Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Hình 3.1: Trang trại trồng lúa giống ở Huyện Hoa Lư

Hình 3.1: Trang trại trồng lúa giống ở Huyện Hoa Lư

Tải bản đầy đủ - 0trang

40



Đối với các trang trại tổng hợp thì ngồi trồng trọt các loại cây trồng

nhƣ ngô, lúa giống để cung cấp cho đời sống và sản xuất của trang trại, các

trang trại này còn tìm cách đa dạng hóa cây trồng, chuyển dịch cơ cấu cây

trồng để đa dạng hóa nguồn thu và tăng thu nhập cho trang trại nên diện tích

gieo trồng khá lớn và đồng đều giữa các loại cây. Các loại cây nhƣ rau, khoai

đƣợc sản xuất một ít trên diện tích đất màu của trang trại, còn một phần lớn

diện tích đƣợc các trang trại trồng vụ đơng trên diện tích đất 2 vụ để tăng hệ

số sử dụng đất, chủ yếu là các loại rau có giá trị cao và nhiều chủ trang trại đã

thuê thêm đất của các hộ không sản xuất vụ đông để trồng rau nhằm tăng thu

nhập cho trang trại.

Sản lƣợng một số cây trồng chính của các trang trại điều tra đƣợc tổng

hợp qua bảng 3.4.

Qua nghiên cứu, cây Lúa giống vẫn là cây trồng đƣợc các trang trại

đánh giá là cây trồng quan trọng nhất của trang trại, và 75% các trang trại đều

có diện tích đất để trồng lúa giống KD 28. Tuy nhiên, cây Lúa không phải là

cây trồng có sản lƣợng cao nhất của các trang trại. Các cây trồng có sản lƣợng

và có giá trị cao nhƣ: cây ăn quả (nhãn, …); rau các loại…

Bảng 3.4: Sản lƣợng một số cây trồng chính của trang trại

(Tính bình qn cho 1 trang trại)

ĐVT: kg

STT

1

2

3

4

5

6

7



Diễn giải

Lúa giống

Ngơ

Lạc

Đậu

Sắn

Rau các loại

Cây ăn quả



TT chăn ni



TT tổng hợp



1.438,80

6.174,27

1.368,57

301,42

11,286

99,80

108,08

304,95

55,319

1.349,94

149,24

3.406,11

33,77

9.434,23

(Nguồn: Tính tốn từ số liệu điều tra, 2016)



41



Sản xuất chăn nuôi và nuôi trồng thủy sản của trang trại

Chăn nuôi và thủy sản là một ngành sản xuất đem lại hiệu quả cao

trong sản xuất nơng nghiệp nhƣng nó cũng đòi hỏi các trang trại phải đầu tƣ

khá lớn và tiềm ẩn nhiều rủi ro nhƣ dịch bệnh, giá cả thị trƣờng,… nên một số

chủ trang trại có kinh nghiệm trong chăn ni thƣờng đầu tƣ chăn ni với

quy mơ lớn, còn các chủ trang trại có ít kinh nghiệm chăn ni hoặc để hạn

chế rủi ro trong chăn nuôi thƣờng chọn cách đầu tƣ chăn nuôi với quy mô

nhỏ hơn và đa dạng hóa các hoạt động sản xuất kinh doanh để giảm bớt rủi ro

trong sản xuất. Ngoài ra, các trang trại chăn ni còn thƣờng kết hợp chăn

ni với kinh doanh thức ăn chăn nuôi để hạn chế bớt rủi ro về giá cả thức ăn

nên họ thƣờng chăn ni với quy mơ lớn.

Trong q trình nghiên cứu, có một số trang trại chăn nuôi một số

giống vật nuôi đặc sản và điển hình nhƣ: dê thịt, dê lấy sữa, lợn rừng, …

nhƣng trong phần này tôi xin đƣa ra quy mô chăn nuôi của một số vật nuôi

phổ biến và đƣợc đa số các trang trại trong Huyện lựa chọn nhƣ lợn thịt, gà

thịt, vịt… Quy mô chăn nuôi các trang trại trên địa bàn Huyện Hoa Lƣ đƣợc

thể hiện qua bảng 3.5.

Nhìn vào bảng 3.5 cho thấy, quy mô chăn nuôi các trang trại trên địa

bàn Huyện Hoa Lƣ là khá lớn. Trung bình mỗi trang trại nuôi khoảng 103 con

lợn thịt /năm; khoảng 2.086 con gà/ năm; khoảng 634 con vịt/ năm. Quy mô

chăn nuôi của các trang trại chăn nuôi lớn hơn rất nhiều so với các trang trại

tổng hợp, còn diện tích mặt nƣớc của các trang trại tổng hợp là rất lớn 4.290

m2/trang trại.



42



Bảng 3.5: Quy mô chăn nuôi một số giống vật nuôi chủ yếu

STT



Diễn giải



TT chăn

TT tổng hợp

nuôi

(n=21)

(n=9)

156,32

50,54



ĐVT



1



Chăn nuôi lợn thịt



Con



2



Chăn nuôi gà



Con



2.778,95



1.394,33



3



Chăn nuôi vịt



Con



1.030,52



237,69



4



Nuôi trồng thủy sản



m2



660



4.290



(Nguồn: Tổng hợp từ số liệu điều tra, 2016)

Sản lƣợng các loại vật nuôi của các trang trại cũng rất lớn: sản lƣợng

thịt lợn hơi với trên 7,1 tấn/trang trại/năm; sản lƣợng thịt gà hơi khoảng 6,1

tấn/trang trại/năm; sản lƣợng thịt vịt hơi vào khoảng 1,2 tấn/trang trại/năm và

sản lƣợng cá vào khoảng 7,9 tấn/trang trại/năm. Sản lƣợng các giống vật nuôi

khác nhau rất lớn giữa hai loại hình trang trại. Cụ thể sản lƣợng các giống vật

nuôi của các trang trại đƣợc thể hiện qua bảng 3.6.

Bảng 3.6. Sản lƣợng một số giống vật ni chính của trang trại

ĐVT: kg

STT



Diễn giải



TT chăn ni

(n=9)

12.881,58



TT tổng hợp

(n=21)

4.631,89



1



Chăn nuôi lợn thịt



2



Chăn nuôi gà



7.028,417



5.730,37



3



Chăn nuôi vịt



2.006,048



8.829,97



4



Nuôi trồng thủy sản



1.595,583



10.695,27



(Nguồn: Tính tốn từ số liệu điều tra, 2016)

3.1.2.2. Nguồn lực phát triển của các trang trại

a) Nguồn lực đất đai

Kinh tế trang trại là một đơn vị sản xuất hàng hóa muốn phát triển

trƣớc tiên cần một diện tích đất đủ lớn để có thể xây dựng hệ thống chuồng



43



trại, hệ thống cơng trình phục vụ sản xuất và một diện tích đất đủ lớn để tiến

hành sản xuất. Có thể nói nguồn lực đất đai là điều kiện tiên quyết, quyết định

và ảnh hƣởng đến phƣơng hƣớng sản xuất cũng nhƣ quy mô sản xuất của các

trang trại, đƣợc thể hiện qua bảng 3.7.

Bảng 3.7: Tình hình đất đai của các trang trại điều tra năm 2015

Chỉ tiêu



STT



Trung bình 1 trang trại

1



TT Chăn

ni

SL

CC

(ha)

(%)

0,89

100



TT Tổng

hợp

SL

CC

(ha) (%)

1,86 100



Bình qn

SL

(ha)

1,22



CC

(%)

100



Phân theo sở hữu



1.1



Đất thuộc quyền sở hữu



0,60



67,41 1,63 87,63



0,95 77,86



1.2



Đất đấu thầu



0,21



23,60 0,13



6,98



0,19 15,58



1.3



Đất nhận chuyển nhƣợng



0,08



8,99



5,39



0,08



2



0,10



6,56



Phân theo loại đất



2.1



Đất trồng cây hàng năm



0,23



25,84 0,54 29,03



0,33 27,05



2.2



Đất trồng cây lâu năm, lâm



0,25



28,09 0,66 35,48



0,39 32,97



nghiệp

2.3



Đất chăn nuôi



0,33



37,08 0,22 11,83



0,29 23,77



2.4



Diện tích đất mặt nƣớc



0,06



6,74



0,39 20,97



0,18 14,75



2.5



Đất khác



0,02



2,25



0,05



0,03



2,69



2,46



(Nguồn: Số liệu điều tra, 2016)

Qua khảo sát 30 trang trại trên địa bàn Huyện Hoa Lƣ, chúng ta thấy

diện tích đất khơng đồng đều giữa các loại hình trang trại và giữa các trang

trại trong cùng 1 loại hình. Trung bình một trang trại có khoảng 1,22ha đất

canh tác, tuy nhiên các trang trại tổng hợp có diện tích lớn hơn rất nhiều so

với trang trại chăn ni. Trung bình một trang trại tổng hợp có diện tích

1,86ha và một trang trại chăn ni có 0,89ha. Sự khác biệt về quy mơ đất đai

giữa các loại hình trang trại cũng thể hiện rõ quy mơ và cơ cấu sản xuất của



44



các loại hình trang trại. Các trang trại chăn nuôi tập trung chủ yếu vào chăn

ni nên diện tích đất khơng nhiều nhƣ các trang trại kết hợp giữa chăn nuôi

và nuôi trồng thủy sản hoặc trồng trọt.

Hoa Lƣ là một Huyện bán sơn địa nên diện tích đất đai của các trang

trại nơng dân là khá lớn, do vậy diện tích đất thuộc quyền sử dụng của các

trang trại là khá lớn (khoảng gần 77,86% diện tích). Còn lại là diện tích đất

đấu thầu từ diện tích đất chung của xã, huyện về canh tác, hoặc đất nhận

chuyển nhƣợng của các hộ nông dân khác trong làng, xã, thị trấn để sản xuất.

Diện tích đất thuộc quyền sử dụng của trang trại sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho

các chủ trang trại tiến hành đầu tƣ cơ sở vật chất, cơ sở hạ tầng kiên cố, từ đó

góp phần phát triển kinh tế trang trại của địa phƣơng. Tuy nhiên, một phần

lớn diện tích đất của các trang trại đều chƣa đƣợc cấp giấy chứng nhận quyền

sử dụng đất, gây khó khăn trong việc thế chấp vay vốn ngân hàng để tiến

hành đầu tƣ mở rộng sản xuất. Đây là một hạn chế ảnh hƣởng đến quy mô sản

xuất và hiệu quả sản xuất của các trang trại ở Hoa Lƣ.

Về tỷ lệ các loại đất trong trang trại cũng rất khác nhau giữa các loại

hình trang trại. Đối với trang trại chăn ni đa số diện tích là diện tích dành

cho chăn ni (chiếm khoảng 37,08%); còn lại là diện tích trồng cây hàng

năm và cây lâu năm, cây lâm nghiệp,… Diện tích trồng cây hàng năm của các

loại hình trang trại này chủ yếu là trồng ngô, lúa giống, rau sạch,… phục vụ

cho cuộc sống và sản xuất. Còn đối với diện tích trồng cây lâu năm, cây lâm

nghiệp cũng chủ yếu phục vụ cuộc sống của gia đình, một phần rất nhỏ bán đi

để tăng thu nhập cho trang trại. Đối với trang trại tổng hợp thì tỷ lệ diện tích

các loại đất khơng có sự khác nhau nhiều và gần nhƣ chia đều cho 3 loại đất

là diện tích đất trồng cây hàng năm, cây lâu năm, đất mặt nƣớc phục vụ ni

trồng thủy sản. Mục đích trồng cây hàng năm của các trang trại tổng hợp rất

khác với các trang trại chăn ni đó là sản xuất theo hƣớng hàng hóa với các

loại cây trồng có giá trị kinh tế cao nhƣ lúa giống, rau,… Còn đối với diện



45



tích đất trồng cây lâu năm cũng chủ yếu là các loại cây ăn quả nhƣ nhãn,

ổi,…và rừng kinh tế (trồng bạch đàn).

Các trang trại tổng hợp có điều kiện về đất đai hơn nên diện tích

chuồng trại chăn ni và khu vực chăn ni thƣờng đƣợc bố trí cách xa khu

nhà ở và khu dân cƣ, tránh ô nhiễm mơi trƣờng cho khu dân cƣ. Còn các trang

trại chăn nuôi do điều kiện đất đai hạn chế nên chuồng trại thƣờng đƣợc xây

dựng sát nhau, gần khu sinh hoạt của gia đình, nhất là các trang trại trong khu

dân cƣ, từ đó khó đảm bảo đƣợc vệ sinh chuồng trại, kiểm sốt dịch bệnh,

cách ly khi có dịch bệnh hoặc gây ô nhiễm môi trƣờng.

b) Nguồn nhân lực

Qua nghiên cứu 30 trang trại tại Huyện Hoa Lƣ tôi nhận thấy lao động

gia đình trong mỗi trang trại là khá ít. Trung bình mỗi trang trại có từ 2 - 3 lao

động gia đình. Số lao động trung bình trong mỗi trang trại chăn nuôi là 2,84 lao

động và trong mỗi trang trại tổng hợp là 2,66 lao động và gần nhƣ 100% số lao

động gia đình này đều tham gia trực tiếp sản xuất trong trang trại.

Do lực lƣợng lao động gia đình tham gia trực tiếp sản xuất trong mỗi

trang trại là khá ít nên các trang trại thƣờng xuyên phải thuê thêm lao động,

nhất là vào những lúc thời vụ. Nguồn lực lao động làm việc trong các trang

trại trên địa bàn Huyện hoa Lƣ, tỉnh Ninh Bình đƣợc thể hiện qua bảng 3.8.

Do tính chất thời vụ của sản xuất nông nghiệp nên đại đa số các trang

trại ở Hoa Lƣ hầu nhƣ chỉ thuê lao động thời vụ. Qua nghiên cứu có khoảng

35,35% số trang trại thuê thêm lao động lúc thời vụ, trong đó số trang trại

tổng hợp thuê lao động thời vụ cao hơn (khoảng 40,524%) so với số lao động

chăn nuôi (khoảng 32,703%). Các trang trại này chủ yếu thuê lao động vào

lúc thu hoạch hoặc bắt đầu chu kỳ sản xuất kinh doanh. Số lao động đƣợc

thuê của các trang trại cũng khác nhau khá xa. Các trang trại chăn ni th

lao động bình qn từ 2,11 đến 4,14 lao động, các trang trại tổng hợp thuê lao

động bình quân từ 0,75 - 8,57 lao động.



46



Bảng 3.8: Nguồn lực lao động làm việc trong các trang trại điều tra

(Tính bình qn 1 trang trại)

ĐVT: Người

Chỉ tiêu



TT Chăn ni

Số

Tỷ

lượng

trọng

(%)



TT Tổng hợp

Số

Tỷ

lượng

trọng

(%)



Bình quân

Số

Tỷ

lượng

trọng

(%)



1. Lao động gia

2,84

100

2,66

100

2,79

100

đình

2. Lao động thuê

- Thuê thƣờng

2,81

17,84

1,33

11,58

2,37

15,71

xuyên

- Lao động thời vụ

2,11-4,14 32,70 0,75-8,57 40,52 1,65-5,621 35,354

(min-max)

(Nguồn: Số liệu điều tra, 2016)

Bên cạnh đó, ngồi th thêm lao động những lúc thời vụ thì một số

trang trại còn th thêm lao động thƣờng xuyên do lao động gia đình không

đủ để vận hành sản xuất kinh doanh của trang trại. Các trang trại thuê lao

động thƣờng xuyên là những trang trang trại có quy mơ sản xuất lớn. Một số

trang trại chăn nuôi thƣờng thuê từ 1-3 lao động, trong đó điển hình là trang

trại ơng Long ở xã Ninh Xuân nuôi 400 con lợn thịt và 15 con lợn nái, trang

trại thuê 5 lao động thƣờng xuyên và các lao động này đƣợc trả cơng bình

qn là 2,7 triệu đồng/tháng/lao động. Tuy nhiên, toàn bộ các lao động đƣợc

thuê là các lao động phổ thông, không qua đào tạo.

c) Huy động vốn phát triển kinh tế trang trại

Vốn là yêu cầu không thể thiếu đối với bất kỳ một lĩnh vực sản xuất

kinh doanh chứ khơng riêng gì trang trại. Đặc biệt trong xu thế hiện nay, xu

thế hội nhập kinh tế quốc tế, các trang trại muốn đứng vững và phát triển cần

một lƣợng vốn cố định để có thể đầu tƣ áp dụng khoa học kỹ thuật canh tác

tiến bộ vào sản xuất, từ đó giúp tăng năng suất cây trồng vật nuôi và các dịch

vụ của trang trại đạt đƣợc hiệu quả cao. Vốn là điều kiện tiên quyết, có ý



47



nghĩa quyết định tới các bƣớc tiếp theo của quá trình sản xuất kinh doanh.

Tình hình huy động vốn phát triển sản xuất kinh doanh của các trang trại đƣợc

thể hiện qua bảng 3.9.

Bảng 3.9: Tình hình vốn sản xuất kinh doanh của các trang trại năm 2015

(Tính bình qn 1 trang trại)

Chỉ tiêu

Tổng số vốn

1. Vốn tự có

2. Vốn vay

- Vay Ngân hàng NN&PTNT

- Ngân hàng Chính sách

- Ngân hàng Thƣơng mại

- Anh em, họ hàng

- Khác



ĐVT

Triệu đồng

%

%

%

%

%

%

%



TT chăn

ni

464,835

46,89

53,11

43,56

10,80

25,06

19,20

1,38



TT tổng

Bình

hợp

qn

319,42

415,49

42,73

45,80

57,27

54,20

54,08

46,46

10,57

10,74

27,19

25,65

5,74

15,49

2,42

1,67



(Nguồn: Số liệu điều tra, 2016)

Đa phần các trang trại ở Huyện Hoa Lƣ đã hoạt động khá lâu nên nhìn

chung các trang trai có nguồn vốn tự có khá cao. Bình qn các trang trại có

vốn sản xuất 415,49 triệu đồng, cao hơn bình quân chung của tỉnh, trong đó

vốn tự có chiếm 45,8% và có sự khác nhau giữa các loại hình trang trại. Các

trang trại chăn ni thƣờng có vốn sản xuất lớn hơn vì chăn ni là một hoạt

động sản xuất cần số lƣợng vốn lớn để đầu tƣ giống, thức ăn,… và đầu tƣ

trong khoảng một thời gian dài (thƣờng khoảng 3-6 tháng). Mặt khác, các

trang trại chăn ni còn kết hợp kinh doanh thức ăn chăn nuôi nên cần có một

lƣợng vốn khá lớn đặc biệt là những lúc trang trại nhập hàng chục tấn thức ăn

chăn nuôi từ cơng ty. Chính vì vậy, có một số trang trại đi vay hàng tỷ đồng

để đầu tƣ kinh doanh thức ăn chăn ni (trung bình 1 trang trại chăn ni vay

hơn 200 triệu đồng, chiếm khoảng 53,11% tổng lƣợng vốn của trang trại).



48



Hình 3.2: Trang trại tổng hợp trên địa bàn Huyện

Còn các trang trại tổng hợp do kết hợp nhiều loại hình sản xuất kinh

doanh từ trồng trọt, chăn nuôi, kinh doanh và nuôi trồng thủy sản nên thƣờng

lấy vốn từ hoạt động sản xuất này bù cho hoạt động sản xuất khác, quay vòng

vốn giữa các hoạt động sản xuất một cách linh hoạt. Một trang trại tổng hợp

có lƣợng vốn 319 triệu đồng/trang trại. Tỷ lệ vốn tự có của các trang trại tổng

hợp chiếm 42,73% tổng lƣợng vốn cần có của trang trại.

Các nguồn huy động vốn của các trang trại trên địa bàn Huyện cũng

khá đa dạng nhƣng chủ yếu từ các tổ chức tín dụng chính thống nhƣ: Ngân

hàng Nơng nghiệp và Phát triển nơng thơn; Ngân hàng Chính sách xã hội; các

Ngân hàng Thƣơng mại. Bên cạnh nguồn huy động vốn từ các Ngân hàng thì

các trang trại cũng huy động vốn nhàn rỗi trong dân cƣ nhƣ của anh em họ

hàng, vay từ các tổ chức tín dụng phi chính thống. Tuy nguồn huy động vốn

của các trang trại khá đa dạng nhƣng lãi suất các trang trại phải trả là khá cao:

khoảng 12 – 15%/năm đối với nguồn vay từ các ngân hàng công thƣơng,

khoảng 15 – 17% đối với các khoản vay nóng, vay của tƣ nhân, vay từ các tổ



49



chức tín dụng phi chính thống. Trong 30 trang trại điều tra chỉ có 7 trang trại

đƣợc vay vốn từ Ngân hàng Chính sách xã hội với lãi suất ƣu đãi là

0,65%/tháng, nhƣng lƣợng vốn vay là không lớn (khoảng 30 – 50 triệu đồng).

d) Tiếp cận khoa học kĩ thuật công nghệ

Qua nghiên cứu, không phải tất cả các trang trại điều tra đều tham gia

các buổi tập huấn kỹ thuật và chủ yếu tập trung vào các lớp tập huấn về kỹ

thuật chăn ni, thú y vì đây là loại hình đem lại doanh thu và thu nhập lớn

trong trang trại. Tuy nhiên, nhiều chủ trang trại cho biết các lớp tập huấn này

đa phần khơng có tính thực tế, chủ yếu là lý thuyết, khó áp dụng vào sản xuất

của trang trại. Khi đi hội thảo về kiến thức chăn nuôi hoặc kiến thức thú y do

các công ty thức ăn chăn nuôi hoặc công ty thuốc thú y tổ chức thì cơng ty

nào nói cũng tốt, sản phẩm của cơng ty mình là tốt nhƣng khi vật ni bị

bệnh, sử dụng thuốc thì hiệu quả đem lại không cao.

Hộp 3.1: Ý kiến của chủ trang trại về thức ăn chăn nuôi và thuốc thú y

Trang trại chúng tôi nuôi thường xuyên khoảng 950 con gà một lứa.

Khi đi tham gia hội thảo về việc sử dụng thức ăn chăn nuôi và thuốc thú y của

một số công ty như công ty cám RTD, New Hope, EH,… hay sử dụng thuốc

thú y của công ty RTD, Hanvet, Nam Dũng,… thì cơng ty nào cũng nói sản

phẩm của cơng ty mình là tốt. Nhưng khi gà nhà tơi bị bệnh tôi mua thuốc về

sử dụng đúng theo hướng dẫn của cơng ty thì hiệu quả đem lại khơng cao. Do

đó, chúng tơi khơng tin tưởng vào những gì các cơng ty nói khi đi tham gia

hội thảo. Khi được mời thì chúng tơi đi để tham khảo thêm chứ khi vật nuôi bị

bệnh chúng tôi thường tự mua thuốc của công ty BAYER về chữa theo kinh

nghiệm, hoặc nhờ đại lý thuốc thú y về chữa.

Bà Bùi Thị Tố Nga, xã Ninh Giang, Huyện Hoa Lư

(Nguồn: Phỏng vấn sâu trang trại, 2016)

e) Áp dụng kĩ thuật trong phát triển kinh tế trang trại

Mức độ áp dụng khoa học công nghệ và tiếp cận các nguồn thông tin

khoa học kỹ thuật mới ở các trang trại hiện nay còn khá hạn chế, một phần do

trình độ của chủ hộ, một phần do thơng tin kỹ thuật còn thiếu hoặc chƣa chất

lƣợng. Điều này ảnh hƣởng rất lớn đến việc áp dụng các tiến bộ khoa học kỹ



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Hình 3.1: Trang trại trồng lúa giống ở Huyện Hoa Lư

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×