Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ PHÁT TRIỂN TTCN

CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ PHÁT TRIỂN TTCN

Tải bản đầy đủ - 0trang

1.1.1.2. Khái niệm về phát triển

Theo tác giả Raman Weitz cho rằng: “Phát triển là một quá trình liên tục làm

thay đổi mức sống của con người và phân phối công bằng những thành quả tăng

trưởng trong xã hội”.

Ngân hàng thế giới đã đưa ra khái niệm phát triển với nghĩa rộng lớn hơn bao

gồm những thuộc tính quan trọng có liên quan đến hệ thống giá trị của con người,

đó là: “Phát triển là sự tăng trưởng cộng thêm các thay đổi cơ bản trong cơ cấu của

nền kinh tế. Sự tăng lớn của sản phẩm quốc dân do ngành cơng nghiệp tạo ra, sự đơ

thị hóa, sự tham gia của các dân tộc một quốc gia trong quá trình tạo thay đổi nói



U







trên là những nội dung của phát triển. Phát triển là việc nâng cao phúc lợi của nhân



H



dân, nâng cao các tiêu chuẩn sống, cải thiện giáo dục, sức khỏe và đảm bảo sự bình



TẾ



đẳng hơn về cơ hội, sự tự do về chính trị và các quyền tự do công dân, củng cố



IN



H



niềm tin trong cuộc sống của con người trong mối quan hệ với Nhà nước…”



K



(Chương trình Giảng dạy Kinh tế Fulbright).



C



Một quan niệm khác cho rằng “Phát triển là tạo điều kiện cho con người sinh



IH







sống bất cứ nơi nào đều thỏa mãn các nhu cầu sống của mình, có mức tiêu thụ hàng







hóa và dịch vụ tốt, đảm bảo chất lượng cuộc sống, có trình độ học vấn cao, được



Đ



hưởng những thành tựu về văn hóa và tinh thần, có đủ điều kiện cho một môi



N

G



trường sống lành mạnh, được hưởng các quyền cơ bản của con người và được đảm



TR

Ư





bảo an ninh, an tồn, khơng có bạo lực”.

Phát triển thể hiện ở chiều sâu và chiều rộng. Phát triển chiều sâu phản ánh

về sự thay đổi về chất lượng của ngành sản xuất và của nền kinh tế - xã hội để phân

biệt các trình độ khác nhau trong sự tiến bộ của xã hội. Phát triển theo chiều rộng là

việc tăng về quy mô, số lượng, đa dạng hiện tượng kinh tế - xã hội. Sự phát triển

được đánh giá khơng những chỉ bằng GNP và GDP tính bình qn trên đầu người

dân và còn bằng một số chỉ tiêu khác phản ánh sự tiến bộ của xã hội như cơ hội về

giáo dục, nâng cao sức khỏe cộng đồng, tình trạng dinh dưỡng, nâng cao giá trị

cuộc sống, cơng bằng xã hội, bảo vệ môi trường.



7



1.1.1.3. Khái niệm phát triển TTCN

Là quá trình phát triển trong lĩnh vực TTCN, nhằm tạo ra những chuyển biến

mới trong lĩnh vực này nhằm thúc đẩy kinh tế - xã hội phát triển. Phát triển tiểu thủ

công nghiệp thể hiện cụ thể ở quy mô và tốc độ tăng giá trị sản xuất, giá trị tăng

thêm; quy mô, số lượng cơ sở tiểu thủ công nghiệp; lao động, chất lượng lao động

của cơ sở…

Việt Nam, trong chính cương của Đảng lao động (1951) lần đầu tiên nói đến

thuật ngữ cơng nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, ban đầu thuật ngữ này là công dụng,

mặc dù các văn bản chính thức của Nhà nước chỉ dùng chung một thuật ngữ “thủ



U







công nghiệp” nhưng đều hiểu rằng nó bao hàm cả cơng nghiệp và TTCN, nhiều



H



ngành nghề trước đây chủ yếu làm bằng tay, sử dụng các công cụ thô sơ. Ngày nay,



TẾ



với sự phát triển của khoa học kỹ thuật, con người đã biết sử dụng máy móc vào



H



nhiều khâu, cơng đoạn trong sản xuất thủ cơng nghiệp. Chính vì vậy, mà các nhà



K



IN



nghiên cứu đề xuất ý kiến nên bỏ thuật ngữ “thủ công nghiệp” mà dùng thuật ngữ



C



“tiểu cơng nghiệp”.



IH







Có quan niệm cho rằng, ngành nghề tiểu thủ công nghiệp là ngành sản xuất

chủ yếu phụ thuộc vào đơi tay khóe léo của con người, các sản phẩm thủ công được



Đ







sản xuất theo tính chất phường hội, mang bản sắc truyền thống và có những bí



N

G



quyết cơng nghệ riêng của từng nghề, từng vùng. Quan niệm này mang tính cổ điển.



TR

Ư





Trong điều kiện hiện nay do trình độ khoa học kỹ thuật phát triển nhanh chóng, trên

thế giới đã trải qua nhiều cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật; cơ khí hóa, điện khí

hóa, q trình cơng nghiệp hóa, hiện đại hóa. Việc đưa máy móc, thiết bị vào trong

sản xuất TTCN là tất yếu, một số công đoạn sản xuất được đưa máy móc thiết bị

vào thay cho lao động thủ cơng để nâng cao năng suất lao động. Vì vậy, những

ngành sản xuất có tính chất như trên được gọi là sản xuất tiểu thủ công nghiệp.

Tổ chức phát triển công nghiệp Liên hiệp quốc (UNIDO) cũng đã đề nghị

thay thế khái niệm nghề thủ công bằng khái niệm công nghiệp truyền thống. Như

vậy, đã chứng tỏ rằng ngành nghề TTCN cũng là mối quan tâm của nhiều tổ chức.

Phát triển ngành nghề TTCN là một hướng đi cơ bản góp phần chuyển dịch cơ cấu

kinh tế,nghề thủ công là nơi gặp gỡ của nghệ thuật và kỹ thuật. Từ điển bách khoa



8



của nhà xuất bản Mac Milan Conbany đã viết: “Thủ cơng nghiệp vừa là một cách

thức sản xuất có tính cơng nghiệp vừa là một hoạt động có tính chất mỹ thuật”. Như

vậy, ngành nghề TTCN còn là một trong những nơi lưu trữ và thể hiện bản sắc văn

hóa dân tộc một cách đầy đủ và tinh tế nhất.

Theo các nhà khoa học và các chuyên gia của Bộ Nơng nghiệp và Phát triển

nơng thơn, trong q trình nghiên cứu, khảo sát ngành nghề nông thôn theo quy mơ

tồn quốc năm 1997 đã đưa ra một khái niệm khá đầy đủ về ngành nghề nông thôn

như sau: “Ngành nghề truyền thống là những hoạt động kinh tế phi nông nghiệp bao

gồm TTCN, các hoạt động dịch vụ sản xuất và đời sống, có quy mơ vừa và nhỏ với







các thành phần kinh tế như hộ gia đình, hộ sản xuất (gọi chung là hộ), các tổ chức



H



U



kinh tế HTX, DNTN, Công ty TNHH… (gọi chung là cơ sở sản xuất). Các tổ chức



TẾ



hộ và cơ sở này với mức độ khác nhau đều gắn kết mật thiết với nơng thơn và có sử



H



dụng nguồn lực của nơng thơn (đất đai, lao động, nguyên liệu và các nguồn lực khác)



IN



và có ảnh hưởng lớn đến q trình phát triển kinh tế, xã hội của nơng thơn”. Sản xuất



K



TTCN đó là những ngành sản xuất bằng tay và bằng công cụ thơ sơ, hoặc cải tiến có từ







C



lâuđời gắn với các làng nghề hoặc các hộ làng nghề tạo ra những mặt hàng tiêu dùng



IH



truyền thống và có kỹ xảo phục vụ tiêu dùng trong nước và xuất khẩu.







Ngành nghề TTCN nông thôn ở Việt Nam thường được phát triển trong các



Đ



thôn, làng xã và được gọi là làng nghề. Làng nghề ở nơng thơn Việt Nam có bề dày



N

G



lịch sử lâu đời, nhưng nhìn chung thì quy mơ sản xuất nhỏ, lao động thủ công là chủ



TR

Ư





yếu và lực lượng lao động trong làng nghề thường mang tính chất gia đình, khơng

được đào tạo mà chủ yếu dựa vào kinh nghiệm, cha truyền con nối.

Như vậy, ngành nghề tiểu thủ công nghiệp nông thôn gắn với các làng nghề

trong quá trình cùng tồn tại và phát triển, ngành nghề tiểu thủ công nghiệp là một bộ

phận của ngành nghề nông thôn. Những vấn đề về nông nghiệp, nông thôn, nơng

dân đều có thể được phản ánh trong mối quan hệ này.

Ngành nghề tiểu thủ công nghiệp truyền thống là những ngành nghề phi

nông nghiệp phát triển đến mức trở thành nguồn sống chính hoặc thu nhập quan

trọng của người dân làng nghề, là ngành nghề TTCN có từ thời thuộc Pháp còn tồn

tại đến nay, kể cả những nghề được cải tiến hoặc sử dụng máy móc hiện đại để hỗ

trợ sản xuất nhưng vẫn tuân thủ những công nghệ truyền thống.



9



Ngành nghề tiểu thủ công nghiệp mới là những ngành nghề phi nơng nghiệp

mới được hình thành do phát triển từ các ngành nghề truyền thống hoặc tiếp thu

những nghề mới để đáp ứng các nhu cầu của xã hội phát sinh.

Quan niệm mới của sự phát triển về TTCN là lồng ghép quá trình sản xuất

TTCN với bảo tồn tài nguyên và làm tốt hơn về môi trường: Đảm bảo thỏa mãn

những nhu cầu hiện tại mà không phương hại đến khả năng đáp ứng những nhu cầu

của tương lai. Các thế hệ hiện tại khi sử dụng nguồn tài nguyên cho sản xuất ngành

nghề TTCN để tạo ra của cải vật chất không thể để cho thế hệ mai sau phải gánh

chịu tình trạng ơ nhiễm, cạn kiệt tài nguyên và nghèo đói. Cần phải để cho các thế



U







hệ tương lai được thừa hưởng các thành quả lao động của thế hệ hiện tại dưới dạng



H



giáo dục, kỹ thuật, kiến thức và các nguồn lực khác ngày càng được tăng cường.



TẾ



Tăng thu nhập kết hợp với các chính sách mơi trường và thể chế vững chắc có thể



IN



H



tạo cơ sở cho việc giải quyết cả hai vấn đề môi trường và phát triển ngành nghề



K



TTCN. Điều then chốt đối với phát triển bền vững ngành nghề TTCN không phải là







IH



tài nguyên và bảo vệ môi trường.



C



sản xuất ít đi mà sản xuất khác đi, sản xuất phải đi đôi với việc tiết kiệm các nguồn







1.1.2. Đặc trưng của sản xuất tiểu thủ công nghiệp



Đ



Nếu chỉ xét một cách tổng qt thì cơng nghiệp và TTCN có những nét



N

G



tương đồng, được cụ thể trong việc sản xuất các mặt hàng phi nông nghiệp và



TR

Ư





không chịu sự tác động nhiều của điều kiện tự nhiên cũng như tính thời vụ trong sản

xuất nông nghiệp... Nhưng nếu xét về trình độ sản xuất cũng như trình độ tổ chức,

quản lý sản xuất thì cơng nghiệp và TTCN có đặc điểm khác nhau.

Thứ nhất, đặc trưng của TTCN được thể hiện đơn giản về kỹ thuật sản xuất.

Nếu như nền công nghiệp lớn được đặc trưng bằng những kỹ thuật sản xuất hiện đại

và được đổi mới thường xuyên thì TTCN với hai hình thức sản xuất là: Tiểu cơng

nghiệp và thủ công nghiệp lại được sản xuất trên cơ sở đơn giản về kỹ thuật sản

xuất và đôi khi mang tính truyền thống trong một khoảng thời gian tương đối dài. Ở

đây sự tham gia của máy móc nhiều khi khơng mang tính quyết định đối với khả

năng cạnh tranh của mỗi cơ sở sản xuất trong cơ chế thị trường.



10



Thứ hai, đặc trưng của sản xuất TTCN còn thể hiện qua tính linh hoạt trong

sản xuất, có thể thay đổi máy móc nhanh chóng trong việc kết hợp sản xuất mặt

hàng phi nông nghiệp. Xuất phát từ đặc điểm đơn giản trong kỹ thuật sản xuất cho

nên TTCN rất linh hoạt về sản xuất. Phần nhiều máy móc được sử dụng trong hoạt

động sản xuất TTCN là máy móc động lực và máy móc phổ thơng, do đó việc

chuyển từ sản xuất mặt hàng này sang sản xuất mặt hàng khác là việc đơn giản.

Thêm vào đó vốn đầu tư cũng như vốn sản xuất trong TTCN là nhỏ, do vậy những

cản trở vào và ra của ngành là khơng đáng kể. Điều đó tạo ra sự linh hoạt và tính

mềm dẻo của các lĩnh vực sản xuất TTCN.



U







Thứ ba, đặc trưng về sản xuất TTCN còn được thể hiện qua sự gọn, nhẹ về



H



quản lý. Với hình thức sản xuất chủ yếu là cơ sở cá thể, cao hơn là hình thức cơng



TẾ



ty TNHH, HTX. Đây là hình thức sản xuất quy mơ vừa và nhỏ, một người có thể



IN



H



kiêm thêm nhiều vị trí, vừa làm quản lý vừa trực tiếp tham gia sản xuất. Công tác



K



điều hành quản lý nhiều khi mang tính kinh nghiệm, khơng đòi hỏi phức tạp như



C



cơng tác quản lý các doanh nghiệp quy mô lớn. Mặt khác, đặc trưng của sản xuất



IH







TTCN còn thể hiện tính dễ dàng trong tổ chức sản xuất. Thứ nhất do sản phẩm







ngành TTCN đơn giản về hình thức, khơng đòi hỏi độ chính xác q cao nên việc tổ



Đ



chức khơng đòi hỏi tính phức tạp. Thứ hai, do hình thức sản xuất chủ yếu là hộ gia



N

G



đình, với quy mơ nhỏ nên tổ chức phân cơng việc giản đơn, mọi thành viên có thể



TR

Ư





hỗ trợ cho nhau, thay thế nhau trong quá trình sản xuất. Hơn nữa mỗi cơ sở sản xuất

thường chỉ sản xuất một hoặc một số sản phẩm có quy trình và cách thức sản xuất

nhất định. Chính vì vậy việc tổ chức sản xuất khơng đòi hỏi độ phức tạp như khi sản

xuất nhiều sản phẩm.

1.1.3. Vai trò của các nghề TTCN trong phát triển kinh tế

* Phát triển các nghề TTCN là góp phần phát triển cơng nghiệp nơng thơn

trong q trình cơng nghiệp hố, hiện đại hố nơng nghiệp, nơng thơn

Phát triển các nghề TTCN góp phần giải quyết việc làm, tăng thu nhập, tạo

ra sản phẩm phục vụ xã hội và góp phần tích cực vào chuyển dịch cơ cấu kinh tế

nông nghiệp và nông thôn.



11



Phát triển các nghề TTCN sẽ nâng tỷ trọng của ngành công nghiệp trong cơ

cấu kinh tế ở nông thôn và tăng tốc độ phát triển kinh tế nông thôn. Đồng thời với

thúc đẩy phát triển công nghiệp, phát triển các làng nghề sẽ kéo theo phát triển nông

nghiệp để cung cấp nguyên liệu cho công nghiệp và tiêu thụ sản phẩm của công

nghiệp, thúc đẩy sự phát triển cơ sở hạ tầng kỹ thuật và các ngành dịch vụ... Do

vậy, phát triển các nghề TTCN sẽ góp phần tích cực vào chuyển dịch cơ cấu kinh tế

và thúc đẩy CNH, HĐH nông nghiệp và nơng thơn.

* Phát triển các nghề TTCN góp phần tạo việc làm, nâng cao thu nhập cho

người lao động, cải thiện đời sống nhân dân ở nông thôn



U







Phát triển toàn diện kinh tế, tạo việc làm, nâng cao đời sống cho dân cư nông



H



thôn là vấn đề quan trọng hiện nay ở nước ta. Với diện tích đất canh tác bình quân



TẾ



vào loại thấp và thiếu việc làm ở khu vực nơng thơn còn chiếm tỷ lệ cao, thời gian



IN



H



nhàn rỗi của người dân khá lớn. Do vậy, vấn đề giải quyết công ăn việc làm cho lao



K



động nơng thơn trở nên hết sức khó khăn, đòi hỏi sự hỗ trợ nhiều mặt và đồng bộ



C



của các cấp, các ngành. Việc mở mang, đầu tư phát triển ngành nghề ở các làng



IH







nghề là biện pháp tốt nhất để huy động nguồn lao động này. Bởi vì, sản xuất TTCN







chủ yếu thực hiện bằng tay, khơng đòi hỏi cao về chuyên môn, kỹ thuật như đối với



Đ



các lĩnh vực sản xuất khác. Các cơ sở sản xuất tiểu thủ cơng nghiệp có quy mơ nhỏ,



N

G



thậm chí chỉ là sản xuất của các hộ gia đình nhưng đã thu hút một số lượng khá lớn



TR

Ư





lao động nông thôn. Nhiều làng nghề ở nước ta hiện thu hút trên 60% lao động tham

gia. Sự phát triển của làng nghề không những chỉ thu hút lao động ở gia đình, làng

xã mình mà còn thu hút được nhiều lao động từ các địa phương khác. Ngoài ra, sự

phát triển của các làng nghề còn kéo theo nhiều ngành dịch vụ khác phát triển, tạo

ra nhiều công ăn việc làm cho người lao động.

Mặt khác, cần chú ý đến ý nghĩa xã hội của những việc làm được tạo ra ở các

làng nghề. Sự phát triển của các làng nghề đã có vài trò tích cực trong việc hạn chế

di dân tự do. Người dân nơng thơn ln có tâm lý gắn bó với làng quê, do vậy khi

đã có việc làm và thu nhập ổn định, cao hơn thu nhập từ sản xuất nơng nghiệp thì

họ sẽ khơng muốn đi tìm việc nơi khác. Việc phát triển làng nghề theo phương



12



châm “ly nơng, bất ly hương” khơng chỉ có khả năng lớn giải quyết việc làm, nâng

cao thu nhập cho người lao động mà còn có vai trò tích cực trong việc hạn chế dòng

di dân tự do từ nơng thơn ra thành thị, từ vùng này sang vùng khác ở nước ta hiện

nay. Hoạt động sản xuất TTCN của làng nghề không chỉ tạo ra một số lượng lớn lao

động mà còn giải quyết việc làm cho những lao động nơng nghiệp nhàn rỗi sau vụ

sản xuất. Ở nhiều làng nghề, những người nơng dân, trong những vụ nơng nhàn

hoặc ngồi giờ ra đồng lại chính là những người thợ thủ cơng tài hoa. Bên cạnh đó,

các cơ sở sản xuất thủ cơng trong làng nghề còn thu hút được một lực lượng đông

đảo người già, trẻ em, người tàn tật tham gia sản xuất ở những công đoạn đơn giản.



U







Theo ước tính của Hiệp hội làng nghề Việt Nam, những nhóm đối tượng này chiếm



H



đến 30 - 35% lao động đang làm việc trong các làng nghề.



TẾ



Bên cạnh đó, tạo thêm công ăn việc làm sẽ làm tăng thu nhập của người lao



IN



H



động, góp phần xố đói giảm nghèo, cải thiện đời sống nhân dân. Đây cũng là một



K



trong những chính sách của Đảng và Nhà nước ta trong vấn đề quốc kế dân sinh.



C



Thực tế trong những năm qua, sự phục hồi và phát triển của các làng nghề đã có ý



IH







nghĩa rất to lớn đối với sự phát triển kinh tế - xã hội ở nông thôn. Thu nhập của các







hộ làm nghề thủ công ở các làng nghề cao hơn từ 2 - 8 lần thu nhập của hộ thuần



Đ



nơng. Ở các làng có nghề, tỷ lệ hộ khá và giàu thường rất cao, tỷ lệ hộ nghèo



N

G



thường rất thấp và hầu như khơng có hộ đói. Thu nhập từ nghề thủ công chiếm tỷ lệ



TR

Ư





lớn trong tổng thu nhập đã đem lại cho người dân ở các làng nghề một cuộc sống

đầy đủ, phong lưu hơn cả về vật chất lẫn tinh thần.

* Phát triển các nghề tiểu thủ cơng nghiệp sẽ góp phần phát triển kinh tế địa

phương và xây dựng nông thôn mới

Phát triển các nghề TTCN góp phần tăng thu nhập của người dân, đồng thời

đã tạo ra nguồn tích luỹ khá lớn và ổn định cho các hộ gia đình cũng như cho ngân

sách địa phương. Vì vậy, nguồn vốn để đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng nông thôn

được huy động từ sự đóng góp của người dân tại các địa phương có làng nghề phát

triển cũng khác hẳn so với các địa phương khơng có nghề. Ở làng nghề, đặc biệt là

ở các làng nghề vùng Đồng bằng sông Hồng, gần như 100% đường làng, ngõ xóm



13



đều được bê tơng hố. Các địa phương này đều có trường mầm non, tiểu học, phổ

thông cơ sở khang trang; hệ thống điện nước được cải tạo và nâng cấp; đời sống văn

hoá tinh thần của người dân được cải thiện và từng bước được nâng cao. Sức mua

của người dân có xu hướng tăng, góp phần tạo điều kiện cho thị trường hàng hoá

tiêu dùng, dịch vụ phát triển. Thu hẹp dần khoảng cách giữa thành thị và nơng thơn,

góp phần tích cực vào chuyển dịch cơ cấu kinh tế nơng nghiệp, nơng thơn theo

hướng cơng nghiệp hố, hiện đại hố.

* Hoạt động sản xuất kinh doanh của các nghề TTCN góp phần làm tăng giá

trị tổng sản phẩm hàng hóa cho nền kinh tế.



U







Phát triển nghề TTCN có ý nghĩa rất quan trọng đối với phát triển kinh tế, xã



H



hội nông thôn. Với quy mô nhỏ bé, được phân bổ rộng khắp ở các vùng nông thôn,



TẾ



hàng năm các làng nghề luôn sản xuất ra khối lượng sản phẩm hàng hoá khá lớn



IN



H



phục vụ cho tiêu dùng trong nước và cho xuất khẩu, đóng góp đáng kể cho nền kinh



K



tế quốc dân nói chung và cho từng địa phương nói riêng. Năng lực sản xuất, kinh



C



doanh của các làng nghề là yếu tố quan trọng thúc đẩy phát triển sản xuất hàng hố







hàng hố phát triển.



IH







ở nơng thơn. Thực tế cho thấy ở địa phương nào có nhiều làng nghề thì ở đó kinh tế



Đ



* Các nghề tiểu thủ cơng nghiệp phát triển góp phần phát huy tiềm năng, thế



N

G



mạnh nội lực của địa phương



TR

Ư





Các nghề thủ công trong làng nghề cho phép khai thác triệt để hơn các nguồn

lực ở địa phương, cụ thể là nguồn lao động, nguyên vật liệu, nguồn vốn. Làng nghề

truyền thống có thể làm được điều này vì nó có nhiều loại quy mơ, dễ dàng chuyển

hướng kinh doanh...

Một khi các nghề TTCN ở nông thôn phát triển mạnh sẽ tạo ra đội ngũ lao

động có tay nghề cao và lớp nghệ nhân mới. Chính thơng qua lực lượng này để tiếp

thu những tiến bộ kỹ thuật và công nghệ tiên tiến áp dụng vào sản xuất, làm cho sản

phẩm có chất lượng cao, giá thành giảm, khả năng cạnh tranh trên thị trường lớn.

Như vậy các nghề TTCN càng phát triển mạnh thì càng có điều kiện để đầu tư xây

dựng kết cấu hạ tầng ở nông thôn. Hơn nữa, khi cơ sở vật chất kỹ thuật được tăng



14



cường và hiện đại, chính là tạo điều kiện thuận lợi cho đội ngũ lao động thích ứng

với tác phong cơng nghiệp, nâng cao tính tổ chức kỷ luật. Đồng thời trình độ văn

hố của người lao động ngày một nâng cao là cơ sở thuận lợi cho việc đưa tiến bộ

khoa học kỹ thuật và công nghệ vào lĩnh vực sản xuất và hoạt động dịch vụ trong

làng nghề.

* Phát các nghề tiểu thủ cơng nghiệp sẽ góp phần bảo tồn và phát huy bản

sắc văn hóa dân tộc của địa phương

Lịch sử phát triển kinh tế cũng như lịch sử phát triển nền văn hố Việt Nam

ln gắn liền với lịch sử phát triển của các làng nghề truyền thống. Văn hoá làng



U







nghề với các thể chế cộng đồng chứa đựng những quan hệ huyết thống, láng giềng,



H



hôn nhân, nghề nghiệp với các phong tục, tập quán, tín ngưỡng, lễ hội mang đậm



TẾ



những sắc thái riêng, tạo nên bản sắc truyền thống văn hố phong phú, sâu đậm của



IN



H



dân tộc ta. Vì vậy, để các làng nghề truyền thống mai một cũng tức là đánh mất đi



K



một phần máu thịt của nhiều thế hệ, đánh mất một vốn quý của dân tộc.



C



Làng nghề là cả một môi trường kinh tế, xã hội và văn hố thu nhỏ. Nó bảo



IH







lưu những tinh hoa nghệ thuật và kỹ thuật từ đời này sang đời khác, hun đúc các thế







hệ nghệ nhân tài ba và những sản phẩm độc đáo mang bản sắc riêng. Bởi vậy, các



Đ



làng nghề truyền thống với những bàn tay vàng của người thợ thủ công cần được



N

G



coi trọng, bảo tồn và phát triển. Bảo tồn và phát triển các làng nghề là tăng thêm sức



TR

Ư





mạnh cội nguồn, gieo vào lòng mỗi người Việt Nam tình cảm dân tộc, yêu quý, trân

trọng, giữ gìn di sản và bản sắc văn hố Việt Nam. Điều đó khơng gì khác là giữ gìn

và phát huy một bộ phận của nền văn minh nhân loại, làm tăng những giá trị văn

hoá truyền thống trong một thế giới đa phương tiện thông tin và đầy biến động.

Với vai trò to lớn của làng nghề trong tiến trình cơng nghiệp hố, hiện đại

hố nơng nghiệp, nơng thơn, để khơi phục và phát triển làng nghề đòi hỏi các cấp

chính quyền phải nhận thức đúng đắn về tầm quan trọng của làng nghề; kịp thời có

những biện pháp hỗ trợ các làng nghề phát triển phù hợp với đặc điểm từng địa

phương cũng như yêu cầu của thị trường.



15



1.1.4. Những nhân tố chủ yếu ảnh hưởng đến sự phát triển TTCN

Quá trình hình thành và phát triển của các nghề TTCN chịu ảnh hưởng của

nhiều nhân tố tự nhiên, kinh tế, xã hội, trong đó các nhân tố kinh tế - xã hội có ảnh

hưởng mạnh mẽ hơn cả. Những nhân tố chủ yếu ảnh hưởng đến sự phát triển tiểu

thủ cơng nghiệp, gồm có:

- Nhu cầu thị trường

Sự tồn tại và phát triển của các nghề TTCN phụ thuộc rất lớn vào khả năng

đáp ứng nhu cầu ngày càng đa dạng, phong phú và thường xuyên biến đổi của thị

trường. Những nghề có khả năng thích ứng với sự thay đổi nhu cầu của thị trường



U







thường có sự phát triển nhanh chóng. Sự thay đổi nhu cầu của thị trường tạo định



H



hướng cho sự phát triển của các nghề TTCN. Những nghề mà sản phẩm phù hợp



TẾ



với nhu cầu của xã hội, có khả năng tiêu thụ lớn thì vẫn phát triển bình thường.



H



Ngay cả trong mỗi một nghề, cũng có những làng nghề phát triển, trong khi một số



K



IN



làng nghề khác lại không phát triển được, do sản phẩm làm ra chỉ là những sản



C



phẩm truyền thống, ít chú ý đến sự thay đổi kiểu dáng, mẫu mã, chất lượng và giá



IH







cả nhằm đáp ứng được sự thay đổi thị hiếu của người tiêu dùng trên thị trường.

- Cơ chế chính sách về phát triển các nghề TTCN



Đ







Cơ chế chính sách của Nhà nước có ảnh hưởng rất lớn đến sự phát triển hay



N

G



suy vong của các nghề TTCN. Từ khi thực hiện công cuộc đổi mới đến nay, khi các



TR

Ư





hộ gia đình được cơng nhận là chủ thể kinh tế độc lập tự chủ trong nông thôn, các

doanh nghiệp tư nhân được phép phát triển chính thức, thì các nghề TTCN đã có

điều kiện phục hồi và phát triển mạnh. Chính sách mở cửa hội nhập nền kinh tế

nước ta với khu vực và thế giới cũng làm cho một số sản phẩm có điều kiện phát

triển vì mở rộng được thị trường, nhất là hàng thủ cơng mỹ nghệ, trong đó có sản

phẩm thêu ren truyền thống, nhưng đồng thời cũng tạo điều kiện cho hàng nước

ngoài tràn vào thị trường trong nước khá nhiều, làm cho sản phẩm của các làng

nghề khó có thể cạnh tranh nổi với sản phẩm ngoại nhập, làm hạn chế sự phát triển

của một số làng nghề. Trong q trình CNH, HĐH đất nước, nếu khơng có chính

sách phát triển hợp lý đối với sự kết hợp giữa đại cơng nghiệp với tiểu thủ cơng

nghiệp thì các làng nghề cũng khó có điều kiện phát triển.



16



- Vốn cho phát triển sản xuất kinh doanh

Vốn là yếu tố, là nguồn lực quan trọng đối với bất kỳ quá trình sản xuất,

kinh doanh nào. Sự phát triển của các nghề TTCN cũng khơng nằm ngồi sự ảnh

hưởng của nhân tố vốn sản xuất. Trước đây, vốn của các hộ sản xuất, kinh doanh

trong các nghề TTCN rất nhỏ bé, thường là vốn tự có của từng gia đình hoặc vay

mượn của bà con họ hàng, láng giềng, nên quy mô sản xuất không mở rộng được.

Ngày nay, trong điều kiện của nền kinh tế thị trường cạnh tranh khốc liệt, nhu cầu

về vốn đã khác trước, đòi hỏi các hộ sản xuất, kinh doanh phải có lượng vốn khá

lớn để đầu tư, cải tiến công nghệ, đưa thiết bị, máy móc tiên tiến vào một số khâu,



U







cơng đoạn, cơng việc có thể thay thế kỹ thuật lao động thủ cơng được, nhằm nâng



H



cao năng suất lao động, chất lượng sản phẩm để đáp ứng nhu cầu của thị trường.



TẾ



- Yếu tố nguyên vật liệu



IN



H



Yếu tố nguyên vật liệu cũng có ảnh hưởng không nhỏ đến sản xuất TTCN.



K



Khối lượng, chủng loại, phẩm cấp và khoảng cách từ cơ sở sản xuất tới nơi có



C



nguồn nguyên vật liệu có ảnh hưởng tới chất lượng và giá thành sản phẩm của các



IH







đơn vị sản xuất. Cho nên, các làng nghề thường chú ý nhiều đến yếu tố nguyên vật







liệu. Trước đây, phần lớn các làng nghề được hình thành do có nguồn nguyên vật



Đ



liệu tại chỗ và nghề nghiệp chủ yếu được gắn bó với nguồn nguyên liệu sẵn có tại



N

G



địa phương. Hiện nay, nguồn nguyên liệu tại chỗ của nhiều làng nghề truyền thống



TR

Ư





đã cạn kiệt, phải vận chuyển từ những nơi khác về, điều kiện khai thác, vận chuyển

có ảnh hưởng tới việc đảm bảo nguồn nguyên liệu cho các làng nghề. Trong điều

kiện khoa học và công nghệ phát triển như hiện nay, nguyên vật liệu cho các làng

nghề đã có sự phong phú, đa dạng. Một loại nguyên vật liệu có thể dùng cho nhiều

loại sản phẩm, ngược lại một loại sản phẩm có thể dùng nhiều loại nguyên vật liệu

thay thế. Vì vậy, vấn đề chọn lựa và sử dụng các loại nguyên vật liệu thay thế hợp

lý, theo hướng đa dạng hóa, giá rẻ, bảo đảm cho quy trình sản xuất nhanh, đảm bảo

sản phẩm của các làng nghề có được chất lượng cao, giá thành hạ là điều cần được

quan tâm.

- Kết cấu hạ tầng



17



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ PHÁT TRIỂN TTCN

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×