2-3 triệu đồng/tháng làm việc trong trang trại và hàng trăm

lao động thời vụ với mức tiền cơng trung bình từ 160-200 ngàn đồng/ngày

cơng lúc nông nhàn và từ 150-300 ngàn đồng/ngày công lúc thời vụ. Kinh tế

trang trại ngày càng phát triển thì số lƣợng lao động nông thôn đƣợc tạo thêm

công ăn việc làm, tăng thu nhập ngày càng tăng, góp phần giải quyết đƣợc số

lƣợng lao động dƣ thừa ở nông thơn, góp phần giữ gìn an ninh trật tự ở nông

thôn, tăng chất lƣợng cuộc sống của cƣ dân nông thơn.



59



- Kinh tế trang trại góp phần thúc đẩy q trình chuyển dịch cơ cấu

kinh tế nơng nghiệp và nơng thơn của Huyện

Các trang trại hình thành và phát triển trên cơ sở dựa vào điều kiện tự

nhiên về đất đai, truyền thống sản xuất của các vùng để phát huy tối đa lợi thế

so sánh. Bƣớc đầu hình thành và phát triển vùng sản xuất hàng hóa tập trung

với quy mô lớn, làm cơ sở cho việc áp dụng và đƣa các tiến bộ khoa học kỹ

thuật vào sản xuất góp phần thúc đẩy các ngành nghề dịch vụ nông nghiệp và

các dịch vụ phi nông nghiệp trên địa bàn Huyện hình thành và phát triển nhƣ:

dịch vụ thú y, buôn bán thuốc thú y, kinh doanh thức ăn chăn ni, dịch vụ

vận chuyển, dịch vụ tín dụng, kinh doanh phân bón, thuốc bảo vệ thực vật,…

Bên cạnh đó, kinh tế trang trại phát triển thì nhu cầu về xây dựng cơ sở vật

chất cho trang trại nhƣ chuồng trại chăn nuôi, đào ao nuôi cá,… tạo điều kiện

cho ngành xây dựng ở địa phƣơng phát triển. Kinh tế trang trại phát triển gián

tiếp tạo việc làm, tăng thu nhập cho hàng trăm lao động khác ở địa phƣơng.

- Kinh tế trang trại phát triển góp phần cải thiên môi trường sống ở địa

phương, giảm thiểu ô nhiễm môi trường.

Kinh tế trang trại là một mơ hình sản xuất nơng nghiệp mang tính chất

khoa học, tối ƣu hơn sản xuất kinh tế hộ nông dân thông thƣờng. Các hoạt

động sản xuất của trang trại luôn gắn với việc bảo vệ tài nguyên môi trƣờng,

đảm bảo sản xuất đạt hiệu quả cao và hƣớng đến phát triển nông nghiệp bền

vững, điều này đƣợc thể hiện qua chỉ tiêu số trang trại đầu tƣ hệ thống xử lý

chất thải hầm khí biogas, xem bảng 3.15.

Đối với các trang trại chăn nuôi đƣợc xây dựng trong khu dân cƣ, hầu

hết đã xây dựng hầm biogas vừa hạn chế đƣợc chất thải trong chăn nuôi, vừa

tạo thêm đƣợc nguồn năng lƣợng để sử dụng trong gia đình, tiết kiệm chi phí

về năng lƣợng (điện, ga, than củi,…). Xây dựng hầm biogas của các trang trại

chăn nuôi sẽ hạn chế đƣợc các chất thải từ chăn nuôi ra môi trƣờng xung

quanh, giảm thiểu ô nhiễm môi trƣờng so với các hộ dân nuôi nhỏ lẻ với quy

mô nông hộ.



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Hình 3.2: Trang trại tổng hợp trên địa bàn Huyện

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×