Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
b) Phát triển kinh tế trang trại

b) Phát triển kinh tế trang trại

Tải bản đầy đủ - 0trang

6



1.1.1.2. Khái niệm về phát triển bền vững, phát triển kinh tế trang trại theo

hướng bền vững

a) Phát triển bền vững

Theo Uỷ ban Thế giới (WCED – World commission on the

Environment and Development) về Môi trƣờng và Phát triển đƣa ra năm

1987: “Phát triển bền vững là sự phát triển đáp ứng nhu cầu hiện tại mà không

làm tổn hại đến khả năng đáp ứng nhu cầu của thế hệ tƣơng lai” [13].

Luật bảo vệ môi trƣờng Việt Nam, sửa đổi năm 2005:

“Phát triển bền vững là phát triển đáp ứng nhu cầu của thế hệ hiện tại

mà không làm tổn hại đến khả năng đáp ứng nhu cầu đó của các thế hệ tƣơng

lai trên cơ sở kết hợp chặt chẽ, hài hoà giữa tăng trƣởng kinh tế, đảm bảo tiến

bộ xã hội và bảo vệ môi trƣờng” [11].

Nhƣ vậy, phát triển bền vững phải bảo đảm có sự phát triển về 3 mục

tiêu: Kinh tế hiệu quả, xã hội cơng bằng và mơi trƣờng đƣợc bảo vệ, gìn giữ.

Vì vậy để đạt đƣợc sự phát triển bền vững cho đất nƣớc nói chung và thế giới

nói riêng đòi hỏi các nhà cầm quyền, các tổ chức xã hội… phải bắt tay nhau

thực hiện nhằm mục đích dung hồ 3 lĩnh vực chính: kinh tế - xã hội - môi

trƣờng.

b) Phát triển kinh tế trang trại theo hƣớng bền vững

Để phát triển kinh tế trang trại theo hƣớng bền vững đó là việc phát

triển kinh tế phải đảm bảo đƣợc hiệu quả về mặt kinh tế, xã hội, môi trƣờng

cụ thể nhƣ sau:

* Hiệu quả kinh tế: Yếu tố kinh tế đóng vai trò quan trọng trong phát

triển bền vững. Nó thúc đẩy sự phát triển của cả hệ thống kinh tế, tạo cơ hội

tiếp xúc với những nguồn tài nguyên thiên nhiên đƣợc chia sẻ một cách bình

đẳng. Yếu tố đƣợc chú trọng ở đây phải là tạo ra sự thịnh vƣợng chung cho tất

cả mọi ngƣời, không chỉ tập trung mang lại lợi nhuận cho một số ít, trong một



7



giới hạn cho phép của hệ sinh thái cũng nhƣ không xâm phạm những quyền

cơ bản của con ngƣời. Hiệu quả kinh tế phản ánh mối tƣơng quan giữa kết

quả hữu ích về mặt kinh tế và chi phí bỏ ra. Nó đánh giá chủ yếu về mặt kinh

tế và hoạt động sản xuất.

* Hiệu quả xã hội: Là mối tƣơng quan so sánh giữa kết quả của các lợi

ích về xã hội và tổng chi phí xã hội. Kết quả của các lợi ích xã hội nhƣ cải

thiện điều kiện làm việc, điều kiện sống, tăng việc làm, giải quyết thoả đáng

giữa các lợi ích xã hội. Khía cạnh xã hội của phát triển bền vững cần chú

trọng vào sự phát triển sự công bằng và xã hội luôn cần tạo điều kiện thuận

lợi cho lĩnh vực phát triển con ngƣời và cố gắng cho tất cả mọi ngƣời cơ hội

phát triển tiềm năng bản thân và có điều kiện sống chấp nhận đƣợc.

* Hiệu quả về mơi trƣờng: Khía cạnh mơi trƣờng trong phát triển bền

vững đòi hỏi chúng ta duy trì sự cân bằng giữa bảo vệ môi trƣờng tự nhiên

với sự khai thác nguồn tài nguyên thiên nhiên phục vụ lợi ích con ngƣời nhằm

mục đích duy trì mức độ khai thác những nguồn tài nguyên ở một giới hạn

nhất định cho phép môi trƣờng tiếp tục hỗ trợ điều kiện sống cho con ngƣời

và các sinh vật sống trên trái đất.

* Hiệu quả kinh tế xã hội: Phản ánh mối tƣơng quan giữa kết quả tổng

hợp về mặt kinh tế và xã hội với các chi phí bỏ ra để đạt kết quả đó.

* Hiệu quả phát triển và bền vững: Là hiệu quả kinh tế xã hội có đƣợc

do những tác động hợp lý để tạo ra nhịp điệu tăng trƣởng tốt và đảm bảo

những lợi ích kinh tế - xã hội, bảo vệ môi trƣờng ở hiện tại và tƣơng lai.

1.1.2. Vai trò của phát triển kinh tế trang trại theo hướng bền vững

Trong điều kiện nƣớc ta hiện nay, vai trò và hiệu quả phát triển của

kinh tế trang trại phải đƣợc đánh giá nhìn nhận trên 3 mặt: Hiệu quả kinh tế,

hiệu quả xã hội và hiệu quả về bảo vệ tài ngun mơi trƣờng.

Vai trò này thể hiện rõ nét các vấn đề chủ yếu sau đây:

* Về mặt kinh tế.



8



Các trang trại góp phần vào sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế, phát triển

các loại cây trồng, vật ni có giá trị hàng hóa cao, khắc phục dần tình trạng

sản xuất phân tán, manh mún, lạc hậu tạo nên những vùng chun mơn hóa,

tập trung hàng hóa và thâm canh cao. Mặt khác qua thúc đẩy chuyển dịch cơ

cấu kinh tế trang trại, góp phần phát triển công nghiệp, đặc biệt là công

nghiệp chế biến và dịch vụ sản xuất nông thôn.

Thực tế cho thấy việc phát triển kinh tế trang trại bao giờ cũng đi liền với

việc khai thác và sử dụng một cách đầy đủ và hiệu quả trong nông nghiệp, nông

thôn so với kinh tế hộ. Do vậy, phát triển kinh tế trang trại góp phần tích cực thúc

đẩy sự tăng trƣởng và phát triển nông nghiệp nông thôn và kinh tế nông thôn.

* Về mặt xã hội.

Phát triển kinh tế trang trại góp phần quan trọng làm tăng số hộ giàu

trong nông thôn, tạo việc làm, tăng thu nhập, an ninh trật tự xã hội. Điều này

giải quyết một trong những vấn đề bức xúc trong nơng thơn nƣớc ta. Mặt

khác, còn thúc đấy phát triển kết cấu hạ tầng trong nông thôn, khơng ngừng

nâng cao trình độ văn hóa - xã hội cho nhân dân.

* Về bảo vệ tài nguyên môi trƣờng.

Bên cạnh lợi ích về kinh tế và xã hội, Nhà nƣớc và cộng đồng còn thu

đƣợc lợi ích về tài ngun và mơi trƣờng. Phát triển trang trại đã góp phần

khai thác và sử dụng có hiệu quả tài nguyên nơng nghiệp (đất, mặt nƣớc, khí

hậu, thời tiết), đƣa đất đai vào sử dụng đem lại hiệu quả cao. Ngoài ra còn tận

dụng đƣợc mặt nƣớc ni trồng thủy sản, bảo vệ mơi trƣờng, sinh thái...

1.1.3. Tiêu chí nhận diện trang trại

Để nhận dạng hay nói cách khác là xác định một đơn vị sản xuất cơ sở

trong nông nghiệp có phải là một trang trại hay khơng cần phải có tiêu chí xác

định. Tiêu chí xác định trang trại dựa trên các đặc trƣng cơ bản nhất của trang

trại, nhƣng cần đơn giản dễ vận dụng. Trên lý thuyết tiêu chí xác định một



9



trang trại gồm cả định tính và định lƣợng, cần phải kết hợp cả hai mặt trên để

vận dụng. Theo Thông tƣ liên tịch số 27/2011/TTLT/BNN-TCTK ngày

13/4/2011 hƣớng dẫn tiêu chí để xác định trang trại nhƣ sau:

1) Đối tượng áp dụng

- Cá nhân, hộ gia đình có hoạt động sản xuất nơng nghiệp, lâm nghiệp,

ni trồng thủy sản đạt tiêu chí xác định kinh tế trang trại theo quy định của

thông tƣ này.

- Tổ chức, cá nhân khác liên quan đến việc cấp, cấp đổi, cấp lại và thu hồi

giấy chứng nhận kinh tế trang trại.

2) Phân loại trang trại

a) Các trang trại đƣợc xác định theo lĩnh vực sản xuất nhƣ sau:

- Trang trại trồng trọt,

- Trang trại chăn nuôi,

- Trang trại lâm nghiệp,

- Trang trại nuôi trồng thủy sản,

- Trang trại tổng hợp

b) Trang trại chuyên ngành (Trồng trọt, chăn nuôi, lâm nghiệp, ni trồng thủy

sản) là trang trại có tỷ trong giá trị sản lƣợng nơng sản hàng hóa của ngành

chiếm 50% cơ cấu giá trị sản lƣợng hàng hóa của trang trại trong năm. Trƣờng

hợp khơng có ngành nào chiếm 50% cơ cấu giá trị sản lƣợng hàng hóa thì đƣợc

gọi là trang trại tổng hợp.

3) Quy mô sản xuất

* Đối với trang trại trồng trọt, nuôi trồng thủy sản, sản xuất tổng hợp

phải đạt:

a) Có diện tích trên mức hạn điền, tối thiều:

- 3,1 ha đối với vùng Đông Nam Bộ và đồng bằng Sông Cửu Long;

- 2,1 ha đối với các tỉnh còn lại.



10



b) Giá trị sản lƣợng hàng hóa đạt 700 triệu đồng/năm.

* Đối với trang trại chăn ni phải đạt giá trị sản lƣợng hàng hóa từ

1.000 triệu đồng/năm trở lên.

* Đối với cơ sở sản xuất lâm nghiệp phải có diện tích tối thiểu 31 ha và

giá trị sản lƣợng hàng hóa bình qn đạt 500 triệu đồng/năm trở lên.

Theo tiêu chí mới của Bộ Nơng nghiệp và phát triển nông thôn là để

hƣớng trang trại đến sự phát triển bền vững, lấy hiệu quả làm thƣớc đo hàng

đầu, phù hợp với quá trình phát triển của cơng nghiệp hóa, hiện đại hóa nơng

nghiệp, nơng thơn.

Nhƣ vậy theo tiêu chí của Bộ nơng nghiệp và phát triển nơng thơn thì

mới đƣa ra đƣợc các tiêu chí để xác định kinh tế trang trại về mặt kinh tế

nhƣng để phát triển kinh tế trang trại theo hƣớng bền vững thì phải đảm bảo ở

cả 3 mặt là kinh tế, xã hội, môi trƣờng tức là mở rộng qui mô với cơ cấu hợp

lý, không ngừng nâng cao năng suất chất lƣợng và thực hiện hài hoà 3 mục

tiêu: kinh tế, xã hội, môi trƣờng.

1.1.4. Nội dung nghiên cứu phát triển kinh tế trang trại theo hướng bền vững

Từ khái niệm kinh tế trang trại đã nêu ở trên để phân biệt trang trại với

các hình thức tổ chức sản xuất kinh doanh cơ sở khác và với kinh tế hộ phải

dựa vào các đặc trƣng sau:

- Sản xuất hàng hóa là mục đích hàng đầu của trang trại.

Do yêu cầu sản xuất hàng hóa, các yếu tố vật chất của sản xuất đƣợc tập

trung với quy mô nhất định.

- Tƣ liệu sản xuất thuộc quyền sở hữu hoặc quyền sử dụng của một

ngƣời chủ cụ thể.

Mọi hoạt động sản xuất kinh doanh của trang trại do chủ trang trại tự

quyết hoàn toàn, tự lựa chọn phƣơng hƣớng sản xuất đến tiêu thụ sản phẩm và

phân phối kết quả sản xuất kinh doanh.



11



- Chủ trang trại là ngƣời có ý chí, có năng lực tổ chức quản lý, có kiến

thức và kinh nghiệm sản xuất kinh doanh nơng nghiệp và thƣờng là ngƣời

trực tiếp quản lý trang trại.

- Tổ chức quản lý sản xuất của trang trại tiến bộ hơn so với kinh tế hộ,

trang trại có nhu cầu cao hơn về ứng dụng tiến bộ kỹ thuật và thƣờng xuyên

tiếp cận thị trƣờng.

- Để tiến hành sản xuất, hầu hết các trang trại đều có thuê ngƣời lao

động. Mức thu nhập khác ở trang trại cao hơn hẳn so với mức thu nhập bình

qn của nơng hộ trong vùng.

1.1.4.1. Các nguồn lực phát triển kinh tế trang trại theo hướng bền vững

a) Nguồn lực đất đai cho phát triển kinh tế trang trại

Kinh tế trang trại là một đơn vị sản xuất hàng hóa muốn phát triển

trƣớc tiên cần một diện tích đất đủ lớn để có thể xây dựng hệ thống chuồng

trại, hệ thống cơng trình phục vụ sản xuất và một diện tích đất đủ lớn để tiến

hành sản xuất. Có thể nói nguồn lực đất đai là điều kiện tiên quyết, quyết định

và ảnh hƣởng đến phƣơng hƣớng sản xuất cũng nhƣ quy mô sản xuất của các

trang trại. Để phát triển bền vững của các trang trại cần có sự điều chỉnh đất

đai trong các trang trại theo hƣớng tăng quy mô bằng cách tiếp tục khuyến

khích dồn điền, đổi thửa để tích tụ ruộng đất. Khuyến khích các hộ có điều

kiện đầu tƣ thuê đất nhất là đất trồng cây hàng năm và diện tích mặt nƣớc

ni trồng thuỷ sản để đầu tƣ sản xuất hàng hoá. Đẩy mạnh việc cấp giấy

chứng nhận quyền sử dụng đất cho các trang trại đủ điều kiện để các trang trại

yên tâm đầu tƣ sản xuất, kinh doanh. Đồng thời, khi có giấy chứng nhận

quyền sử dụng đất, việc tiếp cận các nguồn vốn tín dụng của trang trại sẽ

đƣợc thuận lợi hơn.

b) Nguồn vốn cho phát triển kinh tế trang trại

Trong các nguồn lực phát triển kinh tế - xã hội nơng thơn nói chung,

kinh tế trang trại nói riêng, vốn là nguồn lực quan trọng. Việc hình thành và



12



phát triển kinh tế trang trại đòi hỏi vốn lớn hơn so với kinh tế hộ vì quy mơ

sản xuất lớn hơn. Nhà nƣớc đã thành lập các hệ thống ngân hàng từ trung

ƣơng đến địa phƣơng, đặc biệt là hệ thống ngân hàng nông nghiệp để phục vụ

cho phát triển kinh tế nông nghiệp ngày càng tiến xa hơn và vững chắc.

c) Áp dụng khoa học kĩ thuật để phát triển kinh tế trang trại

Trong điều kiện sản xuất hiện nay thì việc ứng dụng công nghệ mới vào

sản xuất là hết sức quan trọng. Nó giúp các trang trại tiết kiệm đƣợc thời gian,

công lao động lại nâng cao đƣợc chất lƣợng sản phẩm của mình sản xuất ra

sản phẩm. Đầu tƣ nghiên cứu khoa học và đƣa tiến bộ kỹ thuật mới vào sản

xuất nông nghiệp để tăng năng suất và chất lƣợng giống cây trồng vật nuôi.

Tăng cƣờng công tác kỹ thuật phục vụ sản xuất của các trang trại nhƣ khuyến

nông, bảo vệ thực vật, thú y,… để thực hiện việc hƣớng dẫn chuyển giao kỹ

thuật nơng nghiệp, phòng dịch sâu bệnh, phục vụ tƣới tiêu,… và việc áp dụng

các quy trình cơng nghệ sản xuất mới, hiện đại theo hƣớng bền vững vào sản

xuất của các trang trại.

Xây dựng mối liên kết hợp đồng giữa các trang trại với nhà khoa học. Nhà

khoa học nghiên cứu chế tạo máy móc, thiết bị, nghiên cứu lai tạo giống cây trồng

vật nuôi và chuyển giao công nghệ, hƣớng dẫn kỹ thuật canh tác làm tăng năng

suất, tăng hàm lƣợng chất xám trong các sản phẩm của trang trại.

d) Xây dựng cơ sở hạ tầng phát triển kinh tế trang trại

Cơ sở hạ tầng nông thôn, kết cấu hạ tầng cơ sở nông nghiệp là yếu tố

quan trọng tác động đến sự phát triển kinh tế trang trại theo hƣớng bền vững.

Các trang trại xây dựng xa khu dân cƣ đều có giao thơng đi lại khó khăn. Hệ

thống đƣờng dẫn ra các trang trại chủ yếu là đƣờng cấp phối, đƣờng đất, đi lại

khó khăn đặc biệt là về mùa mƣa

e) Tiêu thụ sản phẩm của trang trại



13



Sản phẩm nông nghiệp có đặc điểm khi tiêu thụ là sản phẩm tƣơi sống,

khó khăn cho việc bảo quản, sản phẩm nơng nghiệp mang tính mùa vụ và có

đặc điểm là cung muộn khơng thể đáp ứng một cách ngay lập tức, vì đối tƣợng

sản xuất nông nghiệp là những sinh vật sống nên cần có thời gian sinh trƣởng,

phát triển sau đó mới đến bƣớc thu hoạch. Do đó, dù giá nơng sản rất cao, các

nông trại phải mất hàng tháng, thậm chí hàng năm mới có đƣợc sản phẩm.

Sản phẩm nơng nghiệp có đặc điểm khi tiêu thụ là sản phẩm tƣơi sống,

do đó khó khăn trong việc bảo quản, sản phẩm nơng nghiệp mang tính mùa vụ

cao (đặc biệt là sản phẩm trồng trọt) và có đặc điểm là khơng thể đáp ứng

ngay lập tức nhu cầu của thị trƣờng, vì đối tƣợng sản xuất của ngành nơng

nghiệp là các sinh vật sống, có chu kỳ sinh trƣởng và phát triển dài ngày

không thể tác động đƣợc nhƣ các sản phẩm cơng nghiệp. Do đó, các sản phẩm

nơng nghiệp thƣờng rơi vào tình trạng đƣợc mùa mất giá và mất mùa thì đƣợc

giá, và giá bán giữa đầu vụ, cuối vụ và chính vụ cho sự chênh lệch khá lớn.

Mặt khác, các sản phẩm của các trang trại chủ yếu đƣợc bán cho tƣ thƣơng

khơng có hợp đồng tiêu thụ mà chủ yếu là thỏa thuận miệng và lúc có sản

phẩm thì trang trại gọi tƣ thƣơng vào mua nên đôi lúc thƣờng bị ép giá và đôi

lúc không bán đƣợc sản phẩm.

1.1.4.2. Hiệu quả phát triển kinh tế trang trại theo hướng bền vững

Kinh tế trang trại tuy mới hình thành và phát triển nhƣng đã chứng tỏ

nhiều lợi thế và có nhiều tích cực. Đây là mơ hình, hình thức tổ chức sản xuất

tiên tiến, cho năng suất và hiệu quả kinh tế cao, biến những vùng đất đồi khó

canh tác lâu nay thành thế mạnh trong việc xây dựng phát triển kinh tế trang

trại; việc hình thành các vùng kinh tế trang trại tập trung đồng thời cũng tạo

điều kiện để tạo lập các vùng sản xuất hàng hố lớn, góp phần vào việc

chuyển dịch cơ cấu sản xuất trong nơng nghiệp.



14



Kinh tế trang trại góp phần khai thác thêm nguồn vốn trong nhân dân cho

đầu tƣ phát triển, khai thác và sử dụng nguồn đất kém hiệu quả, đồi núi mặt

nƣớc ao hồ, cải thiện môi trƣờng sinh thái tăng thu nhập cho ngƣời dân.

Kinh tế trang trại từng bƣớc làm thay đổi tập quán sản xuất tự cung tự

cấp để chuyển sang sản xuất hàng hoá theo cơ chế thị trƣờng, chú trọng đầu

tƣ. Áp dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất nhằm đem lại hiệu quả

kinh tế cao, tạo điều kiện giải quyết việc làm cho ngƣời lao động.

Bên cạnh hiệu quả về kinh tế kinh tế trang trại còn có ý nghĩa về mặt xã

hội nhƣ: Giải quyết việc làm cho lao động tại nơng thơn, góp phần xố đói

giảm nghèo, xây dựng nền nơng nghiệp nơng thơn phát triển bền vững.

1.1.5. Các yếu tố ảnh hưởng đến phát triển kinh tế trang trại theo hướng

bền vững

1.1.5.1. Điều kiện sản xuất của các trang trại

Tuy nguồn cơ sở vật chất của các trang trại bƣớc đầu đã đáp ứng đƣợc

q trình sản xuất của trang trại nhƣng vẫn còn nhiều hạn chế nhƣ: Hệ thống

chuồng trại đầu tƣ còn thô sơ, đa phần chuồng trại chăn nuôi là chuồng hở, rất

dễ lây lan các nguồn bệnh từ bên ngoài; chƣa có hệ thống máng ăn, máng

uống hiện đại; chƣa có hệ thống tiêu độc, khử trùng; các trang thiết bị còn thơ

sơ và thiếu. Điều này ảnh hƣởng rất lớn đến hiệu quả sản xuất của các trang

trại nhất là vấn đề kiểm sốt dịch bệnh, giảm chi phí sản xuất và giảm thiểu ô

nhiễm môi trƣờng.

1.1.5.2. Nguồn lực của địa phương

a) Đất đai

Kinh tế trang trại là một đơn vị sản xuất hàng hóa muốn phát triển trƣớc

tiên cần một diện tích đất đủ lớn để có thể xây dựng hệ thống chuồng trại, hệ

thống cơng trình phục vụ sản xuất và một diện tích đất đủ lớn để tiến hành sản

xuất. Có thể nói nguồn lực đất đai là điều kiện tiên quyết, quyết định và ảnh

hƣởng đến phƣơng hƣớng sản xuất cũng nhƣ quy mô sản xuất của các trang trại.



15



Đất của các trang trại chủ yếu chƣa đƣợc cấp giấy chứng nhận quyền sử

dụng đất chính điều đó làm chủ trang trại khơng đầu tƣ phát triển. Quá trình

tập trung đất đai trên cơ sở chuyển nhƣợng, chuyển đổi giữa các hộ sử dụng

diễn ra quá chậm.

Thời hạn cho thuê đất nông nghiệp quá ngắn và tƣ tƣởng giữ đất để đền

bù khi thu hồi nên hạn chế việc chuyển đổi, chuyển nhƣợng, cho thuê, tích tụ

ruộng đất xây dựng trang trại.

b) Lao động

Hiệu quả sản xuất kinh doanh của các trang trại phụ thuộc rất lớn vào số

lƣợng và chất lƣợng của ngƣời lao động trong mỗi trang trại. Đối với chủ

trang trại (lao động quản lý) thì thực tế cho thấy chủ trang trại đa phần là

nơng dân có sự hiểu biết về kinh doanh hạn chế. Tuy có nhiều kinh nghiệm

thực tế nhƣng thiếu kiến thức kỹ thuật, tổ chức quản lý và điều hành hoạt

động sản xuất kinh doanh theo hƣớng sản xuất hàng hóa quy mơ lớn trong

nền kinh tế thị trƣờng.

Về lao động sản xuất chủ yếu là lao động phổ thơng, số ít có kinh

nghiệm thực tiễn nhƣng thiếu kiến thức về kỹ thuật chuyên môn.

c) Cơ sở hạ tầng

Cơ sở hạ tầng nông thôn, kết cấu hạ tầng cơ sở nông nghiệp là yếu tố

quan trọng tác động đến sự phát triển kinh tế trang trại theo hƣớng bền vững.

Sự yếu kém của cơ sở hạ tầng sẽ cản trở sự phát triển của trang trại trên các

phƣơng diện nhƣ: sự cung ứng các yếu tố đầu vào bị hạn chế, việc mua bán,

tiêu thụ sản phẩm khó khăn, hạn chế việc tiếp cận thơng tin và thị trƣờng của

các trang trại,…

d) Cơ chế, chính sách hỗ trợ vốn

Nhu cầu về vốn của các trang trại là rất lớn, có khoảng hơn 90% các chủ

trang trại có nhu cầu vay vốn với mức bình quân từ 50-60 triệu đồng/năm/



16



trang trại để đầu tƣ phát triển hoạt động của trang trại mình, nhƣng khả năng

tự thân của các trang trại còn nhiều hạn chế.

Thiếu vốn hiện đang là vấn đề bức xúc đối với các trang trại và là vấn đề

thời sự trong nông nghiệp nông thôn hiện nay. Thiếu vốn các trang trại không

thể đầu tƣ phát triển chiều sâu.

Các chủ trang trại rất cần nguồn vốn vay khác mặc dù ngân hàng đã cho

vay thế chấp nhƣng thời gian vay quá ngắn (1 năm) chƣa đủ thời gian để cho

các trang trại quay vòng vốn.

1.1.5.3. Thị trường tiêu thụ

Thị trƣờng có vai trò tác động rất lớn đến hiệu quả của q trình sản xuất

nói chung và kinh tế trang trại nói riêng.

Trong một số năm gần đây, do tình hình dịch bệnh trong sản xuất nông

nghiệp rất phát triển và phức tạp nhƣ dịch cúm gia cầm, dịch tai xanh ở lợn,

dịch lở mồm long móng ở gia súc… điều này làm cho thị trƣờng luôn biến

động. Dẫn đến giá cả lên xuống thất thƣờng, làm cho các trang trại khó khăn

trong việc sản xuất cũng nhƣ tiêu thụ sản phẩm của mình.

Hình thức tiêu thụ sản phẩm của các trang trại hiện nay chủ yếu là bán

cho thƣơng lái (tƣ thƣơng) và sản phẩm là thô chƣa qua chế biến. Do lực

lƣợng tƣ thƣơng là lực lƣợng chính trong tiêu thụ nên giá cả trên thị trƣờng

các trang trại đƣợc biết chủ yếu thông qua thƣơng lái.

Hơn nữa, một trong những đặc điểm của sản xuất nơng nghiệp là có tính

thời vụ nên đã gây ra sự biến động giá cả thị trƣờng theo mùa vụ. Giữa mùa

thu hoạch chính và mùa thu hoạch phụ có sự chênh lệch giá cả rất lớn. Ngồi

ra, chất lƣợng của sản phẩm cũng là yếu tố ảnh hƣởng rất lớn đến biến động

giá cả sản phẩm.

Đối với các trang trại trồng cây ăn quả, do phần lớn các trang trại khơng

có khả năng dự trữ hay bảo quản hoặc chế biến nên thƣờng bị ép giá, phải bán

nhanh bán vội cho thƣơng lái để thu hồi vốn.



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

b) Phát triển kinh tế trang trại

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×