Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Bảng 3.10: Đánh giá chất lượng tuyên truyền phổ biến về NTM

Bảng 3.10: Đánh giá chất lượng tuyên truyền phổ biến về NTM

Tải bản đầy đủ - 0trang

78

3.3.4. Các chủ trương chính sách của tỉnh, huyện

Đây đƣợc xem là yếu tố rất quan trọng trong việc phát động phong trào

xây dựng NTM, đã diễn ra một cách đồng bộ và rộng khắp địa bàn huyện.

Thực hiện chủ trƣơng của Đảng và Nhà nƣớc về chƣơng trình xây dựng

NTM, UBND huyện Đam Rông và thông qua của UBND tỉnh và ban hành

Quyết định số 270 QĐ-UBND ngày 29 2 2012 phê duyệt chƣơng trình xây

dựng nơng thơn mới 2012-2020.

Thơng qua các Nghị quyết và chủ trƣơng thì đã có những nguyên tắc

thực hiện cụ thể: Nhà nƣớc chỉ đóng vai trò định hƣớng, ban hành các tiêu

chí, quy chuẩn, chính sách, cơ chế hỗ trợ, đào tạo cán bộ, hƣớng dẫn thực

hiện. Còn các hoạt động cụ thể là do chính cộng đồng ngƣời dân ở các xã,

thơn bàn bạc trên tinh thần dân chủ để quyết định và tổ chức thực hiện. Về

nguồn lực tài chính cho xây dựng NTM thì Nhà nƣớc hỗ trợ một phần giúp

cho địa phƣơng xây dựng các hạng mục hạ tầng thuộc 19 tiêu chí đặt ra, bên

cạnh đó các địa phƣơng có thể tiếp nhận các nguồn vốn đầu tƣ khác nhau: Các

doanh nghiệp, cá nhân, tổ chức, tín dụng...

Đạ Rsal và Đạ Tông là 02 xã của huyện Đam Rông đã thực hiện khá

tốt các quyết định của UBND tỉnh, huyện và chƣơng trình xây dựng NTM.

Trong đó, xã Đạ Rsal đƣợc chọn làm xã điểm về xây dựng NTM của tỉnh,

ngoài sự tự giác và đồng thuận của nhân dân thì 2 địa phƣơng này nhận đƣợc

sự quan tâm, giúp đõ chỉ đạo trực tiếp của UBND tỉnh, huyện về định hƣớng

chƣơng trình NTM. Kết quả là đến năm 2015, xã Đạ Rsal hồn thành 17 19

tiêu chí; xã Đạ Tơng hồn thành 11/19 tiêu chí và dự kiên sẽ hồn thành đủ

các tiêu chí để đạt danh hiệu xã NTM trong giai đoạn tiếp theo.



79

3.4. Những thành công, hạn chế và nguyên nhân trong tổ chức huy động

nguồn lực tài chính cho xây dựng nơng thơn mới ở huyện Đam Rông.

3.4.1. Những thành công trong huy động NLTC:

Trong q trình huy động nguồn lực tài chính thực hiện chƣơng trình

NTM trên địa bàn huyện Đam Rơng có đƣợc những thành công sau:

Thứ nhất, việc huy động nguồn lực tài chính cho việc thực hiện các tiêu

chí của chƣơng trình đạt kết quả tốt, đáp ứng đƣợc nhu cầu vốn hiện tại cho

việc thực hiện chƣơng trình. Có đƣợc kết quả trên là do công tác vận động,

tuyên truyền các nội dung của chƣơng trình đến các đối tƣợng đƣợc thực hiện

bài bản, có hiệu quả vì vậy huy động đƣợc sự đóng góp của ngƣời dân. Ngồi

ra, nguồn vốn từ ngân sách cấp trên cấp cho chƣơng trình đƣợc triển khai theo

kế hoạch đã đề ra. Mặt khác, đƣợc sự quan tâm trong lãnh đạo chỉ đạo và giúp

đỡ của Cấp uỷ Đảng, chính quyền và các ngành chức năng của tỉnh cũng nhƣ

của huyện, đƣợc sự đồng tình ủng hộ của Đảng bộ và nhân dân trong xã, nhân

dân sẵn sàng hiến đất đóng góp tiền của, ngày công để xây dựng nông thôn

mới, đội ngũ cán bộ từ xã tới thơn đồn kết tích cực trong công việc.

Thứ hai, nguồn vốn huy động từ nhân dân đóng góp cho chƣơng trình

của cả huyện là 23.299 triệu đồng. Có đƣợc kết quả đó là do nhận thức của

ngƣời dân về chƣơng trình là khá rõ ràng nên đã nhận đƣợc sự đồng thuận của

ngƣời dân. Trên địa bàn huyện Đam Rông, đa số ngƣời dân đều nhận thức

đƣợc lợi ích họ nhận đƣợc khi chƣơng trình Nông thôn mới thành công. Nhận

thức của họ về chƣơng trình ảnh hƣởng đến mức độ đóng góp cho chƣơng

trình. Ngay từ đầu, huyện tổ chức tốt việc phổ biến, quán triệt để mọi ngƣời

hiểu đúng, thống nhất nhận thức, tạo đƣợc sự đồng thuận nên công việc triển

khai thuận lợi, đạt kết quả tốt.

3.4.2. Những hạn chế trong huy động NLTC

Mặc dù có những ƣu điểm, nhƣng tiến trình huy động NLTC thực hiện

các tiêu chí của chƣơng trình NTM vẫn chƣa đạt yêu cầu so với kế hoạch đề



80

ra. Trong quá trình thực hiện, các xã điểm trong huyện gặp phải những hạn

chế nhƣ sau:

Thứ nhất, trong quá trình thực hiện các xã chƣa tiếp cận nguồn huy

động vốn doanh nghiệp trên địa bàn, vốn nhân dân đóng góp tƣơng xứng với

tiềm năng hiện có.

Thứ hai, Chƣa xây dựng đƣợc một kế hoạch huy động và phân bổ

nguồn lực tài chính một cách chi tiết cho tất cả các cơng trình. Hầu hết các

cơng trình đều trơng chờ vào nguồn vốn từ ngân sách cấp, chƣa có sự chủ

động về vốn cho các cơng trình. Đó là ngun nhân dẫn đến nợ đọng vốn đầu

tƣ xây dựng cơ bản ở một số xã trong huyện. Ngoài ra, thiếu một chiến lƣợc

huy động tài chính bền vững, chính quyền địa phƣơng sử dụng nguồn lực tài

chính đầu tƣ một cách dàn trải trên nhiều lĩnh vực mà khơng có một kế hoạch

tài chính riêng cho kế hoạch thực hiện các chỉ tiêu của chƣơng trình NTM.

Thứ ba, huyện chƣa có các biện pháp tích cực để huy động nguồn vốn

doanh nghiệp trên địa bàn, vì vậy nguồn vốn tín dụng huy động tại địa

phƣơng thấp và chƣa phù hợp với tiềm năng của địa phƣơng.

Thứ tư, công tác tuyên truyền nội dung của chƣơng trình trên địa bàn

các xã chƣa đƣợc thực hiện sâu sát trong mọi tầng lớp nhân dân, khiến một bộ

phận lớn ngƣời dân chƣa lĩnh hội đƣợc nội dung của chƣơng trình. Số cán bộ

chƣa hiểu rõ về chƣơng trình vẫn còn tồn tại ở các xã, làm cho công tác tuyên

truyền, vận động ngƣời dân tham gia.

Thứ năm, vốn giải ngân để thực hiện các cơng trình thƣờng chậm so với

dự kiến, dẫn đến nhiều cơng trình phải kéo dài thời gian thực hiện; Vốn đối

ứng chƣa đƣợc bố trí kịp thời; Cơ chế quản lý đầu tƣ xây dựng ở địa phƣơng

còn chậm điều chỉnh để đáp ứng với những thay đổi của thị trƣờng (giải

phóng mặt bằng, thủ tục phê duyệt hoạt động mua sắm, đấu thầu, điều chỉnh

giá, điều chỉnh định mức chi xây dựng cơ bản…).



81

Thứ sáu, còn tình trạng đầu tƣ dàn trải, hiệu quả sử dụng vốn chƣa cao, một

số xã còn xảy ra sai phạm trong quản lý đầu tƣ. Qua giám sát cho thấy một số cơng

trình đạt hiệu quả thấp do bố trí vốn đầu tƣ chƣa đáp ứng tiến độ theo kế hoạch

đƣợc duyệt, đầu tƣ thiếu đồng bộ, thi công kéo dài; Chất lƣợng cơng tác khảo sát,

thiết kế còn chƣa đạt u cầu, ảnh hƣởng tới chất lƣợng và hiệu quả công trình; khó

khăn về giải phóng mặt bằng, giá cả ngun vật liệu biến động thất thƣờng...

Thứ bảy, một bộ phận cán bộ và nơng dân chƣa tích cực, chƣa chủ động

tham gia xây dựng nông thôn mới. Một số ngành chƣa có kế hoạch cụ thể

triển khai nhiệm vụ đƣợc giao. Lãnh đạo các xã chƣa quan tâm đầy đủ đến

việc huy động cả hệ thống chính trị vào cuộc; chƣa chủ động lồng ghép một

cách có hiệu quả các chƣơng trình, dự án hiện có để tăng nguồn lực xây dựng

nông thôn mới. Một bộ phận cán bộ và nơng dân, đặc biệt cấp cơ sở còn thụ

động, có tâm lý ỷ lại, trông chờ vào Nhà nƣớc. Hơn nữa, các chính sách thực

hiện còn nóng vội, bởi lẽ xây dựng nơng thơn mới có mục tiêu rất cao, đòi hỏi

phải giải quyết rất nhiều vấn đề lớn và phức tạp, song thời gian phải hoàn

thành các mục tiêu này lại rất ngắn, chỉ từ 3-5 năm trong khi nguồn lực địa

phƣơng lại hạn chế.

3.4.3. Nguyên nhân của những hạn chế

Thứ nhất. Nguyên nhân chủ quan:

Do còn nhiều đồng chí cán bộ, đảng viên lãnh đạo các cấp, các ngành...

chƣa phát huy hết vai trò trách nhiệm, sự gƣơng mẫu của mình trong việc

quán triệt và triển khai, thực hiện các chủ trƣơng, chính sách của Đảng và

Nhà nƣớc. Mặt khác, một bộ phận cán bộ chƣa tích cực, chƣa chủ động tham

gia xây dựng nông thôn mới. Một bộ phận khơng nhỏ cán bộ xã trình độ còn

hạn chế và đến bản thân những cán bộ đó cũng chƣa hiểu đƣợc nội dung

chƣơng trình; chƣa chủ động lồng ghép một cách có hiệu quả các chƣơng

trình, dự án hiện có để tăng nguồn lực xây dựng nơng thơn mới.



82

Do năng lực, trình độ của đội ngũ cán bộ nòng cốt ở các cấp còn hạn

chế, đặc biệt cấp cơ sở; trình độ dân trí ở nơng thơn thấp; việc huy động nội

lực trong dân để xây dựng nông thơn mới còn gặp nhiều khó khăn, nguồn lực

Nhà nƣớc đầu tƣ còn hạn chế, khả năng tiếp cận tín dụng của nơng dân và

doanh nghiệp còn yếu.

Ngồi ra phải kể đến năng lực trình độ của các nhà tƣ vấn quy hoạch

xây dựng nông thôn mới; sự thiếu nghiêm túc của một số đơn vị tƣ vấn; cộng

với huy động của ngƣời dân tham gia góp ý kiến vào q trình xây dựng quy

hoạch còn hạn chế. Chính vì vậy, nó có ảnh hƣởng lớn đến kết quả của việc

huy động các nguồn lực ngoài ngân sách cho thực hiện chƣơng trình nơng

thơn mới của cả huyện. Việc vận dụng cụ thể hóa và tổ chức thực hiện một số

chủ trƣơng, chính sách của Đảng và Nhà nƣớc còn chƣa đồng bộ.

Công tác tuyên truyền, vận động ngƣời dân tham gia chƣơng trình còn

mang tính hình thức, chƣa thƣờng xuyên và đạt hiệu quả chƣa cao. Vì vậy,

nguồn lực tài chính huy động đƣợc từ trong nhân dân, DN chƣa cao. Chƣa

huy động hết đƣợc các nguồn lực từ trong nhân dân, DN trên địa bàn. Ngoài

ra, nhiều quy định trong chính sách thu hút đầu tƣ cho phát triển nông nghiệp,

nông thôn trên địa bàn huyện hiện đang bất cập, gây khó khăn cho các nhà

đầu tƣ. Trong khi đó, nhiều địa phƣơng trong huyện chƣa nhận thức đầy đủ

đƣợc các nội dung của xây dựng nông thôn mới. Bởi vậy, khi tính tốn triển

khai đề án nơng thôn mới đa phần đều là dự án đầu tƣ xây dựng cơ bản chứ

chƣa bố trí vốn cho hình thức sản xuất nhằm nâng cao thu nhập cho ngƣời

dân, nên chƣa thu hút đƣợc nhiều doanh nghiệp và chính ngƣời dân nhiệt tình

tham gia.

Đối với cơ chế (tài chính), chính sách của địa phƣơng còn nhiều bất

cập, các đơn vị có trách nhiệm còn chƣa có sự nghiên cứu, sáng tạo trong vận

dụng để phuc hợp với các hình thức của mơ hình theo phƣơng châm “đơn



83

giản hóa về thủ tục, tao quyền nhiều hơn cho cấp thôn”. Trên thực tế của

huyện Đam Rông, nếu cứ trông chờ vào nguồn vốn từ ngân sách cấp nên việc

xây dựng thành cơng chƣơng trình là rất khó nếu khơng tổ chức đa dạng hóa

nguồn huy động.

Thứ hai. Nguyên nhân khách quan:

Nguyên nhân chủ yếu là do xây dựng nông thôn mới là chƣơng trình vận

động tồn xã hội tham gia, trên cơ sở huy động xã hội hóa nguồn lực đầu tƣ.

Theo đó, có một số cơng trình đƣờng giao thơng, hệ thống thủy lợi,

trƣờng học, trạm y tế, nhà văn hóa, trụ sở xã, cơng trình nƣớc sạch và vệ sinh

mơi trƣờng nơng thơn,... có sự hỗ trợ đầu tƣ của Nhà nƣớc, nhƣng nguồn ngân

sách tỉnh hàng năm và nguồn vốn hỗ trợ từ ngân sách cấp trên còn rất hạn

chế.

Huyện Đam Rông là một huyện nông nghiệp, là một huyện đang phát

triển, vì vậy tiềm lực kinh tế của địa phƣơng hạn chế. Trên thực tế, các cơng

trình xây dựng cơ bản chủ yếu dựa vào vốn từ ngân sách cấp trên cấp, một số

xã thì dựa vào kết quả của đấu giá đất để lấy vốn thực hiện các cơng trình đó.

Hiện nay, một số xã vẫn chƣa xây dựng đƣợc trụ sở làm việc do thiếu

vốn, hay chƣa khai thác đƣợc nguồn, những xã này, vị trí địa lý khơng thuận

lợi nên diện tích đất chuyển mục đích sử dụng chƣa thực hiện đƣợc. Nếu trên

địa bàn các xã có tiềm lực thì việc huy động nguồn vốn để thực hiện chƣơng

trình sẽ thuận lợi hơn do đầu tƣ cho khu vực nông nghiệp, nông thôn đòi hỏi

nguồn lực rất lớn của Nhà nƣớc cũng nhƣ tồn xã hội do địa bàn nơng nghiệp,

nơng thơn rộng lớn, sản xuất chƣa phát triển, thu nhập của ngƣời dân còn

thấp, đời sống khó khăn…, trong khi đó nguồn lực đầu tƣ của Nhà nƣớc và

tồn xã hội có hạn.

Đam Rông là huyện đang phát triển, cơ sở hạ tầng còn kém và chƣa

đồng bộ. Điểm xuất phát của nền kinh tế thấp. Nông nghiệp vẫn chiếm tỷ



84

trọng lớn trong cơ cấu nền kinh tế, tích lũy từ trong nền kinh tế còn thấp,

thiếu vốn nghiêm trọng. Tốc độ tăng trƣởng qua các thời kỳ tăng khá nhƣng

chƣa ổn định và bền vững, chƣa tƣơng xứng với tiềm năng của huyện.

3.5. Phân tích SWOT cho vấn đề huy động nguồn lực tài chính cho xây

dựng NTM tại huyện Đam Rông.

Điểm mạnh

Công tác tuyên truyền thực hiện



Điểm yếu

Là huyện nghèo, 70



là đồng



tốt, ngƣời dân đã tích cực tham gia bào dân tộc thiểu số, nên thu nhập

các hoạt động đóng góp xây dựng của ngƣời dân ở các xã trên địa bàn

nơng thơn mới.



còn thấp, đời sống khó khăn.

Số lƣợng doanh nghiệp trên

địa bàn huyện ít. Huyện khơng có

tiềm năng thu hút doanh nghiệp bên

ngoài tham gia đầu tƣ.

Vốn đầu tƣ trên địa bàn huyện

vẫn còn phụ thuộc nhiều vào nguồn

vốn từ Trung ƣơng do đó đã giảm

khả năng tự chủ và năng động trong

các hoạt động đầu tƣ của huyện

Cơ hội



Chủ trƣơng xây dựng NTM rất



Thách thức

Nhận thức của phần đơng cán



hợp lòng dân, đƣợc nhân dân tồn bộ đảng, chính quyền và cơ quan

huyện hƣởng ứng tham gia, tạo ra đoàn thể trong huyện chƣa rõ về: nội

động lực từ ngƣời dân trong huyện dung, cách làm nông thôn mới; phần

tham gia xây dựng nông thôn mới ở lớn cán bộ hiện nay còn nặng thói

từng xã;

Đảng và Chính quyền địa



quen điều hành theo mệnh lệnh hành

chính, chƣa sáng tạo, chƣa chủ động



85

phƣơng đã quyết tâm thực hiện tốt



và chƣa bám sát thực tiễn để tổ chức,



Chƣơng trình NTM.



triển khai các nội dung cần làm của



Chính phủ đã ban hành các CT xây dựng NTM; Một bộ phận

chính sách về tín dụng cho NN, NT tại ngƣời dân và cán bộ cơ sở (thôn, bản,

Nghị định số 41 NĐ-CP và đƣợc sửa xã) ở khu vực đồng bào dân tộc còn

đổi, bổ sung thành NĐ số 55 2015



thói quen ỷ lại, ngóng chờ hỗ trợ của



NĐ-CP về “chính sách hỗ trợ tín dung cấp trên.

cho NN-NT”; Chính sách khuyến



Đang hiện diện sự bất cập giữa



khích DN đầu tƣ vào NN, NT tại Nghị chính sách và chỉ đạo của Trung

định 61 2010 NĐ-CP và sửa đổi thành ƣơng với khả năng tiếp nhận, ý thức

NĐ 210 2013 NĐ-CP về “Chính sách trách nhiệm tổ chức thực hiện của bộ

khuyến khích doanh nghiệp đầu tƣ máy chính quyền



nhà nƣớc cấp



vào nông nghiệp – nông thôn”…tạo ra dƣới…Cấp dƣới luôn chờ sự chỉ đạo

căn cứ pháp lý để thúc đẩy các tổ của cấp trên mới triển khai các công

chức tín dụng và DN hƣớng các việc tại chỗ.

nguồn vốn cho vay tín dụng và vốn



Nhu cầu về tài chính cho xây



đầu tƣ kinh doanh vào NN, NT. Từ đó dựng NTM là rất lớn, nhất là xây

sẽ nâng cao khả năng về nguồn tài dựng kết cấu hạ tầng NN, NT trên

chính cho đầu tƣ vào sản xuất kinh tồn địa bàn huyện, vì tình trạng hạ

doanh nơng, lâm nghiệp và CN chế tầng trên địa bàn toàn huyện là rất

biến nông lâm sản ở huyện Đam Rông thiếu, nhu cầu vốn đầu tƣ mới, đầu tƣ

trong những năm tới, sẽ thúc đẩy hoàn sửa chữa, nâng cấp rất lớn.

thành các tiêu chí về tổ chức sản xuất



Lao động nông nghiệp chiếm



của CT xây dựng NTM trên địa bàn 51,9

huyện những năm tới;



lao động Huyện, trong khi



ngành nghề phi NN chƣa phát triển



Huyện Đam Rông sẽ tiếp tục dẫn tới khả năng chuyển dịch lao

nhận đƣợc sự quan tâm, hỗ trợ của các động sang công nghiệp và dịch vụ



86

tổ chức quốc tế về phát triển nông rất chậm. Từ đó khả năng nâng cao

thơn. Trƣớc đây đã hỗ trợ nhiều dự án thu nhập cho ngƣời dân nông thơn rất

nhƣ: giảm nghèo, cải cách thể chế, khó khăn, ảnh hƣởng xấu tới tiêu chí

phát triển nơng nghiệp… Đến nay các về đời sống trong thực hiện xây dựng

nội dung này vẫn tiếp tục đƣợc thực NTM

hiện trong khuôn khổ chƣơng trình Cán bộ huyện, xã và thơn bản rất

MTQG NTM.



thiếu kinh nghiệm trong triển khai

các biện pháp huy động nguồn lực tài

chính, kể cả tài chính tại chỗ và tài

chính từ bên ngồi, dẫn tới kết quả

huy động chỉ trông chờ vào phân bổ

ngân sách từ Trung ƣơng.



3.6. Phương hướng và các giải pháp huy động nguồn lực tài chính cho

phát triển KTXH thực hiện chương trình NTM tại các xã trên địa bàn

huyện Đam Rông, tỉnh Lâm Đồng

3.6.1. Một số phương hướng cơ bản về huy động NLTC cho xây dựng NTM

trong những năm tới

Thứ nhất. Tăng cƣờng công tác lãnh đạo, chỉ đạo của cấp ủy, chính

quyền các cấp, đẩy mạnh cơng tác tun truyền của các ngành, đồn thể thơng

qua hội họp, các hệ thống truyền thơng để nhân dân thấy rõ lợi ích và trách

nhiệm của mình để tập trung sức ngƣời, sức của trong cơng tác xây dựng

chƣơng trình.

Thứ hai. Chỉ đạo các xã triển khai đề án xây dựng NTM đã phê duyệt,

tập trung vào: xây dựng cơ sở hạ tầng, xây dựng vùng sản xuất, đào tạo nghề

cho nông dân, tập huấn khuyến nơng theo mơ hình đã phê duyệt, xây dựng

các cơ chế, chính sách thu hút các doanh nghiệp đầu tƣ trong lĩnh vực nơng



87

nghiệp. Mục đích là tăng thu nhập cho ngƣời dân trên địa bàn, từ đó tăng

cƣờng sự đóng góp của ngƣời dân.

Thứ ba. Tăng cƣờng đoàn kết, tạo sự đồng thuận; tiếp tục đổi mới toàn

diện, nâng cao năng lực tổ chức thực hiện, khai thác tiềm năng, huy động tốt

nguồn lực bên trong huyện và tranh thủ tối đa nguồn lực bên ngoài.

Thứ tư. Chú trọng các giải pháp lồng ghép các nguồn tài chính đã đƣợc

bố trí trong các dự án triển khai trên địa bàn để huy động tối đa các nguồn lực

cho xây dựng NTM. Ban chỉ đạo địa phƣơng phải nắm chắc nguồn lực, sử

dụng đúng mục đích. Phải coi trọng mọi việc làm ở địa phƣơng vì mục tiêu

xây dựng NTM, xây dựng làng văn minh, tiến bộ. Lồng ghép các nguồn vốn

từ các các chƣơng trình, dự án hỗ trợ có mục tiêu trên địa bàn nhƣ: Chƣơng

trình giảm nghèo; nƣớc sạch và vệ sinh môi trƣờng; khuyến nông, khuyến

lâm; phát triển ngành nghề nông thôn. Đẩy nhanh tốc độ phát triển kinh tế xã hội theo hƣớng tiếp tục đầu tƣ xây dựng kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội có

tính quyết định cho sự phát triển toàn diện của tỉnh; đầu tƣ phát triển nông

nghiệp, đào tạo nguồn nhân lực và nâng cao chất lƣợng phục vụ, giải quyết

kịp thời các vấn đề bức xúc nảy sinh ngay từ cơ sở, nâng cao rõ rệt đời sống

vật chất và tinh thần của nhân dân.

Thứ năm. Xác định rõ hai nguyên tắc về huy động dân đóng góp. Một

là, việc xây dựng NTM là quá trình lâu dài, nên khơng thể huy động một lúc

tối đa mọi nguồn lực. Vì vậy, lãnh đạo xã và nhân dân cùng bàn bạc xem việc

gì, cơng trình gì cần làm trƣớc, cần triển khai ngay thì đồng thuận đóng góp

cùng làm. Làm gì phải rõ ràng, cơng khai từng việc, từng phần với dân để dân

thấy rõ hiệu quả đóng góp, lấy chữ tín cho lần sau. Hai là, xác định rõ điều

kiện kinh tế của từng đối tƣợng đóng góp để họ có thể tham gia đóng góp

nhƣng khơng ảnh hƣởng q lớn đến cuộc sống hiện tại.

Thứ sáu. để huy động nguồn đầu tƣ của các doanh nghiệp, sử dụng hiệu

quả nguồn vốn tín dụng, huyện cần có cuộc gặp mặt với doanh nghiệp để kêu



88

gọi đầu tƣ phát triển sản xuất, xây dựng cơ sở hạ tầng. Các ngân hàng thƣơng

mại bám sát thực tế để nắm bắt nhu cầu ngƣời dân muốn phát triển cây, con

gì; hƣớng dẫn, gợi mở hƣớng phát triển cho nhân dân làm cơ sở đẩy nhanh tốc

độ giải ngân nguồn vốn tín dụng. Tiếp tục đào tạo cán bộ, cơng chức xã đảm

bảo chỉ tiêu ít nhất 50



nắm rõ mục tiêu, nội dung chƣơng trình để giúp nhân



dân trong q trình xây dựng nơng thơn mới.

Thứ bảy. Giải quyết tốt các vấn đề xã hội còn bức xúc, trật tự an tồn

xã hội, nâng cao vai trò lãnh đạo của Đảng và Nhà nƣớc. Tăng cƣờng công

tác kiểm tra, đôn đốc việc thực hiện ở các cấp, biểu dƣơng, nhân rộng những

điển hình tốt. Và quan trọng là phát huy và tìm ra những nguồn lực tài chính

mới cho việc thực hiện chƣơng trình NTM trên địa bàn huyện Đam Rông.

3.6.2. Nguyên tắc, căn cứ đề xuất giải pháp huy động nguồn lực tài chính

xây dựng nơng thơn mới

a. Nguyên tắc xây dựng nông thôn mới ở huyện Đam Rông

Một là, xây dựng nông thôn mới là nhiệm vụ trọng tâm, xuyên suốt của

cả hệ thống chính trị và tồn xã hội.

Hai là, xây dựng nơng thơn mới phải theo quy hoạch tổng thể phát triển

kinh tế - xã hội của địa phƣơng và quy hoạch ngành.

Ba là, xây dựng nông thôn mới phải đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa,

hiện đại hóa, bảo đảm an ninh quốc phòng của địa phƣơng, bảo tồn và phát

huy các giá trị văn hóa truyền thống, giữ gìn bản sắc dân tộc, góp phần xây

dựng nơng thơn phát triển bền vững.

Bốn là, xây dựng nông thôn mới trên cơ sở phát huy nội lực của cộng

đồng dân cƣ, có sự tham gia, bàn bạc dân chủ của ngƣời dân; kết hợp lồng

ghép các chƣơng trình, dự án; có sự đầu tƣ hỗ trợ của Nhà nƣớc, huy động

đóng góp cơng sức của nhân dân; khuyến khích đầu tƣ của các thành phần

kinh tế.



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Bảng 3.10: Đánh giá chất lượng tuyên truyền phổ biến về NTM

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×