Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Thực trạng việc dạy Tiếng Việt và tăng cường Tiếng Việt cho trẻ mầm non dân tộc thiểu số tại lớp 5 – 6 tuổi.

Thực trạng việc dạy Tiếng Việt và tăng cường Tiếng Việt cho trẻ mầm non dân tộc thiểu số tại lớp 5 – 6 tuổi.

Tải bản đầy đủ - 0trang

Một số biện pháp nâng cao chất lượng dạy Tiếng việt và tăng cường Tiếng việt cho trẻ mầm non

dân tộc thiểu số.



tiếng Việt. Môi trường tiếng Việt ở trường mầm non là đầu tiên và duy nhất

mà trẻ được tiếp xúc.

Đầu năm học: Trẻ hầu như chưa biết gì về vốn tiếng Việt. Ngay cả

những từ đơn giản liên quan đến hành động của bản thân như: vào lớp, ra

lớp, nói to, dừng lại, tiếp tục, chào cơ, vỗ tay…hay những từ liên quan đến

những đồ vật xung quanh gần gũi với trẻ như mũ, dép, cặp, bàn, ghế,

bảng…đều lạ lẫm đối với trẻ.

Những yêu cầu đơn giản như “dừng lại”, “tiếp tục”, “chào cô”,…trẻ

không hiểu và không thực hiện được. Thậm chí cơ giáo phải sử dụng rất

nhiều đến “ngôn ngữ cơ thể” để giao tiếp với trẻ.

Những câu hỏi mà cô giáo đặt ra như “Cháu tên gì?”, “Con gì đây?”,

“Cái gì đây?”, “Số mấy?”, “Bằng mấy?” trẻ khơng hiểu và khơng nói được

câu trả lời mà thường được đáp lặp lại là “tên gì!”, “gì đây!”, “số mấy!”,

“bằng mấy”.

Những câu giảng giải mà cô giáo giải thích hầu như trẻ khơng hiểu, từ đó

trẻ khơng tiếp thu được các kiến thức mang tính khái quát, trừu tượng.

Về phía giáo viên bất đồng ngơn ngữ trong giao tiếp, về nhận thức của

giáo viên trong việc tổ chức các hoạt động dạy tăng cường Tiếng Việt cho

trẻ.

Giáo viên đã nhận thức được ý nghĩa của việc tổ chức các hoạt động dạy

và tăng cường tiếng Việt cho trẻ tuy nhiên chưa đầy đủ, chưa cho rằng đó là

một trong những nhiệm vụ được ưu tiên hàng đầu mục tiêu giáo dục trẻ. Chỉ

khi trẻ cơ bản hiểu được một số vốn tiếng Việt cơ bản thì trẻ mới có thể tiếp

nhận được các hoạt động giáo dục khác một cách có hiệu quả.

Giáo viên chưa hiểu được rằng những nhiệm vụ, phương pháp, nội dung,

hình thức dạy trẻ dân tộc thiểu số nói tiếng Việt như một ngơn ngữ thứ hai có

một số điểm khác với những nhiệm vụ, phương pháp, nội dung, hình thức

dạy trẻ nói tiếng Việt với vai trò là tiếng mẹ đẻ.



Vũ Thị Lợi



12



Trường Mầm Non Sơn Ca



Một số biện pháp nâng cao chất lượng dạy Tiếng việt và tăng cường Tiếng việt cho trẻ mầm non

dân tộc thiểu số.



Điểm khác đó chính là điểm xuất phát vốn Tiếng Việt của trẻ dân tộc

thiểu số bắt đầu từ số khơng, còn với trẻ người Kinh đã có một vốn tiếng Việt

nhất định. Vì thế không thể áp dụng các phương pháp, nội dung một cách

máy móc, vượt xa q so với trình độ của trẻ. Từ đó dẫn đến tình trạng giáo

viên ln cảm thấy bực bội, chán nản với trẻ khi giáo viên nói, đặt ra u cầu

trẻ khơng hiểu, khơng làm theo, thậm chí cảm thấy bị “sốc” khi lần đầu tiên

dạy lớp có đối tượng trẻ 100% là dân tộc khi thấy khoảng cách quá xa giữa

trình độ thực tế của trẻ và yêu cầu giáo dục đặt ra và phải đạt được.

Điều này sẽ dẫn đến những hạn chế khi tổ chức các hoạt động dạy Tiếng

Việt và tăng cường Tiếng Việt cho trẻ.

Tôi đã tiến hành khảo sát thực trạng khả năng nghe nói, sử dụng tiếng

Việt của trẻ, thể hiện qua bảng tổng hợp sau:

Kết quả đánh giá đầu năm học: 33 trẻ/ 5- 6 tuổi

STT



Nội dung đánh giá



SL Trẻ Yếu



TB



Khá



Tốt



1



Khả năng nghe – hiểu



33



1



21



7



4



2



Khả năng nói



2



22



6



3



3



Chuẩn bị cho việc học đọc,



1



15



8



9



viết

(nhận biết, phát âm chữ cái, tô

chữ…)

Cô giáo đã sử dụng một số phương pháp cơ bản để rèn phát âm, cung

cấp vốn từ cho trẻ, dạy trẻ nói đúng ngữ pháp… thơng qua các hoạt động

giáo dục cho trẻ Khám phá Tự nhiên – xã hội, Làm quen văn học, Làm quen

chữ cái và các hoạt động khác.

Đã chú ý đưa nội dung tăng cường Tiếng Việt cho trẻ vào trong các hoạt

động học cũng như các hoạt động hằng ngày khác.

Kết quả đánh giá giữa năm học 33 trẻ/ 5- 6 tuổi

STT



Nội dung đánh giá



SL Trẻ Yếu TB



Khá Tốt



1



Khả năng nghe – hiểu



33



7



Vũ Thị Lợi



13



1



21



4



Trường Mầm Non Sơn Ca



Một số biện pháp nâng cao chất lượng dạy Tiếng việt và tăng cường Tiếng việt cho trẻ mầm non

dân tộc thiểu số.



2



Khả năng nói



1



12



6



3



3



Chuẩn bị cho việc học đọc, viết



0



9



17



7



(nhận biết, phát âm chữ cái, tô

chữ…)

Các biện pháp sử dụng chưa đồng bộ, chưa có sự sắp xếp hợp lý giữa các

nhiệm vụ phát triển Tiếng Việt cho trẻ. Giáo viên còn mơ hồ, chưa có sự định

hướng rõ ràng, cụ thể về công việc phải làm, cần làm, làm những gì nhằm

mục đích dạy và tăng cường tiếng Việt cho trẻ.

- Giáo viên tích cực, có tinh thần trách nhiệm cao, có khả năng học hỏi,

nhận thức, tiếp thu tốt.

- Ban giám hiệu nhà trường thường xuyên quan tâm, thúc đẩy, động viên

giáo viên chú trọng công tác tăng cường tiếng Việt cho trẻ, tạo điều kiện

thuận lợi để giáo viên có thể tiếp thu, bồi dưỡng kiến thức về các phương

pháp tăng cường Tiếng Việt. Thường xuyên tổ chức các chuyên đề về tăng

cường Tiếng Việt để các đồng nghiệp có thể trao đổi, học hỏi và chia sẻ kinh

nghiệm với nhau về công tác dạy và tăng cường Tiếng Việt cho trẻ.

- Môi trường tiếng Việt của trẻ còn hẹp và ít. Đa số các trẻ giao tiếp với

nhau và bố mẹ bằng tiếng mẹ đẻ (Tiếng Ê đê). Cháu chỉ giao tiếp bằng tiếng

Việt khi trò chuyện với cơ giáo thơng qua các hoạt động học tập và vui chơi

hàng ngày.

- Các bậc cha mẹ trẻ chưa ý thức được tầm quan trọng của tiếng Việt đối

với việc phát triển nhận thức của trẻ, từ đó chưa có sự phối hợp, giúp đỡ để

tạo môi trường học tiếng Việt rộng và phong phú hơn từ phía gia đình.

* Ngun nhân chủ quan:

Do đặc điểm tâm sinh lí của trẻ khác nhau: Bộ máy pháp âm của trẻ chưa

hoàn thiện, khả năng ghi nhớ của trẻ còn yếu. kinh nghiệm dùng từ chưa được

luyện tập nhiều…

Đối với trẻ ở lứa tuổi này chưa biết được tầm quan trọng của việc học mà

trẻ chỉ thích đến trường có đồ chơi, có bạn đơng vui, được cô dạy múa hát,

Vũ Thị Lợi



14



Trường Mầm Non Sơn Ca



Một số biện pháp nâng cao chất lượng dạy Tiếng việt và tăng cường Tiếng việt cho trẻ mầm non

dân tộc thiểu số.



nhưng cũng có nhiều trẻ chưa mạnh dạn, ít hoạt động, không giao tiếp. Điều

kiện tiếp xúc với mơi trường xung quanh, với xã hội còn ít, tầm nhìn của trẻ

còn hạn chế, nên việc học đến với trẻ cũng thật là ngỡ ngàng. Bởi vì trẻ khơng

hiểu hết ngôn ngữ tiếng Việt của cô.

* Nguyên nhân khách quan:

Giáo viên chưa nhận thức được tầm quan trọng của giáo dục mầm non nói

chung cũng như việc tăng cường Tiếng Việt cho trẻ nói riêng đối với việc

học của trẻ khi vào trường phổ thông.

- Do giáo viên chưa nghiên cứu một cách kĩ càng, cụ thể về các kiến thức,

kĩ năng dạy Tiếng Việt như một ngôn ngữ thứ hai cho trẻ dân tộc thiểu số.

- Giáo viên chưa biết ứng dụng cụ thể những phương pháp, biện pháp dạy

Tiếng Việt và tăng cường Tiếng Việt cho trẻ dân tộc thiểu sô trên thực tế

giảng dạy.

- Do sự bất cập giữa trình độ tiếng Việt của trẻ và yêu cầu của chương trình

giáo dục mầm non đang thực hiện chung cho toàn quốc.

Trường Mầm non Sơn Ca với đội ngũ GV – CBCNV là người dân tộc tại

địa bàn chiếm tỷ lệ 1/3, trình độ chun mơn đã đạt chuẩn và nói Tiếng Việt

thành thạo. Nhưng chưa thấy được tầm quan trọng cấp bách phải dạy Tiếng

Việt cho trẻ Mầm non, nên hàng ngày chỉ dạy qua loa, thiếu trực quan, nội

dung giảng dạy còn rập khn máy móc, cung cấp kiến thức chưa đầy đủ, còn

làm thay trẻ. Đơi lúc còn lạm dụng trong giờ dạy, ngại giải thích từ khó bằng

tiếng Việt cho trẻ. Ngồi những tiết học cũng như những hoạt động chính,

giáo viên thường trao đổi giao tiếp bằng ngơn ngữ mẹ đẻ. Vì thế ảnh hưởng

đến việc dạy tiếng Việt cho trẻ Mẫu giáo.

Ngồi số giáo viên là người đồng bào thì số giáo viên người Kinh rất hạn

chế trong việc nghe hiểu tiếng Ê đê, chỉ có vài giáo viên thơng thạo tiếng dân

tộc Ê đê, đây cũng là một rào cản lớn trong việc tăng cường tiếng Việt cho

trẻ.



Vũ Thị Lợi



15



Trường Mầm Non Sơn Ca



Một số biện pháp nâng cao chất lượng dạy Tiếng việt và tăng cường Tiếng việt cho trẻ mầm non

dân tộc thiểu số.



Theo sự chỉ đạo của ngành học mầm non thực hiện chương trình giáo

dục mầm non theo hướng tích hợp, lồng ghép các mơn học linh hoạt, phù hợp

với nhận thức của từng lứa tuổi. Nhưng q trình lồng ghép còn ơm đồm,

khập khểnh, chưa liên kết với nội dung chính.

Mặt khác, do dặc điểm kinh tế xã hội, trình độ dân trí của địa phương

nên vẫn còn tình trạng cha mẹ đi rẫy mang con theo nên ảnh hưởng không

nhỏ đến công tác duy trì sĩ số, dẫn đến chất lượng chăm sóc giáo dục trẻ còn

hạn chế rất nhiều.

Để khắc phục được những vấn đề trên, giúp trẻ tiếp thu được kiến thức

mới, học Tiếng Việt một cách dễ dàng, đồng thời tạo hứng thú cho trẻ đến

trường mạnh dạn, tự tin và tích cực hoạt động, nâng cao khả năng nhận thức

cho trẻ, vốn kinh nghiệm của trẻ được kích thích, trẻ tiếp xúc với mọi người

xung quanh một cách dễ dàng hơn … ln thơi thúc tơi tìm ra hướng đi đúng

trong cơng tác chăm sóc giáo dục trẻ.

Từ những vấn đề nêu trên ta thấy được: việc cung cấp vốn Tiếng việt cho

trẻ Dân tộc thiểu số là vấn đề cần được quan tâm, nhằm hình thành và phát

triển những kỹ năng cần thiết cho việc học Tiếng việt ở các bậc học tiếp theo.

Hiểu vấn đề là như vậy nhưng khi bắt tay vào việc tôi đã trăn trở và lo

âu, điều tôi lo lắng nhiều nhất là trẻ chưa có ý thức về vấn đề nề nếp trong lớp

học, trẻ khơng tích cực để tham gia các hoạt động.

Với tình hình thực tế của trẻ dân tộc thiểu số như vậy, bản thân tôi luôn

trăn trở, suy nghĩ nhiều lúc thấy vô cùng lo lắng, không biết làm gì và làm

như thế nào, bằng phương pháp gì? để giúp trẻ hiểu và nói được Tiếng việt

một cách trơi chảy, chính vì điều băn khoăn trăn trở ấy bản thân tơi đã tìm tòi

nghiên cứu một số “Biện pháp nâng cao chất lượng và tăng cường Tiếng Việt

cho trẻ dân tộc thiểu số”. Nhằm giúp trẻ dân tộc ham thích được đến lớp và

muốn học được tiếng Việt để trẻ tự tin trong cuộc sống và hứng thú học tập,

tham gia vào các hoạt động trong trường mầm non đạt kết quả tốt hơn.



Vũ Thị Lợi



16



Trường Mầm Non Sơn Ca



Một số biện pháp nâng cao chất lượng dạy Tiếng việt và tăng cường Tiếng việt cho trẻ mầm non

dân tộc thiểu số.



3. Nội dung và hình thức của giải pháp

a. Mục tiêu của giải pháp

Nhằm nâng cao hiểu biết về cơ sở lý luận, nhận biết được tầm quan trọng

cũng như các phương pháp cơ bản để Dạy tiếng Việt và tăng cường Tiếng

Việt cho trẻ. Khắc phục hạn chế, nâng cao chất lượng, đưa ra một số giải pháp

cơ bản trong việc nâng cao chất lượng việc dạy và tăng cường Tiếng Việt nói

riêng và nâng cao chất lượng giáo dục nói chung cho trẻ mầm non dân tộc

thiểu số.

b. Nội dung và cách thức thực hiện giải pháp

* Biện pháp 1. Đánh giá mức độ nghe, hiểu và nói tiếng Việt của trẻ ngay

từ đầu năm học.

Tơi cho rằng đánh giá là một công việc quan trọng trong qua trình giáo

dục trẻ nhằm có căn cứ để thiết kế, xây dựng nội dung giáo dục phù hợp.

Ngay trong tuần lễ đầu tiên trẻ đến trường, tôi đã tiến hành đánh giá để

có cái nhìn bao qt về vốn tiếng Việt của trẻ để có thể hình dung ra công

việc tiếp theo cần làm đối với trẻ.

Đánh giá khả năng nghe hiểu tiếng Việt của trẻ dân tộc thiểu số theo các

tiêu chí sau:

Mức độ nghe hiểu Tiếng Việt.

Vốn từ Tiếng Việt.

Khả năng tạo câu và liên kết các câu.

Phương pháp đánh giá:

Mẫu phiếu đánh giá: Tham khảo tài liệu bồi dưỡng thường xuyên cho giáo

viên mầm non chu kì II (Tài liệu do Sở Giáo Dục và Đào Tạo Đăk Lăk biên

soạn)

PHIẾU ĐÁNH GIÁ

MỨC ĐỘ NGHE, HIỂU VÀ NÓI TIẾNG VIỆT CỦA TRẺ

Họ và tên trẻ:……………………………..Dân tộc:…………………

Ngày sinh:…………………………… Lớp:…………………………

Ngày đánh giá:……………………………………………………….

Vũ Thị Lợi



17



Trường Mầm Non Sơn Ca



Một số biện pháp nâng cao chất lượng dạy Tiếng việt và tăng cường Tiếng việt cho trẻ mầm non

dân tộc thiểu số.



Họ và tên người đánh giá:……………………………………………

1) Kỹ năng nghe:

Nội dung



Yếu



Trung

bình



Tốt



Yếu



Trung

bình



Tốt



Chưa

biết



Biết



Biết

nhiều



- Nghe, hiểu tiếng Việt

- Nghe, hiểu, giao tiếp thơng thường

- Hiểu, làm theo yêu cầu đơn giản

- Nghe hiểu 1 câu chuyện ngắn ( với 2 nhân

vât, 2 -3 tình tiết)

2) Kỹ năng nói:

Nội dung

- Trả lời được các câu hỏi thông thường

- Trả lời các câu hỏi theo nội dung đơn giản

- Miêu tả tranh đơn giản (2 nhân vật, 2-3 tình

tiết)

- Kể lại chuyện ngắn được nghe (khoảng 4-5

câu kể trở lên)

- Kể chuyện hàng ngày cho người khác hiểu

được

3) Kỹ năng về hoạt động đọc viết

Nội dung

- Thích thú với sách, truyện

- Biết cách cầm, giở các trang sách

- Nhận biết những nét cơ bản của chữ cái

- Nhận biết chữ số

- Biết tô chữ

Sau khi đánh giá, tôi tổng hợp tất cả thông tin thu thập được để có những

đánh giá chung cho tồn lớp về số lượng trẻ nói tốt Tiếng việt là bao nhiêu?

Mức độ biết Tiếng việt của cha mẹ, gia đình trẻ.



Vũ Thị Lợi



18



Trường Mầm Non Sơn Ca



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Thực trạng việc dạy Tiếng Việt và tăng cường Tiếng Việt cho trẻ mầm non dân tộc thiểu số tại lớp 5 – 6 tuổi.

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×