Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Khi số lượng TTCN tăng lên thì quy mô sản lượng hàng hóa, dịch vụ do TTCN tạo ra sẽ tăng lên, thúc đẩy nền kinh tế phát triển. Cơ sở phát triển kéo theo năng lực sản xuất toàn xã hội tăng lên, khoa học công nghệ phát triển, tạo việc làm và tăng khả n...

Khi số lượng TTCN tăng lên thì quy mô sản lượng hàng hóa, dịch vụ do TTCN tạo ra sẽ tăng lên, thúc đẩy nền kinh tế phát triển. Cơ sở phát triển kéo theo năng lực sản xuất toàn xã hội tăng lên, khoa học công nghệ phát triển, tạo việc làm và tăng khả n...

Tải bản đầy đủ - 0trang

- Mở rộng thị trường của TTCN

Mở rộng thị trường là cơ sở tìm cách đưa sản phẩm hàng hóa vào thị trường

mới nhằm làm tăng doanh số bán hàng. Hay nói cách khác, là q trình làm cho các

yếu tố thị trường, thị phần, khách hàng của cơ sở ngày càng tăng lên. Chính sự gia

tăng đầu ra sẽ kích thích cho cơ sở tăng khả năng sản xuất hàng hóa, dịch vụ; khả

năng cung cấp sản phẩm cho thị trường.

Mở rộng thị trường có thể thức hiện theo hai cách, đó là mở rộng thị trường

theo chiều rộng và mở rộng thị trường theo chiều sâu. Mở rộng thị trường theo chiều

rộng là việc cơ sở thực hiện xâm nhập vào thị trường mới, thị trường mà người tiêu



U







dùng chưa biết đến sản phẩm của cơ sở hay còn gọi là thị trường của các đối thủ



H



cạnh tranh. Mở rộng thị trường theo chiều sâu là việc các cơ sở khai thác tốt hơn thị



TẾ



trường hiện có của cơ sở , tiến hành phân đoạn, cắt lớp thị trường, cải tiến hệ thống



IN



H



phân phối, thực hiện các chính sách về sản phẩm, giá, dịch vụ sau bán hàng.



K



Nghiên cứu sự phát triển của TTCN ngoài việc nghiên cứu xem sự phát triển



C



về quy mơ, số lượng của nó phát triển ra sao, thì việc nghiên cứu khả năng chiếm



IH







lĩnh và mở rộng thị phần của cơ sở là tiêu chí quan trọng cả trên góc độ chính sách







của nhà nước và chiến lược kinh doanh của cơ sở . Cơ sở có thị phần lớn, có tốc độ



Đ



tăng trưởng thị phần cao chứng tỏ cơ sở càng phát triển. Phân tích tiêu chí này ta có



N

G



thể đánh giá được xu thế phát triển của TTCN.



TR

Ư





- Chuyển dịch cơ cấu TTCN theo hướng hợp lý

Sự phát triển của TTCN không chỉ đơn thuần là sự gia tăng về mặt số lượng,

quy mô của cơ sở hay chất lượng các yếu tố nguồn lực của cơ sở mà còn thể hiện ở

xu hướng vận động cấu trúc nội bộ trong khu vực TTCN trên một địa phương, khu

vực nhất định theo hướng ngày càng tiến bộ, hợp lý. Việc phát triển về mặt cơ cấu

thường diễn ra trên các mặt sau đây:

Chuyển dịch cơ cấu TTCN theo ngành nghề hoạt động là chỉ tiêu quan trọng

để đánh giá chất lượng phát triển của khu vực TTCN trong một giai đoạn nhất định.

Trên cơ sở định hướng chung của một vùng hay một địa phương thì quá trình

chuyển dịch cơ cấu cơ sở nói chung hay cơ cấu TTCN nói riêng phải phù với quá



21



trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế của vùng, địa phương đó nhằm khai thác hiệu quả

các nguồn lực, thế mạnh đặc thù của từng vùng, địa phương.

Phát triển TTCN xét ở góc độ chuyển dịch cơ cấu còn được thể hiện thơng qua

việc dịch chuyển thay đổi cơ cấu giữa các loại hình cơ sở. Để đánh giá trình độ phát

triển của khu vực TTCN, ngồi việc xem xét sự chuyển dịch cơ cấu TTCN theo

ngành nghề hoạt động và theo loại hình cơ sở thì cần phải xem xét sự chuyển cơ

cấu của khu vực TTCN theo vùng, lãnh thổ.

- Nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh và đóng góp cho xã hội của TTCN

Cơ sở muốn tồn tại và phát triển điều cốt yếu phải nâng cao hiệu quả sản xuất



U







kinh doanh, trong đó lợi nhuận là chỉ tiêu quan trọng phản ánh hiệu quả sản xuất



H



kinh doanh của cơ sở. Nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh tức là nâng cao khả



TẾ



năng thu hút và sử dụng các nguồn lực để tạo ra lợi nhuận của cơ sở ngày càng lớn.



IN



H



Cơ sở làm ăn càng có hiệu quả thì khả năng tích lũy của cơ sở ngày càng lớn, trong



K



tương lai cơ sở càng có cơ hội đầu tư mở rộng quy mơ sản xuất của cơ sở. Do đó,



C



từng ngành nghề TTCN hoạt động càng có hiệu quả chứng tỏ khu vực TTCN càng



IH







phát triển.







Trong nền kinh tế quốc dân, cơ sở đóng một vai trò hết sức quan trọng, đó là



Đ



nơi diễn ra q trình tái sản xuất và tạo nên phần lớn tổng sản phẩm quốc dân. Phát



N

G



triển TTCN khơng ngồi mục tiêu phát triển kinh tế, tạo ra việc làm cho xã hội và



TR

Ư





gia tăng phần đóng góp cho nhà nước thơng qua thuế và các khoản đóng góp khác.

Tuy nhiên trong ngắn hạn, có thể mục tiêu này chưa phải cơ bản, nhưng về lâu dài

đây được xem là tiêu chí quan trọng để đánh giá sự thành công trong định hướng

phát triển TTCN của nhà nước.

1.2. KINH NGHIỆM VỀ PHÁT TRIỂN TIỂU THỦ CÔNG NGHIỆP

1.2.1. Kinh nghiệm phát triển TTCN ở một số nước

1.2.1.1. Phát triển TTCN ở Nhật Bản

Xuất phát điểm của việc bảo tồn và phát triển nghề thủ công truyền thống ở

Việt Nam và Nhật Bản là khác nhau: Nhật Bản tìm thấy ở nghề thủ công truyền

thống sự cân bằng các giá trị cuộc sống giữa hiện tại và quá khứ, giải pháp để phục



22



hồi sức sống cho khu vực nông thôn, ngăn chặn sự di dân ra các thành phố lớn...;

còn Việt Nam lại cần phát triển nghề thủ cơng truyền thống để tạo công ăn việc làm,

tăng thu nhập cho lao động ở nơng thơn, đồng thời đóng góp vào xuất khẩu, tăng

GDP... Chính vì vậy, Việt Nam cần học tập kinh nghiệm của Nhật Bản ở những giải

pháp mang tính hệ thống, đó là:

Trước hết, cần xây dựng một hệ thống Luật và chính sách đồng bộ, thành lập

Hội đồng thẩm định nhằm tìm kiếm, khơi phục và phát triển những nghề thủ công

truyền thống đã bị mai một. Chính sách và Luật là nền tảng pháp lý để các cấp, các

ngành và toàn dân thực hiện việc bảo tồn, phát triển nghề thủ công truyền thống.



U







Tuy nhiên, hệ thống chính sách của Việt Nam hiện nay còn chưa đồng bộ, nhiều



H



chính sách đã lạc hậu. Vì vậy, cần xác định những yếu tố bất hợp lý, những điểm



TẾ



bất cập của các chính sách hiện hành, đồng thời đánh giá các yếu tố mới phù hợp



IN



H



với điều kiện phát triển của nước ta để đưa vào Luật. Tất nhiên, việc đánh giá phải



K



được thực hiện bởi một Hội đồng chun mơn, có sự tham gia của các nhà sản xuất,



C



quản lý, kinh doanh thuộc lĩnh vực nghề thủ công truyền thống.



IH







Nâng cao nhận thức của người dân trong việc yêu mến và tin dùng sản phẩm







thủ công truyền thống, xây dựng ý thức bảo vệ nghề thủ công truyền thống như một



Đ



“báu vật” của quê hương. Một trong những nguyên nhân chủ quan dẫn đến việc



N

G



chưa coi trọng bảo tồn nghề thủ công truyền thống ở nước ta là do nghề thủ cơng



TR

Ư





truyền thống chưa được nhìn nhận đúng với giá trị vốn có của nó là “di sản văn hóa

dân tộc”, việc dạy nghề và làm nghề mới chỉ được tiến hành như một phương thức

để giải quyết công ăn việc làm cho lao động dư thừa ở vùng nơng thơn. Vì vậy, cần

tun truyền để mọi người dân có sự hiểu biết nhất định về nghề thủ cơng truyền

thống, đưa nội dung giáo dục lòng tự hào và yêu mến nghề thủ công truyền thống

vào chương trình giáo dục phổ thơng ở Việt Nam.

Đẩy mạnh sự liên kết, hợp tác giữa khu vực sản xuất và các cơ quan nghiên

cứu trong việc cải tiến kỹ thuật, cơng nghệ sản xuất truyền thống, tìm kiếm nguồn

ngun liệu thay thế, bảo vệ môi trường. Việc liên kết, cộng tác giữa các cơ quan

khoa học với làng nghề là rất cần thiết, bởi nó tạo nên tính năng động của tồn xã



23



hội trong việc gìn giữ và phát triển nghề thủ công truyền thống. Các cơ quan khoa

học sẽ có trách nhiệm nghiên cứu và tư vấn cho cơ sở sản xuất nên sử dụng loại

cơng nghề gì, đổi mới ở khâu nào, cách thức áp dụng kỹ thuật mới ra sao… để giảm

thiểu tối đa sự ô nhiễm môi trường, nâng cao hiệu quả sản xuất mà vẫn giữ được sự

độc đáo, tinh xảo của sản phẩm thủ công truyền thống.

Xây dựng kế hoạch phát triển nghề thủ công truyền thống của từng địa

phương cụ thể (từ khâu vốn, nguyên liệu, đào tạo lao động, trang bị kỹ thuật - công

nghệ hỗ trợ song vẫn bảo đảm được tính “thủ cơng”, đến thiết kế mẫu mã, lo đầu ra

cho sản phẩm, xử lý chất thải, bảo vệ môi trường), với sự hỗ trợ của địa phương và



U







Nhà nước, đặc biệt sự hỗ trợ về nguồn kinh phí là rất quan trọng.



H



Nghề thủ cơng là tài sản văn hóa quý báu của mỗi dân tộc. Giữ gìn và phát



TẾ



triển nghề thủ công truyền thống là trách nhiệm của các cấp, các ngành và toàn thể



H



cộng đồng. Điều kiện cụ thể của từng quốc gia không giống nhau, nên việc bảo tồn



K



IN



nghề thủ công truyền thống cũng được thực hiện ở mức độ khác nhau. Tuy vậy,



C



việc học hỏi và chia sẻ kinh nghiệm lẫn nhau, hỗ trợ lẫn nhau về giải pháp và nguồn



IH







kinh phí giữa các nước trong khu vực có trình độ phát triển kinh tế khác nhau là cần

thiết (http://cjs.inas.gov.vn- Trang nghiên cứu về Nhật Bản)



Đ







1.2.1.2. Phát triển TTCN ở Hàn Quốc



N

G



Sau chiến tranh, Chính phủ Hàn Quốc đã chú trọng đến cơng nghiệp hóa



TR

Ư





nơng thơn, trong đó có ngành nghề thủ cơng và làng nghề truyền thống. Đây là một

chiến lược quan trọng để phát triển nông thôn. Các mặt hàng được tập trung sản

xuất là hàng thủ công mỹ nghệ, hàng tiểu thủ công nghiệp phục vụ du lịch và xuất

khẩu, đồng thời tập trung chế biến lương thực, thực phẩm theo công nghệ cổ truyền.

Ngành nghề thủ công truyền thống được phát triển rộng khắp từ những năm

1970 đến năm 1980, đã xuất hiện 908 xưởng thủ công dân tộc chiếm 2,9% các xí

nghiệp vừa và nhỏ, thu hút 23.000 lao động, hoạt động theo hình thức sản xuất tại

gia đình là chính. Đây là loại hình nơng thơn với 79,4% dựa vào các hộ gia đình

riêng biệt, sử dụng nguyên vật liệu địa phương và bí quyết truyền thống.

Để phát triển cơng nghiệp thủ cơng truyền thống, chính phủ đã thành lập 95

hãng thương mại về những mặt hàng này. Tương lai của các nghề thủ cơng truyền



24



thống còn đầy hứa hẹn do nhu cầu về tiêu thụ sản phẩm dân gian bắt đầu tăng. Qua

đây có thể đánh giá được hiệu quả lao động của chương trình ngành nghề thủ cơng

nghiệp truyền thống là rất thiết thực. (Nguyễn Văn Khỏe, 2010).

1.2.1.3. Phát triển TTCN ở Trung Quốc

Nghề thủ công ở Trung Quốc có từ lâu đời và rất nổi tiếng như đồ gốm, dệt

vải, dệt tơ lụa, luyện kim, nghề làm giấy. Đầu thế kỷ XX, Trung Quốc có khoảng 10

triệu thợ thủ cơng, làm việc trong các hộ gia đình, trong phường nghề và làng nghề.

Đến năm 1954 số người làm nghề TTCN được tổ chức vào Hợp tác xã. Sau này

phát triển thành xí nghiệp Hương Trấn và cho đến nay vẫn còn tồn tại ở một số địa



U







phương. Xí nghiệp Hương Trấn là tên gọi chung của các xí nghiệp cơng, thương



H



nghiệp, xây dựng… hoạt động ở khu vực nơng thơn. Nó bắt đầu xuất hiện vào năm



TẾ



1978 khi Trung Quốc thực hiện chính sách mở cửa. Xí nghiệp Hương Trấn phát



IN



H



triển mạnh mẽ đã góp phần đáng kể vào việc thay đổi bộ mặt nông thôn. Những



K



năm 80, các xí nghiệp cá thể và làng nghề phát triển nhanh, đóng góp tích cực trong



C



việc tạo ra 68% giá trị sản lượng công nghiệp nông thôn và trong số 32% sản lượng



IH







cơng nghiệp nơng thơn do các xí nghiệp cá thể tạo ra có phần đóng góp đáng kể từ







làng nghề. Trong các hàng thủ công xuất khẩu, hàng thảm chiếm tỷ lệ lớn (75%) số



Đ



lượng thảm ở thị trường Nhật Bản (Nguyễn Văn Khỏe, 2010).



N

G



1.2.1.4. Phát triển ngành nghề TTCN ở Inđơnêxia



TR

Ư





Chương trình phát triển ngành nghề TTCN được Chính phủ Inđơnêxia hết

sức quan tâm bằng việc lần lượt đề ra kế hoạch 5 năm, trong đó:

- Kế hoạch 5 năm lần thứ nhất: Xây dựng các xưởng và trung tâm để bán sản

phẩm TTCN.

- Kế hoạch 5 năm lần thứ hai: Thực hiện các dự án hướng dẫn và phát triển

công nghiệp nhỏ nhằm giáo dục đào tạo, mở mang các hoạt động sản xuất TTCN

của những doanh nghiệp nhỏ.

- Kế hoạch 5 năm lần thứ ba: Chính phủ đứng ra tổ chức một số cơ quan để

quản lý, chỉ đạo hướng dẫn nghiệp vụ cung cấp vật tư thiết bị, tiêu thụ sản phẩm.

Chính phủ Inđônêxia đã đứng ra tổ chức một số trung tâm trợ giúp cơng nghiệp



25



nhỏ, đề ra các chính sách khuyến khích hỗ trợ cơng nghiệp nhỏ phát triển; trong đó

chú ý đến chính sách khuyến khích về thuế và ưu tiên công nghiệp nhỏ chế biến

nông sản xuất khẩu. Sự nỗ lực của Chính phủ trong việc phát triển ngành nghề

TTCN ở nông thôn đã đem lại hiệu quả thiết thực. Ở đảo Java, số liệu điều tra 10

làng nghề thủ cơng cho thấy 44% lao động nơng thơn có tham gia ít hoặc nhiều vào

hoạt động kinh tế ngồi nông nghiệp (19% làm việc ở các cơ sở sản xuất TTCN và

16% làm các dịch vụ nông thôn). Thu nhập của nơng dân ở đây từ nguồn ngồi

nơng nghiệp trong những năm gần đây tăng từ 12% lên 23% tổng thu nhập (Nguyễn

Văn Khỏe, 2010).



U







1.2.2. Phát triển TTCN ở Việt Nam



H



Ngành nghề TTCN ở nước ta xuất hiện từ rất sớm. Từ thời kỳ Bắc thuộc (thế



TẾ



kỷ 1 trước cơng ngun đến đầu thế kỷ 10) ngồi sản xuất nơng nghiệp đã hình



IN



H



thành và phát triển các ngành nghề TTCN. Các ngành nghề này chủ yếu sản xuất



K



các công cụ và vật dụng làm bằng sắt, đồng, giấy, thủy tinh, mộc, xây dựng... Vào



C



thế kỷ IV, trên cơ sở tiếp thu kinh nghiệm của Ấn Độ, người Việt Nam đã thổi



IH







những bình, bát thủy tinh nhiều màu sắc.







Giai đoạn từ hồ bình lập lại đến trước những năm 1986 (Miền Nam từ 1976



Đ



- 1996) giai đoạn này các ngành nghề được chú trọng phát triển và thị trường chủ



N

G



yếu là các nước Đông Âu. Mọi cá nhân, hộ làm ngành nghề được vận động vào làm



TR

Ư





trong các tổ hợp tác, các hợp tác xã. Đồng thời để hỗ trợ cho ngành nghề phát triển,

nhà nước còn hình thành các xí nghiệp cơng ty xuất nhập khẩu để thu mua, trao đổi

hàng hoá lấy sản phẩm trong các ngành nghề để phục vụ tiêu dùng và xuất khẩu.

Vào năm 1986 - 1987 kim ngạch xuất khẩu đạt 246 triệu Rúp - Đôla. Ngành nghề

TTCN phát triển đã thu hút hàng triệu lao động như ở Hà Tây năm 1986 làm nghề

TTCN là 95.771 người, đến năm 1988 tăng lên tới 111.693 người, tăng 44,17%.

Vào đầu những năm 1990 khi thị trường Đông Âu và Liên Xô cũ bị biến

động nên hàng TTCN của Việt Nam không tiêu thụ được, sản xuất gặp nhiều khó

khăn, nhiều cơ sở phải đóng cửa ngừng hoạt động, lao động TTCN giảm mạnh: Hà

Tây năm 1988 có 111.693 lao động TTCN, đến năm 1991 chỉ còn 63.313 lao động,



26



giảm 43,31%. Trong thời kỳ này ở Hải Phòng, trong 6 nghề thủ cơng đã giảm

11.000 người, ở Thái Bình, nghề mây tre đan sản phẩm tiêu thụ năm 1991 -1 992

chỉ bằng 10 - 15% so với thời kỳ 1988 - 1989.

Từ năm 1993 trở lại đây, đường lối đổi mới kinh tế đã đem lại nhiều kết quả

tích cực. Chúng ta đã thực hiện chiến dịch mở rộng thị trường bằng tuyên bố “Việt

Nam muốn làm bạn với tất cả các nước”, chính vì vậy đã chuyển từ thị trường các

nước Đông Âu, Liên Xô truyền thống trước đây sang các nước khác, ưu tiên các

nước trong khu vực. Thời kỳ này ngành nghề TTCN lại được phục hồi, chuyển

hướng và phát triển.



U







Sau một thời gian lao động tìm kiếm, chuyển đổi thị trường và tổ chức lại sản



H



xuất để thích nghi với cơ chế thị trường dần dần hàng truyền thống Việt Nam đã tìm



TẾ



ra lối thốt. Bắt đầu từ những năm 90 của thế kỷ XX hàng thủ công truyền thống của



IN



H



Việt Nam đã tìm ra bước đi đúng hướng cho mình, kim ngạch xuất khẩu hàng năm đã



K



đạt hàng triệu USD. Hiện nay nhiều làng nghề TTCN đã được khôi phục càng ngày



C



càng nổi tiếng như: gốm Vĩnh Long (Đồng Nai), đã cạnh tranh được với hàng gốm sứ



IH







của Trung Quốc, Thái Lan và đang có mặt ở trên nhiều nước trên thế giới là Đức,







Pháp, Mỹ, Nhật Bản… thậm chí còn lọt vào cả thị trường Trung Quốc; Đồ gỗ nội thất



Đ



Đồng Kỵ (Bắc Ninh), một làng nghề có đến trên 80 công ty TNHH và trên 500 hộ



N

G



làm đồ gỗ có quy mơ lớn, doanh thu vài tỷ đồng trên năm…



TR

Ư





Xuất phát từ vị trí vai trò to lớn của ngành nghề TTCN, nhiều làng nghề

TTCN đã được khôi phục và phát triển, các ngành nghề TTCN phát triển là xu

hướng tất yếu khách quan của sự phát triển, bởi phát triển ngành nghề phi nông

nghiệp và ngành nghề TTCN nông thôn sẽ giải quyết việc làm cho hàng triệu lao

động thời vụ và thiếu việc làm cho nông thôn. Ngành nghề TTCN đã tạo điều kiện

cho người dân nông thơn nâng cao thu nhập, đóng góp khơng nhỏ vào GDP của địa

phương làm cho cơ cấu kinh tế của địa phương biến đổi theo hướng tích cực là tăng

dần tỷ trọng công nghiệp và dịch vụ, giảm dần tỷ trọng nơng nghiệp, góp phần tích

cực vào việc chuyển dịch cơ cấu lao động và cơ cấu kinh tế nông thôn theo hướng

CNH - HĐH.



27



1.2.3. Phát triển TTCN của một số địa phương

1.2.3.1. Phát triển TTCN tỉnh Bắc Ninh

Trong quá trình phát triển ngành nghề TTCN ở Bắc Ninh, làng nghề đóng

vai trò làm nòng cốt. Các làng nghề của Bắc Ninh xuất hiện khá sớm, dần dần hình

thành các làng nghề truyền thống. Theo một số tài liệu thì từ thời nhà Lý cả nước có

64 làng nghề, riêng Bắc Ninh có 14 làng nghề.

Trong từng thời kỳ phát triển, có những sản phẩm phù hợp với thị trường

được mở rộng dần ra các làng trong xã thành xã nghề. Nói đến đồng Đại Bái là cả

xã Đại Bái làm nghề gò rát đồng, gốm Phù Lãng là xã Phù Lãng (cả hai làng Đoàn



U







Kết và Phấn Trung) đều làm gốm… Gần đây hàng mộc mỹ nghệ phát triển ở 3 xã



H



Phù Khê, Hương Mạc và Đồng Quang. Đây lại là hình thức mới: một cụm xã liền



TẾ



nhau cùng sản xuất một loại sản phẩm và nó vẫn tiếp tục lan sang một số xã xung



IN



H



quanh. Hiện nay ở Bắc Ninh đang hình thành các cụm sản phẩm: Cụm hàng mộc



K



mỹ nghệ, cụm sắt thép, cụm dệt (Từ Sơn); cụm giấy, cụm hàng nhôm (Yên Phong);



C



cụm hàng đồng, hàng nhựa (Gia Bình); cụm gốm (Quế Võ)…



IH







Những năm qua, một số ngành nghề ở Bắc Ninh đã có sự tăng trưởng khá,







trong đó phải kể đến các ngành: Dệt, sản xuất giấy, sản xuất kim loại, sản xuất sản



Đ



phẩm từ kim loại, sản xuất giường tủ bàn ghế …



N

G



Từ năm 1999 trở lại đây, nhờ có một loạt chính sách ưu tiên phát triển ngành



TR

Ư





nghề và khôi phục các làng nghề của tỉnh, một số ngành nghề TTCN phát triển vượt

bậc và đã đóng góp 49,4% trong cơ cấu ngành công nghiệp, ngành công nghiệp

chiếm 37,1% trong cơ cấu GDP của tỉnh (năm 2015). Các cụm công nghiệp làng

nghề được hình thành là bước đột phá trong sự phát triển TTCN của Bắc Ninh

(Cụm công nghiệp làng nghề sắt thép Châu Khê, mộc mỹ nghệ Đồng Quang, giấy

Phong Khê, đồng Đại Bái…).

1.2.3.2. Phát triển TTCN huyện Phù Ninh, tỉnh Phú Thọ

Nhằm phát huy những lợi thế, Phù Ninh đã quy hoạch và tổ chức không gian

sản xuất công nghiệp - TTCN một cách hợp lý, phát triển các khu, cụm công nghiệp

tập trung và làng nghề. Nhiều dự án công nghiệp - TTCN được tập trung đẩy nhanh



28



tiến độ thực hiện như cụm công nghiệp - dịch vụ Tử Đà- An Đạo; Khu công nghiệp

Phù Ninh; vùng vệ tinh của Tổng công ty Giấy Việt Nam; chuỗi công nghiệp dịch

vụ cảng An Đạo, Tử Đà, Vĩnh Phú kết nối điểm xuống của đường cao tốc… Việc

quy hoạch vùng sản xuất đã giúp Phù Ninh tập trung phát triển được các ngành

hàng có lợi thế của huyện như: Sản xuất chế biến giấy; chế biến nông - lâm sản thực phẩm; khai khoáng và sản xuất vật liệu xây dựng… Với những ưu thế nổi trội,

sản xuất công nghiệp - TTCN ở Phù Ninh cũng phát triển tới một mức độ cao hơn

so với nhiều địa phương khác trong tỉnh khi các doanh nghiệp chịu khó đầu tư đổi

mới trang thiết bị, ứng dụng khoa học công nghệ vào sản xuất và bảo vệ mơi



U







trường. Nhiều doanh nghiệp đã tích cực ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật theo



H



hướng nâng cao chất lượng giá trị và khả năng cạnh tranh của sản phẩm, hàng hóa.



TẾ



Khơng ít doanh nghiệp mạnh dạn đầu tư lắp đặt dây chuyền sản xuất mới. Trong đó



IN



H



tiêu biểu là một số doanh nghiệp ngành giấy đã đầu tư dây chuyền sản xuất giấy đế



K



(giấy chuyên sản xuất vàng mã); dây chuyền sản xuất giấy vở, sổ tay xuất khẩu,



C



giấy in báo. Các doanh nghiệp sản xuất vật liệu xây dựng đầu tư lò đứng liên hồn,



IH







dây chuyền sản xuất gạch tuy nel. Lĩnh vực công nghiệp cơ khí, hóa chất lại đầu tư







hệ thống dây chuyền cán thép từ tôn cuộn, dây chuyền sản xuất phân bón hữu cơ vi



Đ



sinh hay dây chuyền sản xuất sút. Khu vực nơng nghiệp nơng thơn cũng có nhiều cơ



N

G



sở trang bị các thiết bị chế biến chè, xay xát lương thực, sản xuất đồ mộc…



TR

Ư





Để đảm bảo thực hiện tốt Đề án phát triển sản xuất công nghiệp - TTCN thời

kỳ 2011 - 2015 của huyện và các Nghị quyết về phát triển công nghiệp - TTCN,

Phù Ninh đã rất tích cực hỗ trợ tạo điều kiện cho các cơ sở về mặt bằng sản xuất, về

chuyển giao kỹ thuật và xúc tiến thương mại quảng bá sản phẩm. Huyện chủ trương

ưu tiên cho các ngành hàng, sản phẩm có điều kiện khai thác tiềm năng, lợi thế trên

địa bàn, thu hút giải quyết việc làm cho nhiều lao động và đặc biệt quan tâm đến

việc phối hợp với các cơ quan chức năng triển khai thực hiện tốt công tác khuyến

công hỗ trợ doanh nghiệp.

Với chủ trương hợp lý, Phù Ninh đã biến tiềm năng thành thế mạnh của

mình. Trong các năm từ 2011 - 2013, dù kinh tế suy thối có nhiều yếu tố bất lợi



29



cho sản xuất kinh doanh nhưng giá trị sản xuất công nghiệp - TTCN trên địa bàn

huyện vẫn đạt tốc độ tăng trưởng bình quân gần 29%/năm, vượt khá cao so với mục

tiêu 19% cho cả thời kỳ 2011 - 2015.

Sản xuất công nghiệp - TTCN Phù Ninh phát triển theo hướng nâng cao giá

trị và sức cạnh tranh trên thị trường. Một số sản phẩm như: Giấy đế, dăm mảnh, bê

tông tươi… tiếp tục tăng cao và các sản phẩm giấy in báo, giấy viết, axit, xút…

cũng giữ tốc độ tăng năm sau cao hơn năm trước. Hoạt động của các cụm công

nghiệp trên địa bàn đảm bảo ổn định. Các hạng mục kết cấu hạ tầng cụm công

nghiệp Đồng Lạng cơ bản đã được thực hiện với tỷ lệ lấp đầy là 100%; cụm công



U







nghiệp dịch vụ Tử Đà - An Đạo được khẩn trương xây dựng theo quy hoạch và



H



nhanh chóng thu hút doanh nghiệp vào sản xuất với tỷ lệ lấp đầy lên đến 80%. Tận



TẾ



dụng tiềm năng lợi thế của từng địa phương để đẩy mạnh sản xuất TTCN ở khu vực



IN



H



nông nghiệp nông thôn, đến nay Phù Ninh đã mở rộng được các ngành nghề chế



K



biến nơng lâm sản, thực phẩm và gia cơng cơ khí, giúp thu hút thêm nhiều lao động.



C



Sau hơn 3 năm triển khai Đề án phát triển sản xuất công nghiệp - TTCN, Phù Ninh



IH







đã phát triển thêm được 7 doanh nghiệp và 38 hộ sản xuất cá thể đưa số đơn vị, cá







nhân tham gia lĩnh vực sản xuất TTCN trên địa bàn huyện lên 21 công ty TNHH;



Đ



17 công ty Cổ phần; 2 doanh nghiệp tư nhân; 3 HTX sản xuất công nghiệp và 1.723



N

G



hộ sản xuất cá thể, thu hút tổng số lao động toàn huyện là 5.130 người, tăng gần



TR

Ư





1.000 lao động so với năm 2010 với mức thu nhập bình qn 3 triệu

đồng/người/tháng. Ngồi ra, phát triển các nghề truyền thống cũng như việc du

nhập, nhân cấy các nghề mới cũng được cấp ủy, chính quyền các địa phương quan

tâm, chú trọng. Đã có thêm 2 làng nghề mới được mở ra là: Nuôi và chế biến rắn ở

Khuân Dậu xã Trung Giáp và làng trồng cây cảnh An Mỹ xã Phú Lộc đưa tổng số

làng nghề của huyện lên 5 làng nghề được UBND tỉnh công nhận.

Với những lợi thế đang dần được cụ thể hóa, chắc chắn kinh tế cơng nghiệp TTCN Phù Ninh không chỉ dừng lại ở tiềm năng mà sẽ được chuyển hóa thành sức

mạnh cho một trong những vùng CN trọng điểm của tỉnh (http://baophutho.vn).



30



1.2.3.3. Tình hình phát triển TTCN ở huyện Quảng Điền, tỉnh Thừa Thiên Huế

Huyện Quảng Điền, tỉnh Thừa Thiên Huế là một huyện vùng trũng tỉnh Thừa

Thiên Huế, nằm phía Bắc lưu vực sơng Bồ và phía Tây phá Tam Giang nên giao

thơng rất tiện lợi. Về đường bộ có đường tỉnh lộ nối với quốc lộ 1A - Sịa - An Lỗ;

Sịa Tây Ba-Bao Vinh - Huế, Sịa - Phong Lai liền với nhiều xã Phong Điền, tuyến

đường ven biển Hương Trà, Quảng Điền, Phong Điền đến Hải Lăng (Quảng Trị) đường 68, hầu hết các xã đều có đường ơtơ đi lại thuận tiện. Trong thời gian qua,

cùng với chính sách hỗ trợ của Nhà nước, huyện đã chỉ đạo các cấp, ngành xây

dựng và triển khai thực hiện các chính sách hỗ trợ và phát triển đa dạng các ngành



U







nghề TTCN tại địa phương và các làng nghề. Mấy năm gần đây, huyện Quảng Điền



H



có nhiều chính sách hỗ trợ nhằm khơi phục và phát triển nghề truyền thống với hàng



TẾ



chục tỷ đồng đầu tư. Mới đây, làng nghề bún Ô Sa được Phòng Cơng thương huyện



IN



H



hỗ trợ kinh phí đầu tư máy móc, thiết bị sản xuất hiện đại cho một số nhóm hộ, gắn



K



với xây dựng hệ thống xử lý mơi trường nên làng bún từng bước khôi phục và ngày



C



càng phát triển. Hàng chục hộ nhờ nghề này đã ổn định cuộc sống, có điều kiện



IH







ni con ăn học. Tại địa phương còn hình thành làng bún Mai Tịnh có quy mô khá







lớn, doanh thu mỗi năm hàng trăm triệu đồng, giải quyết việc làm ổn định cho hàng



Đ



chục lao động nông nhàn với thu nhập từ 2,5 triệu đến 3 triệu đồng/tháng.



N

G



Việc khôi phục, phát triển các ngành nghề như đan lát, làm bún, mộc mỹ



TR

Ư





nghệ, gò hàn, cơ khí, thêu ren, chế biến nước mắm... tạo thêm điều kiện để Quảng

Điền xây dựng nông thôn mới thuận lợi. Gắn với đào tạo nâng cao tay nghề nhằm

cung cấp nguồn lao động đáp ứng yêu cầu cho các cơ sở, doanh nghiệp. Phòng

Cơng thương huyện phối hợp với Trung tâm Khuyến công tỉnh tổ chức nhiều lớp

tập huấn, đào tạo nghề cho trên 1.000 lao động. Hầu hết các đối tượng sau khi được

đào tạo đều đáp ứng nhu cầu sử dụng của các doanh nghiệp trên địa bàn. Từ nguồn

vốn khuyến công, huyện hỗ trợ cho hàng trăm cơ sở đổi mới, nâng cấp công nghệ,

mở rộng quy mô sản xuất, kinh doanh. Nhiều mặt hàng, sản phẩm truyền thống

được hỗ trợ kinh phí, tạo điều kiện tham gia các hội chợ trong và ngoài tỉnh nhằm

quảng bá, giới thiệu thương hiệu và tìm thị trường tiêu thụ...



31



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Khi số lượng TTCN tăng lên thì quy mô sản lượng hàng hóa, dịch vụ do TTCN tạo ra sẽ tăng lên, thúc đẩy nền kinh tế phát triển. Cơ sở phát triển kéo theo năng lực sản xuất toàn xã hội tăng lên, khoa học công nghệ phát triển, tạo việc làm và tăng khả n...

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×