Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Hình 3.3: Đồ thị cơ chế chính sách BHNN ảnh hưởng đến việc giam giaBHNN của các hộ

Hình 3.3: Đồ thị cơ chế chính sách BHNN ảnh hưởng đến việc giam giaBHNN của các hộ

Tải bản đầy đủ - 0trang

67



quen tham gia BHNN, do đó để thay đổi thói quen này cần một q trình chứ

khơng thể nơn nóng. Việc ngƣời dân có tham gia BHNN hay khơng còn ảnh

hƣởng bởi cơ chế chính sách của Nhà nƣớc về lĩnh vực này cũng nhƣ sự vào

cuộc của các doanh nghiệp bảo hiểm. Bên cạnh đó, việc sản xuất manh mún,

chăn nuôi nhỏ lẻ cũng khiến ngƣời dân không chú ý đến việc bảo hiểm cho

vật ni của mình.

3.5. Thuận lợi và khó khăn trong triển khai bảo hiểm cho chăn ni bò

thịt của người dân

3.5.1. Thuận lợi

3.5.1.1. Chăn ni bò thịt của huyện Sơng Lơ có nhiều cơ hội phát triển.

Trên thực tế cho thấy, Sông Lô là huyện miền núi, cơ cấu kinh tế vẫn

chủ yếu là nông nghiệp, lại có nhiều điều kiện tự nhiên thuận lợi cho việc phát

triển đàn bò thịt. Trong chính sách phát triển chăn nuôi của tỉnh, tại Quyết

định số 3309/QĐ-UBND ngày 11/11/2014 của UBND tỉnh Vĩnh phúc về việc

phê duyệt quy hoạch chăn nuôi theo vùng cũng đã lựa chọn Sông Lơ là huyện

phát triển chăn ni bò thịt trọng điểm. [19]

Bên cạnh đó, nhu cầu của thị trƣờng của nƣớc ta về thịt bò lại càng gia

tăng, trong khi đó, tổng đàn bò thịt hiện tại của cả nƣớc lại chƣa đáp ứng đƣợc

nhu cầu này. Do đó, chăn ni bò thịt vẫn có một thị trƣờng rộng lớn cho ngƣời

nơng dân trên cả nƣớc nói chung và ngƣời dân huyện Sơng Lơ nói riêng.

3.5.1.2. Bảo hiểm nơng nghiệp là chương trình có nhiều ưu điểm trong lĩnh

vực nơng nghiệp, nơng thơn, mang lại nhiều lợi ích cho người dân.

BHNN là một biện pháp hiệu quả trong việc xử lý các rủi ro nhằm giảm

thiểu thiệt hại cho nông dân. Ngƣời dân tham gia bảo hiểm chỉ cần đóng một

khoản phí nhỏ thay vì tự tích lũy để có thể chủ động đối phó với các rủi ro

nếu xảy ra. Tham gia BHNN, các rủi ro từ phía ngƣời nơng dân đƣợc chuyển

giao cho các công ty bảo hiểm. BHNN mang lại sự ổn định tài chính cho nơng



68



dân, tạo điều kiện cho nông dân tiếp cận đƣợc với các hình thức bảo hiểm

theo ngun tắc tự nguyện, theo đó nông dân sẽ đƣợc đền bù tổn thất khi thiên

tai, dịch bệnh xảy ra, góp phần tích cực trong việc khắc phục thiệt hại về tài

chính. BHNN là một trong những giải pháp quan trọng nhằm giải quyết triệt

để xóa đói, giảm nghèo cho nơng dân, phát triển nơng nghiệp, nơng thơn theo

hƣớng bền vững. Chính vì BHNN có tác dụng rất lớn đối với ngƣời dân nói

chung và ngƣời chăn ni bò thịt trên địa bàn huyện Sơng Lơ nói riêng nên sẽ

thu hút đƣợc các hộ nơng dân tham gia.

3.5.1.3. Các cơ chế, chính sách về bảo hiểm nông nghiệp được ban hành khá

đầy đủ, đồng bộ.

Trong quá trình triển khai thí điểm BHNN theo Quyết định số 315/QĐTTg, Bộ Tài chính, Bộ Nơng nghiệp & PTNT đã ban hành các văn bản hƣớng

dẫn thực hiện Quyết định này, cụ thể:

+ Bộ Nông nghiệp & PTNT đã ban hành Thông tƣ số 47/2011/TTBNNPTNT ngày 29/6/2011 hƣớng dẫn việc lựa chọn địa bàn, đối tƣợng đƣợc

bảo hiểm, ban hành quy trình, tiêu chuẩn trồng lúa, chăn ni, ni trồng thủy

sản đối với các đối tƣợng tham gia thí điểm BHNN. Trong q trình triển

khai, có một số điểm cần điều chỉnh nên ngày 23/8/2012, Bộ Nông nghiệp &

PTNT đã ban hành Thông tƣ số 43/2012/TT-BNNPTNT sửa đổi, bổ sung một

số điều của số 47/2011/TT-BNNPTNT ngày 29/6/2011. [4, 5]

+ Bộ Tài chính đã ban hành Thơng tƣ hƣớng dẫn về việc thí điểm

BHNN, hƣớng dẫn hỗ trợ kinh phí cho các đối tƣợng chính sách (Thơng tƣ số

121/2011/TT-BTC ngày 17/8/2011 và Thông tƣ số 57/2013/TT-BTC ngày

06/5/2013 sửa đổi, bổ sung Thông tƣ 121/2011/TT-BTC); đồng thời đã ban

hành Quy tắc, biểu phí và mức trách nhiệm BHNN (Quyết định 3035/QĐBTC ngày 16/12/2011 và Quyết định 2114/QĐ-BTC ngày 24/8/2012 sửa đổi,

bổ sung một số điều của Quyết định 3035/QĐ-BTC) để thực hiện thống nhất

trên cả nƣớc.[2,3]



69



Các văn bản pháp luật nói trên nhìn chung là khá đầy đủ, đồng bộ, tạo

điều kiện cho các địa phƣơng, các doanh nghiệp bảo hiểm tổ chức triển khai

thực hiện. Mặc dù còn có những điểm chƣa phù hợp với thực tiễn ở một số

địa phƣơng, song các cơ chế chính sách này đã thể hiện đúng định hƣớng chỉ

đạo của Chính phủ và là cơ sở pháp lý quan trọng để triển khai thí điểm cũng

nhƣ triển khai đại trà sau này. Từ đó, ngƣời dân sẽ có cơ hội tiếp cận với loại

hình BHNN một cách dễ dàng hơn.

3.5.1.4. Có sự hỗ trợ của Nhà nước

Hiện nay chính phủ có nhiều chủ trƣơng chính sách hỗ trợ, khuyến

khích bảo hiểm nơng nghiệp phát triển. Theo Quyết định 315/QĐ-TTg ngày

01/3/2011 và Quyết định số 358/QĐ-TTg ngày 27/2/2013 của Thủ tƣớng

Chính phủ thì các hộ nơng dân thuộc diện nghèo sẽ đƣợc hỗ trợ 100% phí

bảo hiểm; đối với hộ nông dân, cá nhân cận nghèo sản xuất nơng nghiệp đƣợc

trợ giúp 90% phí bảo hiểm, và trợ giúp 60% phí bảo hiểm cho hộ nơng dân,

cá nhân không thuộc diện nghèo, cận nghèo sản xuất nông nghiệp; các tổ

chức sản xuất nông nghiệp tham gia thí điểm bảo hiểm nơng nghiệp đƣợc trợ

giúp 20% phí bảo hiểm. Điều này sẽ giúp cho ngƣời dân giảm mức phí khi

đóng BHNN, khuyến khích nhiều ngƣời dân tham gia. Bên cạnh đó, Nhà

nƣớc cũng có một số chính sách hỗ trợ các doanh nghiệp khi tham gia thí

điểm BHNN, vì thế đã tạo thuận lợi cho các doanh nghiệp này hoạt động,

phục vụ tốt hơn cho ngƣời dân khi tham gia BHNN, nhất là công tác chi trả

tiền bồi thƣờng. Mặc dù cơ chế chính sách hỗ trợ còn những điểm chƣa thực

sự đáp ứng hết mong muốn của doanh nghiệp bảo hiểm nhƣng cũng đã phần

nào giảm bớt khó khăn cho doanh nghiệp.[17,18]

Huyện Sơng Lơ cũng là một huyện đi đầu trong công tác hỗ trợ cho

ngƣời dân để giúp cho BHNN phát triển. Mặc dù ngân sách còn hạn hẹp, sự

hỗ trợ mới chỉ mang tính chất thí điểm nhƣng đó cũng là sự quan tâm rất lớn



70



giúp cho ngƣời nơng dân có cơ hội đƣợc tiếp cận với BHNN, giúp họ chủ

động đối mặt với rủi ro, sớm khắc phục các thiệt hại về tài chính khi có rủi ro

để sớm ổn định sản xuất.

3.5.1.5. Người chăn nuôi đã nâng cao ý thức quản lý rủi ro

Sau những thiệt hại do thiên tai, dịch bệnh xảy ra trên địa bàn huyện Sông

Lô, ngƣời dân đã phần nào nâng cao ý thức trong việc hạn chế rủi ro và mong

muốn đƣợc giảm thiểu rủi ro trong q trình chăn ni bò thịt. Chính vì vậy mà

ngƣời dân cũng muốn tham gia BHNN để hạn chế những rủi ro đó.

3.5.1.6. Vĩnh Phúc đã có kinh nghiệm về triển khai chương trình BHNN

Là một trong 20 tỉnh thành trên cả nƣớc đƣợc chọn làm thí điểm triển

khai chƣơng trình BHNN. Sau hơn 2 năm triển khai, Vĩnh Phúc đã thu đƣợc

kết quả đáng kể, nhất là bảo hiểm trong chăn nuôi. Mặc dù huyện Sông Lô

không đƣợc chọn làm thí điểm nhƣng sẽ có cơ hội học hỏi kinh nghiệm triển

khai của các huyện bạn trên địa bàn tỉnh nhƣ: Huyện Lập Thạch, Tam Dƣơng,

Vĩnh Tƣờng. Những kinh nghiệm triển khai thí điểm của 3 huyện trong tỉnh

sẽ là bài học quý báu để lãnh đạo cũng nhƣ ngƣời dân huyện Sông Lô học hỏi,

rút kinh nghiệm. Bên cạnh đó, ngƣời dân cũng sẽ có cơ hội tiếp cận dễ dàng

với các đại lý bảo hiểm khi giai đoạn thí điểm kết thúc, vì sau giai đoạn này,

các đại lý sẽ mở rộng ra các huyện khác, trong đó có huyện Sơng Lơ.

3.5.2. Khó khăn

3.5.2.1. Nhận thức của người dân về BHNN còn hạn chế

Chính vì điều này mà dẫn đến tình trạng nhiều ngƣời dân chƣa thực sự

hiểu về chính sách BHNN, thậm chí có ngƣời còn chƣa nghe nói bao giờ. Chƣa

biết, chƣa hiểu rõ khiến cho ngƣời dân còn hoang mang, nghi ngờ dẫn đến việc

ngƣời dân quyết định không tham gia BHNN là điều dễ hiểu. Nguyên nhân của

tình trạng này một phần là do trình độ của ngƣời dân, nhất là ngƣời dân nơng

thơn còn thấp. Theo kết quả ở trên thì có tới gần 70% số chủ hộ đƣợc điều tra



71



có trình độ chun mơn chƣa qua đào tạo. Bên cạnh đó là do cơng tác thơng tin

tun truyền còn hạn chế, chƣa quyết liệt. Chính vì điều này khiến cho nhiều

ngƣời dân chƣa hiểu hết về chính sách BHNN, đặc biệt là tác dụng của việc

tham gia BHNN. Đây là một rào cản khiến cho thị trƣờng bảo hiểm của nƣớc ta

chƣa thực sự phát triển. Làm sao phải làm cho ngƣời dân hiểu đƣợc tham gia

BHNN là bảo vệ tài sản cho chính gia đình mình, theo quy luật số đơng bù số ít,

chia sẻ rủi ro lẫn nhau chứ không phải là tham gia với quan điểm đã tham gia là

phải đƣợc bồi thƣờng và khi nào xảy ra rủi ro thì mới tham gia. Có nhƣ vậy thì

thị trƣờng BHNN mới phát triển bền vững và là chỗ dựa vững chắc cho ngƣời

chăn ni trên cả nƣớc nói chung và ngƣời chăn ni huyện Sơng Lơ nói riêng.

3.5.2.2. Người dân chưa có thói quen tham gia bảo hiểm nơng nghiệp

Đặc điểm tập qn của ngƣời dân chƣa có thói quen mua bảo hiểm, sự

hiểu biết về bảo hiểm còn rất kém, đối với họ mua bảo hiểm khơng phải để đề

phòng khi rủi ro mà còn làm tăng chi phí và giảm lợi nhuận. Chính vì thói

quen từ rất lâu đời nhƣ vậy nên việc đƣa chƣơng trình BHNN đến với ngƣời

chăn ni gặp khó khăn. Bên cạnh đó là tâm lý trơng chờ vào sự hỗ trợ của

Nhà nƣớc nên ngƣời dân chƣa có thói quen chủ động trong việc bảo đảm tài

sản của mình.

Nếu nhƣ khơng có sự hỗ trợ của Nhà nƣớc thì rất khó để ngƣời dân tự

nguyện tham gia loại hình bảo hiểm này. Đây cũng là vấn đề cần đặt ra đối với

chính quyền địa phƣơng. Vì BHNN còn mới nên sự hỗ trợ ngƣời dân là rất cần

thiết, muốn vậy ngoài sự hỗ trợ từ phía huyện thì các xã, thị trấn trên địa bàn

cần chủ động hỗ trợ và tạo điều kiện cho ngƣời dân tiếp cận với BHNN.

3.5.2.3. Quy mơ chăn ni bò thịt nhỏ lẻ

Khi quy mơ sản xuất nhỏ thì khả năng tham gia bảo hiểm rất hạn chế,

chi phí bảo hiểm rất lớn, làm cho chi phí tham gia bảo hiểm của ngƣời chăn

ni hay chi phí của doanh nghiệp đảm nhiệm cơng tác bảo hiểm cao lên. Đó

chính lá khó khăn của cả 2 bên tham gia bảo hiểm.



72



Trên địa bàn huyện Sông Lô, chăn ni bò thịt hiện nay vẫn chủ yếu là

quy mơ nhỏ lẻ. Điều này cản trở cho việc tham gia và triển khai công tác bảo

hiểm. Quy mô nhỏ lẽ khiến các doanh nghiệp bảo hiểm không muốn tiến hành

bảo hiểm và ngƣời chăn ni cũng ít chú trọng đến việc bảo hiểm cho vật ni.

3.5.2.4. Cơ chế chính sách còn nhiều điểm chưa phù hợp với thực tiễn

Mặc dù đã có rất nhiều cơ chế, chính sách đƣợc ban hành nhƣng thực tế

cho thấy vẫn còn có những điểm chƣa thực sự phù hợp với thực tế, cụ thể:

- Phạm vi bảo hiểm còn hẹp. Điều này khiến cho BHNN chƣa đáp ứng

đƣợc yêu cầu của các chủ hộ chăn ni bò thịt. Hiện nay theo quy định hiện

hành của Bộ tài chính thì phạm vi bảo hiểm cho bò thịt thì chỉ đƣợc bảo hiểm

bệnh lở mồm long móng, tụ huyết trùng, nhiệt thán. Một số rủi ro nhƣ bò bị ỉa

chảy, chƣớng hơi đầy bụng, ký sinh trùng đƣờng máu hoặc bị rủi ro do thiên

tai nhƣ nắng nóng kéo dài lại khơng thuộc phạm vi đƣợc bảo hiểm. Theo các

hộ chăn ni thì đây là những rủi ro mà bò thịt hay mắc phải và những bệnh

này rất dễ chết nhƣng lại không thuộc phạm vi đƣợc bảo hiểm. Đây cũng là

yêu cầu đặt ra và cần có sự sửa đổi, bổ sung cho hợp lý để thu hút đƣợc ngƣời

chăn nuôi tham gia BHNN.

- Điều kiện bảo hiểm chưa phù hợp, thủ tục còn rườm rà, phức tạp.

Chính điều này đã gây nhiều khó khăn cho ngƣời tham gia BHNN. Theo quy

định của Nhà nƣớc thì ngƣời dân chỉ đƣợc bồi thƣờng khi địa phƣơng đã đƣợc

cơ quan thẩm quyền công bố dịch, tổng số đàn vật nuôi bị bệnh phải lớn hơn

10 % tổng đàn vật nuôi của xã. Đây là một quy định khá ngặt nghèo và không

hợp lý. Nhiều trƣờng hợp vật nuôi của hộ bị chết nhƣng trên địa bàn xã chƣa

cơng bố dịch vì chƣa đủ điều kiện hoặc sợ ảnh hƣởng đến kinh tế, chính trị thì

hộ cũng sẽ không đƣợc giải quyết đền bù. Điều này gây bất lợi cho ngƣời dân

và bất hợp lý vì khi tham gia BH thì tham gia theo từng hộ, từng cá nhân

nhƣng khi bồi thƣờng thì lại ràng buộc bởi phạm vi tồn xã.



73



Bên cạnh đó thì nhiều hộ dân cho rằng thủ tục tham gia BHNN còn

phiền hà, phức tạp. Đây là điều rất bất lợi cho ngƣời tham gia BH. Tâm lý của

ngƣời dân thƣờng rất ngại đến các cơ quan, doanh nghiệp. Nếu thủ tục lại rắc

rối, phiền hà sẽ ảnh hƣởng không nhỏ đến việc họ tham gia. Nhiều ngƣời dân

cho rằng họ không tham gia BHNN vì thủ tục quá phiền hà. Hơn nữa thời

gian bồi thƣờng lại chậm, phải sau 30 ngày khi doanh nghiệp bảo hiểm đủ hồ

sơ thì ngƣời thiệt hại mới đƣợc nhận.

Chính những điều này đang là rào cản ảnh hƣởng đến nhu cầu tham gia

BHNN của ngƣời dân.

-Mức phí bảo hiểm còn cao, đây là rào cản khơng nhỏ ảnh hƣởng tới

nhu cầu tham gia BHNN của ngƣời dân. Qua kết quả điều tra cho thấy có tới

65% số hộ cho rằng phí BHNN còn cao. Điều này cho thấy mức phí hiện nay

vẫn đang ở mức quá cao để ngƣời dân tham gia. Nhất là với những hộ chăn

nuôi theo quy mơ lớn, nếu đóng bảo hiểm cho cả đàn bò của mình thì số tiền

bỏ ra là rất lớn, điều này sẽ khơng khuyến khích những hộ chăn nuôi quy mô

lớn tham gia. Hơn nữa, rất nhiều hộ chăn ni bò thịt trên địa bàn huyện gặp

khó khăn về nguồn vốn, cộng thêm mức phí bảo hiểm cao dẫn đến họ không

thể tham gia mua BH cho đàn bò của mình.

3.5.2.5. Doanh nghiệp bảo hiểm chưa mặn mà khi tham gia cung cấp dịch vụ

bảo hiểm nông nghiệp

Hiện nay, các doanh nghiệp tham gia thị trƣờng BHNN là có sự hỗ trợ

của Nhà nƣớc. BHNN là một thị trƣờng rộng lớn, thế nhƣng lại rất ít doanh

nghiệp muốn tham gia. Nguyên nhân của vấn đề này là do:

Thứ nhất: Loại hình bảo hiểm nơng nghiệp vốn có nhiều rủi ro, nhất là

trong hoàn cảnh thiên tai, dịch bệnh khá nhiều nhƣ hiện nay nên việc kinh

doanh bảo hiểm nơng nghiệp thƣờng lỗ, khơng có lãi. Tổng cơng ty bảo hiểm

chƣa đề xuất đƣợc một hình thức bảo hiểm phù hợp với điều kiện kinh tế đang



74



có thay đổi lớn ở nƣớc ta, ở đây không đơn giản là chạy theo nhu cầu của địa

phƣơng hoặc áp dụng các hình thức nƣớc ngồi vào việt nam, nếu chỉ chạy

theo doanh thu mà thiếu trách nhiệm trong việc khai thác đều dẫn đến kết quả

bị thua lỗ nhƣng phải bồi thƣờng quá nhiều.

Thứ hai: Ngƣời dân tham gia BHNN còn quá ít, chủ yếu là các hộ

nghèo, cận nghèo đƣợc Nhà nƣớc hỗ trợ. Điều này dẫn đến quỹ BHNN thu

đƣợc q ít, chƣa theo ngun tắc số đơng bù số ít, khiến cho việc triển khai

bán bảo hiểm của các doanh nghiệp gặp khó khăn. Bên cạnh đó, hiện tƣợng

nông dân lợi dụng việc mua bảo hiểm để trục lợi khiến cho các doanh nghiệp

bảo hiểm tổn thất về tài chính.

Thứ ba, Nhà nƣớc còn thiếu các chính sách cụ thể để hỗ trợ các doanh

nghiệp tham gia bán bảo hiểm, nhiều doanh nghiệp muốn kinh doanh bảo

hiểm nông nghiệp gặp khó khăn trong định hƣớng phát triển. Việc tổ chức

mạng lƣới khai thác bảo hiểm sẽ gặp trở ngại không nhỏ, hiện nay muốn khai

thác chúng ta phải xây dựng mạng lƣới khai thác bao gồm ngân hàng nông

thôn, hợp tác xã, hội nông dân, các tổ chức phi chính phủ, chính quyền địa

phƣơng, các cơ quan tài chính và các cá nhân điều này cần một khoản chi phí

khá lớn.

Thứ tƣ, năng lực tài chính của các doanh nghiệp bảo hiểm có hạn. Rủi

ro thiên tai trong bảo hiểm nơng nghiệp nhiều khi mang tính chất thảm hoạ do

phạm vi, mức độ tàn phá, thiệt hại về mặt tài chính rất lớn vƣợt quá năng lực

tài chính của doanh nghiệp bảo hiểm. Do vậy, doanh nghiệp bảo hiểm chỉ lựa

chọn một số rủi ro và triển khai trên một vài địa bàn hạn chế.

Bên cạnh đó thì thị trƣờng tái bảo hiểm chƣa phát triển. Chƣa có sự hỗ

trợ, hậu thuẫn của các nhà tái bảo hiểm, các chƣơng trình tái bảo hiểm cũng

nhƣ sự phát triển của thị trƣờng tái bảo hiểm, đầu ra rất quan trọng cho các



75



doanh nghiệp bảo hiểm gốc. Vì các rủi ro trong sản xuất nông nghiệp, nên các

doanh nghiệp bảo hiểm cần phải có sự hậu thuẫn của các nhà tái bảo hiểm.

Với những thuận lợi và khó khăn nhƣ trên ảnh hƣởng rất nhiều đến sự

tham gia BHNN của ngƣời dân trên địa bàn huyện Sơng Lơ. Do đó chúng ta

phải làm sao phát huy đƣợc những thuận lợi và khắc phục những khó khăn đó

để làm sao ngày càng thu hút đƣợc nhiều ngƣời dân tham gia BHNN.

3.5.2.6.Chưa có sự liên kết giữa chính quyền địa phương với doanh nghiệp

bảo hiểm

Sự phối hợp giữa các cơ quan Nhà nƣớc nhƣ phòng Nơng nghiệp

huyện, trạm Thú y, UBND xã, các tổ chức, các hội, đoàn thể ở địa phƣơng

với doanh nghiệp bảo hiểm trong quá trình triển khai BHNN tới ngƣời dân

là rất cần thiết. Vì BHNN là một loại hình bảo hiểm đặc biệt và là một lĩnh

vực mới do đó sự vào cuộc của các cơ quan Nhà nƣớc trong việc tuyên

truyền và hƣớng dẫn ngƣời dân về chính sách BHNN là rất cần thiết. Hơn

nữa, các cơ quan Nhà nƣớc đóng trên địa bàn huyện sẽ hiểu rất rõ về tình

hình sản xuất cũng nhƣ phong tục tập qn của ngƣời dân địa phƣơng

mình. Do đó sẽ rất thuận lợi khi có sự phối hợp giữa các cơ quan chính

quyền, doanh nghiệp và ngƣời dân trong triển khai BHNN.

Với những thuận lợi và khó khăn nhƣ trên ảnh hƣởng rất nhiều đến nhu

cầu tham gia BHNN của ngƣời dân trên địa bàn huyện Sông Lô. Do đó chúng ta

phải làm sao phát huy đƣợc những thuận lợi và khắc phục những khó khăn đó để

làm sao ngày càng thu hút đƣợc nhiều ngƣời dân tham gia BHNN.

3.6. Đề xuất một số giải pháp nhằm thu hút người dân tham gia bảo hiểm

nông nghiệp trong chăn nuôi bò thịt tại huyện Sơng Lơ

3.6.1. Định hướng

Trên cơ sở thực trạng phát triển chăn ni của đàn bò thịt huyện Sơng

Lơ, mục tiêu phát triển đàn bò theo quy hoạch phát triển những năm tiếp theo



76



cũng nhƣ dựa vào thực trạng BHNN trên địa bàn của các hộ dân, em đƣa ra

một số định hƣớng nhƣ sau:

Quy hoạch phát triển chăn ni bò thịt trên địa bàn huyện một cách bền

vững. Mở rộng quy mơ đàn bò thịt, đồng thời đƣa nhiều giống bò có năng

suất, chất lƣợng cao vào chăn nuôi.

Tiếp tục triển khai thực hiện BHNN một cách sâu rộng tới tất cả các xã,

thị trấn trên địa bàn sao cho hiệu quả nhất.

Tạo ra sự chuyển biến tích cực trong các cấp lãnh đạo, các cơ quan về

sự cần thiết của BHNN góp phần ổn định sản xuất, đời sống nhân dân, phát

triển kinh tế địa phƣơng. UBND các xã, thị trấn và các tổ chức đoàn thể, các

hội… cần đồng thời vào cuộc, hỗ trợ về kinh phí và tuyên truyền cho ngƣời

dân trong tham gia BHNN.

Nâng cao nhận thức của ngƣời dân về chính sách BHNN. Phải thông

tin đầy đủ cho họ hiểu thế nào là BHNN;tại sao nên tham gia; đối tƣợng nào

đƣợc tham gia; công ty nào trực tiếp giúp thực hiện BHNN; thủ tục ra sao;

cơ quan nào tƣ vấn giúp đỡ; để đƣợc bảo hiểm bồi thƣờng thì phải làm sao;

khi sự cố xảy ra, nếu xảy ra tranh chấp, báo cho ai; ai thụ lý giải quyết…

Cơ chế chính sách của Nhà nƣớc về BHNN sẽ đƣợc bổ sung, sửa đổi

sao cho hợp lý hơn, đảm bảo lợi ích cho cả ngƣời tham gia BHNN và doanh

nghiệp kinh doanh BHNN.

3.6.2. Một số giải pháp

3.6.2.1. Đẩy mạnh công tác thông tin tun truyền, phổ biến chính sách bảo

hiểm nơng nghiệp

* Cơ sở đưa ra giải pháp: Qua kết quả phân tích thực trạng tình hình

tham gia BHNN tại huyện Sơng Lô cho thấy:

- Tỷ lệ tham gia BHNN của các hộ còn rất thấp.



77



- Trình độ của ngƣời dân còn thấp (gần 70% chƣa qua đào tạo), ít có cơ

hội tiếp cận với các cơ chế chính sách của Nhà nƣớc.

- Hiểu biết của ngƣời dân về chính sách BHNN còn rất hạn chế. Họ

chƣa thực sự hiểu đƣợc tác dụng của BHNN, thủ tục tham gia cũng nhƣ

quyền lợi và trách nhiệm khi tham gia BHNN.

- Không chỉ ngƣời dân mà ngay cả cán bộ các cấp cũng chƣa hiểu một

cách thấu đáo về chính sách BHNN.

- Cơng tác thông tin tuyên truyền về BHNN tại huyện Sông Lô còn

thiếu và yếu.

* Cách thức thực hiện giải pháp:

- Biên soạn các tài liệu thông tin tuyên truyền một cách đầy đủ, đơn

giản và dễ hiểu.

- Tổ chức các lớp tập huấn tới tận xã, thôn về BHNN, cách tham gia,

quyền lợi, nghĩa vụ khi tham gia BHNN để ngƣời dân hiểu rõ về mục tiêu, ý

nghĩa của chính sách BHNN cũng nhƣ quy trình, thủ tục tham gia và quyền

lợi đƣợc hƣởng khi xảy ra rủi ro.

- Thƣờng xuyên và định kỳ trên các phƣơng tiện thông tin đại chúng nhƣ

ti vi, báo, đài truyền thanh từ trung ƣơng tới địa phƣơng thơng tin về chính sách

BHNN, nghiệp vụ bảo hiểm, nâng cao nhận thức của các cơ quan cũng nhƣ

ngƣời dân để chính sách đi vào cuộc sống một cách thiết thực, phản ánh những

khó khăn, vƣớng mắc trong thực hiện để có giải pháp giải quyết phù hợp.

3.6.2.2. Xác định quy mô chăn nuôi phù hợp để bảo hiểm

* Cơ sở đưa ra giải pháp:

Thực tế tại huyện Sơng Lơ cho thấy chăn ni bò thịt hiện nay còn

rất nhỏ lẻ, chủ yếu là các hộ chăn nuôi quy mô nhỏ. Số hộ chăn nuôi từ 10

con trở lên rất ít, và chƣa có một trang trại ni bò thịt nào đƣợc hình thành

trên địa bàn.



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Hình 3.3: Đồ thị cơ chế chính sách BHNN ảnh hưởng đến việc giam giaBHNN của các hộ

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×