Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Cơ sở lý luận

Cơ sở lý luận

Tải bản đầy đủ - 0trang

Một số biện pháp nâng cao chất lượng dạy Tiếng việt và tăng cường Tiếng việt cho trẻ mầm non

dân tộc thiểu số.



Sự phát triển ngôn ngữ của trẻ phụ thuộc vào sự phát triển hài hòa của tất

cả các cơ quan trong cơ thể, nhưng trong đó có một số cơ quan tham gia trực

tiếp vào quá trình phát triển ngôn ngữ của trẻ: Bộ máy phát âm (khoang

miệng, thanh quản, khoang mũi): là cơ quan tạo ra cấu âm để phát ra âm, thực

hiện trực tiếp quá trình phát âm.

- Cơ quan thính giác: trẻ học nói thơng qua con đường bắt chước bằng

cách nghe cách phát âm, cách diễn đạt, cách sử dụng từ…thực hiện trực tiếp

quá trình nghe và phân biệt âm thanh. Tri giác nghe đóng vai trò cực kỳ quan

trọng, nếu trẻ khơng nghe được thì sẽ khơng học nói được.

- Vùng ngơn ngữ ở bán cầu đại não: Điều khiển quá trình học nói.

- Dây thần kinh hướng nội, hướng ngoại: tham gia thực hiện q trình học

nói. Tất cả các cơ trên đóng vai trò cực kì quan trọng trong q trình học nói

của trẻ nên người lớn cần giúp trẻ bảo vệ và rèn luyện. Thường xuyên cho trẻ

xem và nghe người lớn phát âm, tạo ra môi trường âm thanh chuẩn mực và

phong phú.

- Yếu tố tâm lý

Sự phát triển ngơn ngữ của trẻ có mối quan hệ qua lại chặt chẽ đối với sự

phát triển của các quá trình tâm lý như: tư duy, trí tuệ, khả năng nhận thức, sự

nhanh nhạy của hệ thần kinh, ý chí của trẻ, sự phát triển hài hòa về tình

cảm…

Ví dụ: Trẻ nhút nhát, ngại giao tiếp thì ngơn ngữ sẽ kém phát triển hơn những

trẻ khác.

Vì vậy, giáo viên cần tổ chức tốt các hồn cảnh, khuyến khích trẻ tham gia

vào các hoạt động giao tiếp bằng ngôn ngữ để trẻ tự khẳng định mình.

- Yếu tố xã hội

Ngơn ngữ là một hiện tượng xã hội, khơng tồn tại bên ngồi xã hội và

khơng mang tính di truyền. Trẻ học nói chủ yếu thơng qua qua trình bắt

chước. Vì thế yếu tố xã hội đóng vai trò đặc biệt quan trọng trong q trình

hình thành và phát triển ngơn ngữ của trẻ. Đối với trẻ dân tộc thiểu số, do điều

Vũ Thị Lợi



4



Trường Mầm Non Sơn Ca



Một số biện pháp nâng cao chất lượng dạy Tiếng việt và tăng cường Tiếng việt cho trẻ mầm non

dân tộc thiểu số.



kiện cư trú, thường sống tập trung trong buôn làng…nên trẻ thường giao tiếp

với nhau bằng tiếng dân tộc mình (mơi trường ngơn ngữ tiếng mẹ đẻ), trẻ

cũng chỉ được tiếp xúc và chỉ biết giao tiếp bằng tiếng mẹ đẻ nên việc dạy

tiếng Việt của trẻ gặp nhiều khó khăn. Yếu tố xã hội trong phạm vi ngơn ngữ

thứ hai chỉ có ở mơi trường trường mầm non, và chủ yếu đó là cơ giáo, có

trường hợp chỉ có duy nhất cơ giáo nói tiếng Việt. Vì vậy cần tạo và mở rộng

“Môi trường ngôn ngữ tiếng Việt” để trẻ học tốt Tiếng Việt.

Tóm lại: Điều kiện để trẻ học nói ngơn ngữ thứ hai nói chung và tiếng

Việt nói riêng là có một cơ thể phát triển bình thường về mặt sinh lý, tâm lý

và được rèn luyện, giao tiếp trong mơi trường ngơn ngữ đó. Nếu một trẻ dân

tộc thiểu số đã nói được phần nhiều tiếng mẹ đẻ thì tức là trẻ đã hồn tồn có

đủ yếu tố sinh lý, tâm lý để học tiếng Việt trong một môi trường ngôn ngữ

được tổ chức tốt.

Khi trẻ mầm non tiếp xúc với ngơn ngữ thứ hai (Tiếng việt), thì căn bản

trẻ đã có một nền tảng về vốn tiếng mẹ đẻ, đồng thời các đặc điểm tâm lý,

sinh lý của trẻ cũng đã phát triển ở một mức độ nhất định. Vì thế chúng ta

khơng phân chia sự phát triển ngôn ngữ theo độ tuổi như khi trẻ học tiếng mẹ

đẻ mà phân chia giai đoạn theo quá trình tiếp xúc, mức độ nghe, hiểu và nói

tiếng Việt của trẻ.

- Giai đoạn đầu: Trẻ chưa biết gì về tiếng Việt. Giai đoạn này trẻ bắt đầu

nhận biết ngữ điệu giọng nói của ngơn ngữ thứ hai, hiểu được một số từ Tiếng

Việt là tên gọi của người, vật, hành động nào đó. Nói câu đơn có 2- 3 từ. Câu

đơn có một cụm C – V, câu đơn mở rộng thành phần.

- Giai đoạn hai: Trẻ thông hiểu được phần lớn các hoàn cảnh giao tiếp,

các từ, mẫu câu thường dùng trong mơi trường lớp học. Trẻ nói được các câu

có nhiều thành phần hơn, nói câu ghép dưới hình thức đơn giản, diễn đạt được

ý đơn giản. Có khả năng nói liên kết câu.

- Giai đoạn ba: Nghe và hiểu tiếng Việt, có vốn từ Tiếng Việt cơ bản,

phong phú, có khả năng nói đúng ngữ cảnh, đúng ngữ pháp, nói mạch lạc.

Vũ Thị Lợi



5



Trường Mầm Non Sơn Ca



Một số biện pháp nâng cao chất lượng dạy Tiếng việt và tăng cường Tiếng việt cho trẻ mầm non

dân tộc thiểu số.



Vận dụng được các từ ngữ trong nhiều hoàn cảnh phù hợp.

Tóm lại, ngơn ngữ Tiếng Việt của trẻ dân tộc thiểu số phát triển theo hai

hướng cơ bản:

- Tiếp tục hồn thành việc thơng hiểu Tiếng Việt

- Tích cực hóa vốn tiếng Việt.

* Tầm quan trọng của việc dạy Tiếng Việt cho trẻ mầm non dân tộc

thiểu số

Xin được đưa ra bảng so sánh về khả năng học của trẻ (Mầm non, tiểu

học) học bằng ngôn ngữ tiếng mẹ đẻ và trẻ học bằng ngôn ngữ thứ hai (đều

học bằng Tiếng Việt) như sau:

Trẻ học bằng ngôn ngữ tiếng mẹ đẻ Trẻ học bằng ngôn ngữ thứ hai

(Tiếng Việt)

-



(Tiếng Việt)



Vốn Tiếng Việt khoảng 3000 -



-



4.000 từ.

-



Việt



Tư duy trực tiếp bằng tiếng



-



Việt nên tiếp cận tiếng Việt



-



Tư duy gián tiếp dẫn đến tiếp

cận Tiếng Việt áp đặt.



một cách tự nhiên.

-



Khơng biết hoặc biết ít tiếng



-



Tiếp thu hạn chế do khơng hình



Tiếp thu ngơn ngữ hiệu quả:



thành ngay được liên hệ âm



Từ nghe, nói  đọc, viết.



thanh - chữ viết, âm thanh – ngữ



Có tác động tích cực của gia



nghĩa, ngữ pháp.



đình, cộng đồng vì được sống



-



Ít nhận được tác động tích cực



trong mơi trường nói tiếng



của gia đình, cộng đồng vì sống



Việt.



trong mơi trường nói tiếng mẹ

đẻ (khơng phải là tiếng Việt).



Từ đó cho thấy, trẻ dân tộc thiểu số gặp rất nhiều khó khăn trong việc

tiếp thu kiến thức bằng tiếng Việt. Sự bất đồng về ngôn ngữ giữa người học

và người dạy, giáo viên nói trẻ khơng hiểu diễn ra khá phổ biến. Trẻ không sử

dụng thành thạo tiếng Việt tất yếu sẽ khó nắm được kiến thức từ chương trình



Vũ Thị Lợi



6



Trường Mầm Non Sơn Ca



Một số biện pháp nâng cao chất lượng dạy Tiếng việt và tăng cường Tiếng việt cho trẻ mầm non

dân tộc thiểu số.



học. Chất lượng giáo dục thấp, đồng thời các cháu khơng theo kịp với chương

trình dẫn đến tâm lý chán nản, khơng muốn đi học.

Vì vậy, chú trọng dạy Tiếng Việt cho trẻ mầm non dân tộc thiểu số là

một việc làm hết sức cần thiết nhằm nâng cao chất lượng học cho trẻ.

Ngoài ra, theo kết quả nghiên cứu 5 năm của Trung tâm nghiên cứu

ngôn ngữ Cornell, học sớm ngôn ngữ thứ hai giúp trẻ tập trung chú ý tốt hơn

trong khi học so với trẻ chỉ biết tiếng mẹ đẻ. Ngồi ra, ngơn ngữ thứ hai hỗ

trợ tiếng mẹ đẻ hình thành và phát triển tốt nếu được giới thiệu sớm và bằng

phương pháp phù hợp. Việc học ngôn ngữ thứ hai giúp trẻ diễn đạt tiếng mẹ

đẻ đúng ngữ pháp, rõ ràng, mạch lạc hơn.

Nghiên cứu còn đưa ra những bằng chứng về các lợi ích khác:

• Trẻ phát triển tốt hơn về kỹ năng xã hội, kỹ năng giao tiếp linh hoạt và tâm

thế tự tin.

• Trẻ phát âm tốt hơn (cả tiếng mẹ đẻ lẫn ngơn ngữ thứ 2).

• Khả năng quan sát đối chiếu, so sánh linh hoạt hơn do trẻ luôn chuyển dịch

từ ngơn ngữ này qua ngơn ngữ kia.

• Từ mới sinh tới 6 tuổi là giai đoạn thích hợp nhất cho việc học ngôn ngữ thứ

hai. Qua giai đoạn này chúng ta phải cố gắng nhiều hơn, nhưng hiệu quả sẽ

kém hơn

* Các nhiệm vụ phát triển Tiếng Việt cho trẻ dân tộc thiểu số

- Dạy trẻ vốn tiếng Việt cơ bản, tối thiểu để trẻ có khả năng giao tiếp bằng

tiếng Việt ở dạng ngơn ngữ nói (nghe – hiểu, nói) trong mơi trường lớp học.

- Chuẩn bị cho việc học, đọc viết khi vào lớp 1:

 Trẻ nhận biết và phát âm đúng 29 chữ cái trong hệ thống nguyên âm tiếng

Việt.

 Dạy trẻ một số kĩ năng cần thiết như cầm bút, ngồi tư thế đúng, cầm sách,

mở sách, biết cách sao chép chữ theo mẫu, tô theo dấu chấm mờ, cách đọc

đúng từ trái qua phải (cách đưa mắt).



Vũ Thị Lợi



7



Trường Mầm Non Sơn Ca



Một số biện pháp nâng cao chất lượng dạy Tiếng việt và tăng cường Tiếng việt cho trẻ mầm non

dân tộc thiểu số.



- Thơng qua việc tập nghe, nói tiếng Việt, hình thành ở trẻ hứng thú khi

học tiếng Việt, thích giao tiếp bằng tiếng Việt và tập luyện cho trẻ một số nề

nếp, thói quen thích nghi với sinh hoạt, vui chơi, học tập, hoạt động tập thể…

trong và ngoài nhà trường.

* Hình thức dạy và tăng cường Tiếng Việt cho trẻ mầm non dân tộc thiểu

số.

- Dạy nói tiếng Việt cho trẻ qua hoạt động học tập

 Hoạt động Khám phá Khoa học – xã hội: Thông qua hoạt động này trẻ

được tiếp xúc với các sự vật, hiện tượng ở môi trường xung quanh theo

từng chủ đề giáo dục. Trẻ biết được tên gọi, hình dáng…từ đó rèn luyện kĩ

năng nói về các sự vật, hiện tượng, là điều kiện để rèn luyện khả năng phát

âm, mở rộng từ, sắp xếp từ thành câu.

 Hoạt động Làm quen với Tác phẩm văn học: Gồm có các hoạt động đọc

thơ cho trẻ nghe, dạy trẻ đọc thơ, kể chuyện cho trẻ nghe, dạy trẻ kể lại

truyện, từ đó giúp trẻ tăng cường khả năng phát âm, mở rộng vốn từ, khả

năng diễn đạt mạch lạc, kĩ năng tái hiện tác phẩm văn học, kĩ năng cảm

thụ tác phẩm văn học.

 Hoạt động Làm quen chữ cái: Trẻ nhận biết và phát âm được 29 chữ cái,

nhận biết được chữ cái riêng lẻ và trong từ, mở rộng một số từ ngữ, làm

quen với cách tô chữ theo mẫu, tư thế ngồi, cầm bút đúng…

Ngoài ra, các hoạt động Làm quen biểu tượng ban đầu về toán, Giáo dục

âm nhạc, Làm quen chữ cái, hoạt động Tạo hình…cũng có tác dụng rèn luyện

về phát triển ngữ âm, có thêm nhiều từ mới, hiểu nghĩa nhiều từ, rèn luyện

ngữ pháp cho trẻ.

- Dạy nói tiếng Việt cho trẻ qua các hoạt động khác

- Tổ chức dạy nói qua hoạt động vui chơi: gồm có trò chơi đóng vai theo

chủ đề, trò chơi đóng kịch, trò chơi học tập để phát triển Tiếng Việt.

- Tổ chức dạy nói qua hoạt động lao động.



Vũ Thị Lợi



8



Trường Mầm Non Sơn Ca



Một số biện pháp nâng cao chất lượng dạy Tiếng việt và tăng cường Tiếng việt cho trẻ mầm non

dân tộc thiểu số.



- Tổ chức dạy nói qua hoạt động dạo chơi, tham quan: qua dạo chơi tham

quan trẻ có điều kiện mở rộng thêm vốn từ về môi trường tự nhiên, xã hội. Vì

vậy khi dạo chơi, tham quan giáo viên cần lên kế hoạch cụ thể, chọn nội dung

tham quan đáp ứng nhu cầu và sở thích của trẻ. Cần chuẩn bị các câu hỏi đàm

thoại để khuyến khích trẻ trả lời những điều mắt thấy, tai nghe.

Tổ chức dạy nói qua các hoạt động sinh hoạt hằng ngày.

* Nội dung dạy Tiếng Việt cho trẻ mầm non dân tộc thiểu số.

- Rèn năng lực phát âm cho trẻ: dạy trẻ biết phát âm đúng, rõ ràng âm

thanh, ngôn ngữ để trẻ phát âm tốt tiếng Việt.

- Phát triển vốn từ cho trẻ: giúp trẻ mở rộng, củng cố và tích cực hóa vốn từ

cho trẻ.

- Dạy trẻ nói đúng ngữ pháp, nói mạch lạc: rèn luyện cho trẻ thói quen nói

đúng ngữ pháp, khả năng diễn đạt có logic, có trình tự. Trước hết là dạy trẻ

những câu đơn giản trong giao tiếp hàng ngày và trong các hoạt động ở lớp

học.

* Các phương pháp giáo dục cơ bản trong công tác phát triển Tiếng Việt

cho trẻ

- Phương pháp dựa vào cơ chế bắt chước

Trẻ mầm non học ngơn ngữ nói là chủ yếu. Trẻ học ngôn ngữ thông qua

hoạt động bắt chước và thực hành. Vì vậy là người dạy tổ chức hoạt động cho

trẻ bắt chước. Cụ thể: người dạy nói tích cực, mạnh mẽ, thể hiện rõ cấu tạo

các âm và ngữ điệu của lời nói; còn người học nghe và nhắc lại, bắt chước lời

nói của người dạy, cố gắng nhập tâm các hoạt động ngôn ngữ và hiểu ý nghĩa.

Phương pháp này được thể hiện bằng các thủ pháp khác nhau:

- Quan sát vật thật, tranh ảnh, tình huống, hành động thật trong việc cho trẻ

khám phá tự nhiên – xã hội kèm với lời nói của cơ. Cuối cùng trẻ bắt chước

lời nói của cơ.

- Trò chơi: Trong q trình chơi hoạt động đóng vai theo chủ đề, trẻ bắt

chước lời nói của các bạn hoặc bắt chước lại lời nói của người lớn mà trẻ

Vũ Thị Lợi



9



Trường Mầm Non Sơn Ca



Một số biện pháp nâng cao chất lượng dạy Tiếng việt và tăng cường Tiếng việt cho trẻ mầm non

dân tộc thiểu số.



quan sát được. Trò chơi chính là điều kiện để trẻ nhắc lại những lời nói trong

cuộc sống hằng ngày. Trong trò chơi vận động, theo luật đòi hỏi trẻ nhắc lại

những bài đồng dao, những bài văn vần… rồi thuộc lòng. Những bài đồng

dao, văn vần…thể hiện được vần điệu, nhịp điệu của ngôn ngữ Tiếng Việt,

cấu trúc ngữ pháp và trình tự sắp xếp câu, từ ngữ, hình ảnh, ngữ điệu là chất

liệu ngôn ngữ tốt cho trẻ học tiếng Việt.

- Mẫu lời nói: Trẻ nhắc lại câu nói mẫu của cơ. Do vậy câu nói mẫu của cơ

phải phát âm chuẩn xác, đúng ngữ pháp, văn phong sáng sủa, câu mẫu ngắn

gọn, phù hợp với đặc điểm giai đoạn phát triển ngôn ngữ của trẻ để trẻ dễ bắt

chước và nhắc lại.

* Phương pháp trò chuyện (đàm thoại).

Phương pháp trò chuyện, đàm thoại là phương pháp được áp dụng trong

hoạt động để dạy trẻ, mà ở đó có người hỏi và người trả lời. Người dạy kích

thích người học sử dụng ngơn ngữ của mình và hồn thiện dần lời nói của bản

thân. Tùy thuộc vào mức độ phát triển tiếng Việt của trẻ mà cô giáo sử dụng

các câu hỏi khác nhau:

- Những câu hỏi định hướng lên vật như: Ai? Cái gì đây? Con gì đây? Đang

làm gì? Như thế nào?

- Những câu hỏi định hướng lên đối tượng người hay vật, lên không gian,

thời gian như: Đâu? Ở đâu? Cho ai? Của ai? Vào lúc nào?

- Những câu hỏi đòi hỏi trẻ phải hoạt động và so sánh như: Bao nhiêu? Có

bao nhiêu? Cao bao nhiêu? Dài bằng chừng nào? Bên nào nhiều hơn? Bên

nào ít hơn? Cái nào cao hơn?

- Những câu hỏi đòi hỏi trẻ phải suy nghĩ, lập luận, giải thích, lý giải tại sao

như: Tại sao? Để làm gì? Cháu nghĩ như thế nào? Cháu cảm thấy như thế

nào? Điều gì sẽ xảy ra?

* Phương pháp dạy trẻ kể truyện

Phương pháp kể lại truyện có vai trò to lớn trong phát triển lời nói mạch

lạc cho trẻ. Kể lại chuyện xảy ra khi giáo viên đọc (hoặc kể) cho trẻ nghe một

Vũ Thị Lợi



10



Trường Mầm Non Sơn Ca



Một số biện pháp nâng cao chất lượng dạy Tiếng việt và tăng cường Tiếng việt cho trẻ mầm non

dân tộc thiểu số.



tác phẩm văn học hay hồi tưởng về một sự việc mà trẻ đã nhìn thấy trong dạo

chơi, tham quan, hay kể lại một chuyện đã xảy ra với bản thân trẻ, hay mơ tả

bằng lời về một vật, con vật nào đó mà trẻ được gặp, nhìn thấy.

Phương pháp kể lại truyện cũng tương đối giống phương pháp bắt

chước, chỉ khác trẻ nhắc lại từng đoạn của truyện hoặc cả truyện. Muốn trẻ kể

lại truyện, đòi hỏi cơ phải đọc hoặc kể cho trẻ nghe hết toàn bộ câu chuyện,

cho trẻ nghe nhiều lần và lắng đọng, có thời gian cho trẻ kể.

2. Thực trạng việc dạy Tiếng Việt và tăng cường Tiếng Việt cho trẻ mầm

non dân tộc thiểu số tại lớp 5 – 6 tuổi.

* Ưu điểm: Trẻ học và làm quen rất nhanh với các âm, từ tiếng Việt vì khả

năng bắt chước của trẻ rất nhanh nhạy. Ngay trong những tuần đầu tiên, trẻ có

thể thuộc và hát được nhiều bài hát, đọc được các bài thơ một cách khá chính

xác khi được cơ hướng dẫn một cách tỉ mỉ, đúng phương pháp. Trẻ có thể lặp

lại các hành động, nói các từ chỉ hành động hoặc vừa quan sát vừa chỉ, nói tên

sự vật xung quanh trẻ mà cơ cung cấp. Trẻ có thể nhìn nét mặt, cử chỉ và đốn

các u cầu của cơ đưa ra. Đây là một trong những ưu điểm mà tôi chú ý để

tận dụng trong việc cung cấp vốn từ cũng như rèn phát âm cho trẻ.

Bên cạnh đó bản thân tôi đã nhận thức được tầm quan trọng của việc dạy

và tăng cường Tiếng việt cho trẻ dân tộc thiểu số.

Có nhận thức được ý nghĩa của việc trẻ nghe, hiểu và nói được tiếng Việt

của trẻ có ảnh hưởng rất lớn đến chất lượng, quá trình tiếp thu kiến thức

khơng chỉ ở các lớp mẫu giáo mà còn những năm tiếp theo của trẻ ở trường

phổ thông.

Cơ bản nắm được một số nhiệm vụ, phương pháp, nội dung, hình thức

phát triển tiếng Việt cho trẻ.

* Hạn chế:

Thông qua quan sát, đàm thoại, đánh giá tôi nhận thấy: Trẻ trong địa bàn

đều là người dân tộc Ê Đê. Ngôn ngữ tiếng mẹ đẻ của trẻ là tiếng Ê Đê. Phần

lớn các cháu khi bước đầu đến trường đều không hiểu và khơng nói được

Vũ Thị Lợi



11



Trường Mầm Non Sơn Ca



Một số biện pháp nâng cao chất lượng dạy Tiếng việt và tăng cường Tiếng việt cho trẻ mầm non

dân tộc thiểu số.



tiếng Việt. Môi trường tiếng Việt ở trường mầm non là đầu tiên và duy nhất

mà trẻ được tiếp xúc.

Đầu năm học: Trẻ hầu như chưa biết gì về vốn tiếng Việt. Ngay cả

những từ đơn giản liên quan đến hành động của bản thân như: vào lớp, ra

lớp, nói to, dừng lại, tiếp tục, chào cơ, vỗ tay…hay những từ liên quan đến

những đồ vật xung quanh gần gũi với trẻ như mũ, dép, cặp, bàn, ghế,

bảng…đều lạ lẫm đối với trẻ.

Những yêu cầu đơn giản như “dừng lại”, “tiếp tục”, “chào cô”,…trẻ

không hiểu và không thực hiện được. Thậm chí cơ giáo phải sử dụng rất

nhiều đến “ngôn ngữ cơ thể” để giao tiếp với trẻ.

Những câu hỏi mà cơ giáo đặt ra như “Cháu tên gì?”, “Con gì đây?”,

“Cái gì đây?”, “Số mấy?”, “Bằng mấy?” trẻ khơng hiểu và khơng nói được

câu trả lời mà thường được đáp lặp lại là “tên gì!”, “gì đây!”, “số mấy!”,

“bằng mấy”.

Những câu giảng giải mà cơ giáo giải thích hầu như trẻ khơng hiểu, từ đó

trẻ khơng tiếp thu được các kiến thức mang tính khái quát, trừu tượng.

Về phía giáo viên bất đồng ngơn ngữ trong giao tiếp, về nhận thức của

giáo viên trong việc tổ chức các hoạt động dạy tăng cường Tiếng Việt cho

trẻ.

Giáo viên đã nhận thức được ý nghĩa của việc tổ chức các hoạt động dạy

và tăng cường tiếng Việt cho trẻ tuy nhiên chưa đầy đủ, chưa cho rằng đó là

một trong những nhiệm vụ được ưu tiên hàng đầu mục tiêu giáo dục trẻ. Chỉ

khi trẻ cơ bản hiểu được một số vốn tiếng Việt cơ bản thì trẻ mới có thể tiếp

nhận được các hoạt động giáo dục khác một cách có hiệu quả.

Giáo viên chưa hiểu được rằng những nhiệm vụ, phương pháp, nội dung,

hình thức dạy trẻ dân tộc thiểu số nói tiếng Việt như một ngơn ngữ thứ hai có

một số điểm khác với những nhiệm vụ, phương pháp, nội dung, hình thức

dạy trẻ nói tiếng Việt với vai trò là tiếng mẹ đẻ.



Vũ Thị Lợi



12



Trường Mầm Non Sơn Ca



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Cơ sở lý luận

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×