Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Nội dung nghiên cứu

Nội dung nghiên cứu

Tải bản đầy đủ - 0trang

6



Chƣơng 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ BẢO HIỂM NÔNG NGHIỆP

1.1. Cơ sở lý luận về bảo hiểm nông nghiệp

1.1.1. Khái niệm, phân loại rủi ro và ứng xử của nông dân với rủi ro

1.1.1.1. Khái niệm rủi ro

Hiện nay có rất nhiều định nghĩa về rủi ro đƣợc đƣa ra, những trƣờng

phái khác nhau, tác giả khác nhau thì đƣa ra những định nghĩa rủi ro khác

nhau. Những định nghĩa rất đa dạng và phong phú. Tuy nhiên có thể chia làm

hai trƣờng phái: Trƣờng phái truyền thống (hay còn gọi là trƣờng phái tiêu

cực) và trƣờng phái trung hòa.

* Theo trường phái truyền thống:“Rủi ro là những thiệt hại, mất mát,

nguy hiểm hoặc các yếu tố liên quan đến nguy hiểm, sự khó khăn hay những

vấn đề khơng chắc chắn có thể xảy ra cho con ngƣời”. Theo trƣờng phái này

có nhiều định nghĩa nhƣ:

- “Rủi ro là điều không lành, không tốt bất ngờ xảy đến” (Hoàng Văn

Hành, 1995).[10]

- “Rủi ro (đồng nghĩa với rủi) là sự không may” (Nguyễn Lân, 1998). [12]

- Theo từ điển Oxford thì: “Rủi ro là gặp nguy hiểm hoặc bị đau đớn,

thiệt hại”

- Một số từ điển khác đƣa ra khái niệm tƣơng tự nhƣ: “Rủi ro là sự bất

trắc gây ra mất mát, hƣ hại” hay “rủi ro là yếu tố liên quan đến nguy hiểm, sự

khó khăn hoặc điều không chắc chắn”.

- Trong lĩnh vực kinh doanh, Hồ Diệu (2001) định nghĩa: “Rủi ro là sự tổn

thất về tài sản hoặc là sự giảm sút lợi nhuận thực tế so với lợi nhuận dự kiến”.[8]

- Hoặc “Rủi ro là sự bất trắc ngoài ý muốn xảy ra trong quá trình sản

xuất, kinh doanh của doanh nghiệp”.



7



* Theo trường phái trung hòa: Theo trƣờng phái này có một số định

nghĩa nhƣ sau:

- “Rủi ro là sự bất trắc có thể đo lƣờng đƣợc” ( Frank Knight).

- “Rủi ro là sự bất trắc có thể liên quan đến sự xuất hiện những biến đổi

không mong đợi” (Allan Willett).

- “Rủi ro là một tổng hợp ngẫu nhiên có thể đo lƣờng đƣợc bằng xác

suất” (Irving Preffer).

1.1.1.2. Phân loại rủi ro

Hiện nay trong nông nghiệp rủi ro đƣợc chia ra thành 2 loại đó là rủi ro

cơng nghệ và rủi ro giá cả.

*Rủi ro công nghệ:Xảy ra do những yếu tố ngoại cảnh tác động ví dụ

nhƣ thời tiết, dịch bệnh, KHKT mới…Thông thƣờng những rủi ro này thƣờng

làm giảm sản lƣợng. Có thể phân loại nhƣ sau:

- Rủi ro trong quá trình sản xuất: Đây là những rủi ro liên quan trực tiếp

đến q trình chăn ni của hộ.

- Rủi ro tự nhiên: Đây là nhóm rủi ro do các hiện tƣợng thiên nhiên gây

ra. Những rủi ro này thƣờng gây ra những thiệt hại lớn cho những ngƣời chăn

nuôi. Có thể gây ra chi phí trực tiếp hay những chi phí gián tiếp hộ chăn ni.

Đây là những rủi ro tác động trực tiếp đến sản lƣợng cũng nhƣ năng suất của

những hộ chăn nuôi.

* Rủi ro giá cả: Là những rủi ro xảy ra do những biến động của thị

trƣờng. Những rủi ro này rất khó kiểm sốt vì giá cả trên thị trƣờng đƣợc

quyết định bởi nhiều yếu tố. Ngồi những yếu tố về tình hình cung cầu trên

thị trƣờng còn chịu ảnh hƣởng nhiều yếu tố khác, chẳng hạn nhƣ chính sách

của nhà nƣớc nữa.



8



1.1.1.3. Ứng xử của nông dân đối với rủi ro

* Rủi ro trong nông nghiệp:

Môi trƣờng tự nhiên, kinh tế và xã hội mà nơng dân sản xuất có biết

bao điều khơng chắc chắn xảy ra bất lợi đối với nông dân nhƣ thiên tai, giảm

giá nông sản, tăng giá đầu vào, bệnh tật… Các sự kiện đó xảy ra với những

xác suất mà khơng thể biết trƣớc đƣợc. Trong các tình trạng khơng chắc chắn

đó, các biến cố có thể xảy ra với một xác suất ƣớc đoán chủ quan đƣợc gọi là

sự rủi ro. Trong nông nghiệp, nông dân phải đƣơng đầu với hàng loạt rủi ro

nhƣ: mất mùa, giá nông sản hạ, giá đầu ra tăng vọt, ốm đau, bệnh tật, thay đổi

bất lợi về tổ chức (thay đổi về tổ chức hay luật lệ và chính sách của Chính

phủ); rủi ro về tài chính (sự thay đổi bất lợi về lãi suất, tỷ giá hối đoái, mức

nợ); sự thay đổi về chính trị xã hội, thay đổi bất lợi về thƣơng mại quốc tế;

thiên tai và các quyết định của Chính phủ (nhƣ quyết định về chiến tranh).

Các dạng rủi ro trên có những tác động rất khác nhau đến kết quả và hiệu quả

sản xuất nông nghiệp (Đỗ Kim Chung và tập thể tác giả, 2009).[6]

* Ứng xử của nông dân đối với rủi ro: Nông dân có cách ứng xử rất

khác nhau với rủi ro. Nếu có rủi ro xảy ra, họ thường thu hẹp quy mơ sản

xuất để tối thiểu hóa thiệt hại.Theo Đỗ Kim Chung và tập thể tác giả (2009),

có thể chia nơng dân ra thành 3 nhóm:[6]

- Thứ nhất, có ngƣời tiếp thu ngay kỹ thuật mới thực hiện đầu tƣ

nhƣ yêu cầu kỹ thuật. Những ngƣời này thƣờng đạt kết quả cao nếu khơng

có rủi ro xảy ra, nhƣng cũng bị lỗ lớn nếu có điều kiện bất thuận xảy ra.

Đây là những ngƣời chịu rủi ro và thƣờng chiếm khoảng 5 – 7 % trong

tổng số nông dân.

- Thứ hai, có ngƣời thực hiện đầu tƣ tối thiểu để chắc chắn hơn. Nếu

đƣợc mùa, họ cũng thu đƣợc (đƣơng nhiên là thấp hơn so với những ngƣời

chịu rủi ro). Nếu mất mùa, họ cũng bị thiệt hại song mức thiệt hại là không



9



lớn. Những ngƣời đầu tƣ theo kiểu này đƣợc gọi là những ngƣời tránh rủi ro.

Phần lớn nông dân (65 - 80%) thuộc nhóm này.

- Thứ ba, những ngƣời đầu tƣ ở mức trung bình (khơng đầu tƣ đúng

quy trình kỹ thuật nhƣ nhóm thứ nhất, cũng khơng đầu tƣ tối thiểu nhƣ

nhóm thứ hai). Những ngƣời này đạt mức lãi không cao hơn và nếu rủi ro

xảy ra mức thiệt hại cũng thấp hơn so với những ngƣời chịu rủi ro. Những

ngƣời này gọi là nông dân trung lập. Có khoảng 13 – 15 % nơng dân thuộc

nhóm ngƣời này.

1.1.2. Các khái niệm, quan điểm về nơng nghiệp, bảo hiểm, bảo hiểm nông nghiệp

1.1.2.1. Một số khái niệm:

* Khái niệm nông nghiệp: Nông nghiệp là ngành sản xuất vật chất cơ

bản của xã hội, sử dụng đất đai để trồng trọt và chăn nuôi, khai thác cây trồng

và vật nuôi làm tƣ liệu và nguyên liệu lao động chủ yếu để tạo ra lƣơng

thực thực phẩm và một số nguyên liệu cho công nghiệp. Nông nghiệp là một

ngành sản xuất lớn, bao gồm nhiều chuyên ngành: trồng trọt, chăn ni, sơ

chế nơng sản; theo nghĩa rộng, còn bao gồm cả lâm nghiệp, thủy sản.

* Khái niệm bảo hiểm: “Bảo hiểm là hoạt động thể hiện ngƣời bảo

hiểm cam kết bồi thƣờng (theo quy định thống kê) cho ngƣời tham gia bảo

hiểm trong từng trƣờng hợp xảy ra rủi ro thuộc phạm vi bảo hiểm với điều

kiện ngƣời tham gia phải nộp một khoản phí cho chính anh ta hoặc cho ngƣời

thứ ba”. Điều này có nghĩa là ngƣời tham gia chuyển giao rủi ro cho ngƣời

bảo hiểm bằng cách nộp các khoản phí để hình thành quỹ dự trữ. Khi ngƣời

tham gia bảo hiểm gặp rủi ro dẫn đến tổn thất, ngƣời tham gia bảo hiểm sẽ lấy

quỹ dự trữ cấp hoặc bồi thƣờng thiệt hại thuộc phạm vi bảo hiểm cho ngƣời

tham gia (Nguyễn Văn Định, 2010).[9]

* Khái niệm bảo hiểm nông nghiệp: Bảo hiểm nông nghiệp là một

nghiệp vụ bảo hiểm phi nhân thọ có đối tƣợng bảo hiểm là các rủi ro phát



10



sinh trong lĩnh vực sản xuất nông nghiệp và đời sống nông thôn, bao gồm

những rủi ro gắn liền với: cây trồng, vật ni, vật tƣ, hàng hóa, ngun

liệu, nhà xƣởng (Nguyễn Văn Định, 2010).[9]

1.1.2.2. Bản chất của bảo hiểm

Mục đích của bảo hiểm là góp phần ổn định kinh tế cho ngƣời tham gia

từ đó khơi phục và phát triển sản xuất, đời sống, đồng thời tạo nguồn vốn cho

phát triển kinh tế xã hội của đất nƣớc..

Thực chất của bảo hiểm là quá trình phân phối lại tổng sản phẩm trong

nƣớc giữa những ngƣời tham gia nhằm đáp ứng nhu cầu tài chính phát sinh tai

nạn, rủi ro bất ngờ xảy ra tổn thất với ngƣời tham gia bảo hiểm.

Hoạt động bảo hiểm dựa trên nguyên tắc “số đông bù số ít”. Ngun

tắc này đƣợc qn triệt trong q trình lập quỹ dự trù bảo hiểm cũng nhƣ

trong quá trình phân phối bồi thƣờng, quá trình phân tán rủi ro.

Hoạt động bảo hiểm còn liên kết, gắn bó các thành viên trong xã hội cùng

vì lợi ích chung của cộng đồng, vì sự ổn định, sự phồn vinh của đất nƣớc. “Số

đơng bù số ít” cũng thể hiện tính tƣơng trợ, tính xã hội và nhân văn sâu sắc của xã

hội trƣớc rủi ro của mỗi thành viên (Nguyễn Văn Định, 2010). [9]

1.1.3. Đặc điểm và tác dụng của bảo hiểm nông nghiệp trong chăn nuôi

1.1.3.1. Đặc điểm của bảo hiểm nông nghiệp trong chăn nuôi

* Đối tượng và phạm vi bảo hiểm

- Đối tƣợng bảo hiểm trong chăn nuôi: là các sản phẩm chăn nuôi và

các loại vật nuôi. Đối với vật nuôi là tài sản cố định thƣờng bảo hiểm từng

con, còn đối với vật ni thƣờng bảo hiểm cả đàn là vật nuôi lƣu động nhƣng

đƣợc nuôi dƣỡng trong thời gian ngắn.

- Thời hạn bảo hiểm: thƣờng là 1năm hoặc là toàn bộ chu kỳ sản xuất.

Nếu là tồn bộ chu kỳ sản xuất thì nó sẽ đƣợc bắt đầu từ khi vật nuôi đƣợc

chuyển thành tài sản cố định đến khi kết thúc chu kỳ sản xuất.



11



- Phạm vi bảo hiểm: Trong chăn nuôi thƣờng gặp rất nhiều rủi ro, có cả

rủi ro khách quan, có cả rủi ro chủ quan…Tuy nhiên chỉ có những rủi ro

thông thƣờng sau đây mới đƣợc bảo hiểm.

+ Thiệt hại do thiên tai, lũ lụt gây ra.

+ Bệnh dịch bao gồm cả những bệnh truyền nhiễm và những bệnh

không truyền nhiễm.

+ Buộc phải giết mổ để đề phòng lây lan. Hoặc là khi vật bị đau ốm

không thể tiếp tục nuôi dƣỡng và sử dụng đƣợc.

+ Và một số rủi ro khác nhƣ: các động vật ăn thịt đánh cắn lẫn nhau,

hoặc bị tai nạn giao thông, hoả hoạn.

* Giá trị bảo hiểm và chế độ bảo hiểm (Nguyễn Văn Định, 2010): [9]

- Đối với súc vật vỗ béo và lấy thịt, giá trị bảo hiểm thƣờng là giá trị

xuất chuồng bình qn một số năm trƣớc đó nhằm loại trừ những yếu tố ngẫu

nhiên ảnh hƣởng.

- Trồng trọt và chăn nuôi đều áp dụng các chế độ bảo hiểm khác nhau

nhằm nâng cao tinh thần trách nhiệm của ngƣời tham gia bảo hiểm, làm giảm

phí và phù hợp với tình hình tổ chức và quản lý của cơng ty bảo hiểm.

* Phương pháp xác định phí bảo hiểm chăn nuôi (Nguyễn Văn Định,

2010): [9]

- Khi tiến hành bảo hiểm các sản phẩm chăn ni, thì cơng tác tính

phígiống nhƣ xác định phí bảo hiểm cho cây trồng hàng năm. Tuy nhiên ở

đây, chỉ giới hạn trong phạm vi xác định phí bảo hiểm theo đầu con gia

súc, gia cầm.

- Phí bảo hiểm theo đầu con đối với từng loại súc vật thƣờng đƣợc tính

theo cơng thức sau:

p  f1  f 2  f 3  f 4

f1 :



phí bồi thƣờng thiệt hại



12



f2 :



phí đề phòng hạn chế tổn thất



f 3 : phí dự trữ dự phòng

f 4: : phí quản lý và lãi dự kiến



Trong đó cách tính phí bồi thƣờng thiệt hại đƣợc xác định nhƣ sau:

n



f1 



q

i 1

n



i



Q



 (Gc  Gt )



i



i 1



Qi : số vật nuôi năm i

q i : số vật nuôi bị chết bị thải loại năm i

Gc : giá trị bình quân 1 con vật nuôi bị thải loại, chết, thuộc phạm vi



bảo hiểm

Gt : giá trị tận thu 1 con vật nuôi sau khi bị thải loại, chết thuộc phạm vi



bảo hiểm.

n



Gc 



q

i 1



i



 t i  pi

n



q

i 1



t



i



: trọng lƣợng bình qn 1 con vật ni trƣớc khi bị chết, bị thải loại,



tai nạn năm i thuộc phạm vi bảo hiểm.

pi : giá bình quân 1 đơn vị sản phẩm vật nuôi trƣớc khi bị thải loại, tai



nạn, chết năm i.

1.1.3.2. Tác dụng của bảo hiểm nông nghiệp

Thứ nhất, khôi phục và duy trì năng lực tài chính ổn định, giảm bớt nỗi

lo âu về tinh thần của các tổ chức, cá nhân tham gia bảo hiểm sau khi xảy ra sự

kiện bảo hiểm, thông qua hoạt động chi trả bồi thƣờng. Về khía cạnh này, trƣớc



13



những tổn thất lớn, trên diện rộng và ảnh hƣởng đến đời sống, sản xuất kinh

doanh trong nơng nghiệp của nhiều ngƣời dân thì hình thức bảo hiểm nơng

nghiệp sẽ có ƣu thế hơn so với các loại hình bảo hiểm khác vì rủi ro sẽ đƣợc

san xẻ giữa các hộ nông dân. Chỉ tính riêng trong năm 2008, số tiền mà các

doanh nghiệp bảo hiểm ở Việt Nam bỏ ra để bồi thƣờng và trả tiền bảo hiểm đã

lên đến gần 9.185 tỷ đồng, tăng 43,6 % so với năm 2007. Trong đó bồi thƣờng

bảo hiểm nông nghiệp là 348 triệu đồng. Bảo hiểm đem lại sự ổn định tài chính

và ổn định xã hội, đồng thời góp phần giảm bớt sự lo âu về tinh thần cho các cá

nhân và doanh nghiệp tham gia bảo hiểm trong đời sống sinh hoạt hàng ngày

cũng nhƣ trong hoạt động sản xuất, kinh doanh nói chung và hoạt động sản

xuất của nông dân ở nông thơn nói riêng (Bộ Tài Chính, 2013). [1]

Thứ hai, bổ sung cho các chƣơng trình đảm bảo xã hội do Nhà nƣớc

thực hiện, nhờ đó làm giảm gánh nặng cho ngân sách nhà nƣớc và nâng cao

hiệu quả của việc phân bổ các nguồn lực trong xã hội. Ví dụ: các hoạt động

sản xuất nông nghiệp hay đánh bắt cá xa bờ thƣờng diễn ra trên diện rộng và

phụ thuộc rất nhiều vào các điều kiện tự nhiên do vậy khả năng xảy ra tổn thất

là rất cao, trong khi các hoạt động bảo hiểm thƣơng mại thông thƣờng rất khó

đáp ứng, đáp ứng khơng hiệu quả hoặc với mức phí bảo hiểm phải đóng cao

gây bất lợi cho ngƣời tham gia bảo hiểm. Trong nhiều trƣờng hợp, với các tổn

thất lớn, diễn ra trên diện rộng thì các doanh nghiệp bảo hiểm sẽ khơng đủ

khả năng thanh tốn và có thể bị phá sản. Do vậy, để bảo hiểm giảm bớt mức

độ thiệt hại, giảm bớt sự tài trợ của ngân sách nhà nƣớc và tạo quyền chủ

động trong việc đề phòng, hạn chế tổn thất thì việc tham gia BHNN của ngƣời

dân ở khu vực nông thôn là rất cần thiết (Bộ Tài Chính, 2013). [1]

Thứ ba, thúc đẩy các hoạt động thƣơng mại, sản xuất kinh

doanh.Thực tế cho thấy nhiều hàng hóa dịch vụ chỉ có thể tiêu thụ đƣợc trên

thị trƣờng nếu đi kèm với các hợp đồng bảo hiểm cho những trách nhiệm



14



phát sinh liên quan đến việc sử dụng các hàng hóa dịch vụ đó. Chẳng hạn,

máy bay khơng thể cất cánh, tàu thuyền không thể ra khơi và xe cộ không

thể khởi hành nếu khơng có bảo hiểm, các sản phẩm nơng sản, thủy hải sản

cần phải có bảo hiểm khi xuất khẩu sang các thị trƣờng các nƣớc phát triển.

Ngoài ra, bảo hiểm cũng hỗ trợ cho các hoạt động kinh doanh bằng cách

tăng cƣờng lòng tin của khách hàng. Ví dụ, một trong những điều kiện tiên

quyết mà ngƣời đi vay cần thỏa mãn trƣớc khi đƣợc cho vay là phải mua bảo

hiểm cho những tài sản đƣợc dùng để thế chấp, hoặc phải bảo hiểm nhân thọ

cho tính mạng của ngƣời chịu trách nhiệm chính trong việc trả nợ. Chính vì

lý do này mà ngƣời ta còn ví rằng “bảo hiểm là chất bôi trơn của hoạt động

thƣơng mại”. Trong khi đó, với tầm lá chắn bảo hiểm, các hộ sản xuất kinh

doanh đánh bắt xa bờ, nuôi trồng thủy hải sản, sản xuất nơng nghiệp... có thể

n tâm sản xuất, nhà đầu tƣ cũng yên tâm khi đầu tƣ vào lĩnh vực sản xuất

nơng nghiệp vì đứng sau lƣng họ có sự bảo vệ tài chính của các cơng ty bảo

hiểm thông qua việc tham gia BHNN (Bộ Tài Chính, 2013). [1]

Thứ tư, tạo kênh huy động vốn tiết kiệm quan trọng cho đầu tƣ phát

triển,đồng thời thúc đẩy việc phân bổ một cách có hiệu quả hơn những nguồn

vốn, thúc đẩy hình thành và phát triển thị trƣờng vốn trong một quốc gia.

Thông qua các nguồn vốn huy động đƣợc (phí bảo hiểm), các cơng ty bảo

hiểm tiến hành đầu tƣ vào các cơng trình, dự án hay các cơng cụ tài chính

dƣới các dạng đầu tƣ của các doanh nghiệp bảo hiểm đạt 54.970 tỷ đồng, tăng

22,2 % so với năm 2007(Bộ Tài Chính, 2013). [1]

Thứ năm, là công cụ hữu hiệu để quản lý rủi ro có hiệu quả,thơng qua

việc định giá, chuyển giao rủi ro, đóng góp quỹ để chi trả cho các tổn thất và

giảm bớt thiệt hại. Các công ty bảo hiểm thực hiện việc định giá sản phẩm

thông qua việc xét nhận bảo hiểm và đầu tƣ, theo nguyên tắc rủi ro tỷ lệ thuận

với phí bảo hiểm. Các chủ doanh nghiệp, các nhà quản lý, nhà đầu tƣ, chủ nợ



15



và các cổ đơng có thể sử dụng những “tín hiệu” thu đƣợc từ việc định giá sản

phẩm này để đƣa ra những quyết định dựa trên thông tin đầy đủ. Nhờ đó, hiệu

quả kinh tế cũng đƣợc nâng cao. Các cơng ty bảo hiểm cũng cho phép các

doanh nghiệp và cá nhân chuyển giao các tài sản, trách nhiệm, tổn thất thu

nhập và các rủi ro khác để đáp ứng nhu cầu của chính bản thân họ một cách tốt

hơn. Ngồi ra, các cơng ty bảo hiểm nhân thọ còn giúp các tổ chức và cá nhân

chuyển giao các khoản tiết kiệm của họ sang một hình thức mới với độ thanh

khoản cao, an toàn hơn và mức độ rủi ro thấp hơn. Mặt khác, theo quy luật số

lớn, các công ty bảo hiểm thu phí của số đơng ngƣời tham gia bảo hiểm để bồi

thƣờng cho số ít những thiệt hại, tổn thất xảy ra. Thông qua hoạt động đầu tƣ,

các cơng ty bảo hiểm có thể phân tán rủi ro cho nhiều đối tƣợng tiếp nhận đầu

tƣ khác nhau và nhờ đó đa dạng hóa danh mục đầu tƣ (Bộ Tài Chính, 2013). [1]



1.1.4. Một số chủ trương chính sách của nhà nước về bảo hiểm nông nghiệp.

1.1.4.1. Đề án “phát triển thương mại nông thôn giai đoạn 2010-2015 và định

hướng tới năm 2020”.

Đề án về thực hiện thí điểm bảo hiểm sản xuất nông nghiệp nêu ra một

số nội dung cơ bản sau:

Tiến hành thí điểm bảo hiểm nông nghiệp cho một số loại sản phẩm

nông thủy sản gặp rủi ro thiên tai, dịch bệnh trong nông nghiệp nhƣ: Bão lũ,

hạn hán, rét đậm, rét hại, dịch tai xanh, dịch lở mồm long móng, dịch rầy nâu,

vàng lùn, xoắn lá...

Đề án triển khai thí điểm: Cây lúa tại Nam Định, Thái Bình, Nghệ An,

Hà Tĩnh, Bình Thuận, An Giang, Đồng Tháp; trâu thịt, bò thịt, lợn thịt, gia

cầm thịt tại Bắc Ninh, Nghệ An, Đồng Nai, Vĩnh Phúc, Hải Phòng, Thanh

Hố, Bình Định, Bình Dƣơng, Hà Nội; ni trồng thuỷ sản, cá tra, cá ba sa,

tôm sú, tôm chân trắng tại Bến Tre, Sóc Trăng, Trà Vinh, Bạc Liêu, Cà Mau.

Mỗi tỉnh, thành phố có thể triển khai thí điểm tồn bộ hoặc trên một vài

huyện, xã tiêu biểu.



16



Đặc biệt, nông dân tham gia bảo hiểm nông nghiệp sẽ đƣợc Nhà nƣớc

hỗ trợ mức phí bảo hiểm. Để tạo điều kiện cho nông dân nghèo, đặc biệt

những hộ, những vùng còn nhiều khó khăn, Bộ Tài chính đề xuất chia nhóm

đối tƣợng đƣợc hỗ trợ và mức hỗ trợ cụ thể đối với nơng dân nghèo, nơng dân

bình thƣờng và tổ chức sản xuất nông nghiệp, cụ thể: Hỗ trợ 80-90% phí bảo

hiểm cho hộ nơng dân nghèo; 60% cho hộ nông dân không thuộc diện nghèo;

50% cho tổ chức sản xuất nơng nghiệp tham gia thí điểm bảo hiểm nông

nghiệp. Đối với những trƣờng hợp thiệt hại về thiên tai, dịch bệnh lớn, trên

diện rộng mang tính thảm hoạ vƣợt quá khả năng chi trả, Chính phủ sẽ có

hƣớng dẫn chi tiết về đối tƣợng đƣợc hỗ trợ phí bảo hiểm và có giải pháp hỗ

trợ doanh nghiệp bảo hiểm.

1.1.4.2. Quyết định 315/QĐ-TTg về việc thực hiện thí điểm bảo hiểm nơng

nghiệp giai đoạn 2011 – 2013. [17]

Quyết định về việc thực hiện thí điểm bảo hiểm nông nghiệp giai đoạn

2011 – 2013 nêu ra một số nội dung cơ bản sau:

Mục đích: Thực hiện thí điểm bảo hiểm nông nghiệp nhằm hỗ trợ cho

ngƣời sản xuất nông nghiệp chủ động khắc phục và bù đắp thiệt hại tài chính

do hậu quả của thiên tai, dịch bệnh gây ra, góp phần bảo đảm ổn định an sinh

xã hội nông thôn, thúc đẩy sản xuất nông nghiệp.

Mức hỗ trợ của Nhà nƣớc và đối tƣợng đƣợc hỗ trợ

- Hỗ trợ 100% phí bảo hiểm cho hộ nơng dân, cá nhân nghèo sản xuất

nơng nghiệp tham gia thí điểm bảo hiểm nơng nghiệp.

- Hỗ trợ 80% phí bảo hiểm cho hộ nông dân, cá nhân cận nghèo sản

xuất nông nghiệp tham gia thí điểm bảo hiểm nơng nghiệp.

- Hỗ trợ 60% phí bảo hiểm cho hộ nơng dân, cá nhân không thuộc

diện nghèo, cận nghèo sản xuất nông nghiệp tham gia thí điểm bảo hiểm

nơng nghiệp.



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Nội dung nghiên cứu

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×