Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ TỔ CHỨC VÀ HOẠT ĐỘNG CỦA HỘI ĐỒNG NHÂN DÂN CẤP XÃ

Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ TỔ CHỨC VÀ HOẠT ĐỘNG CỦA HỘI ĐỒNG NHÂN DÂN CẤP XÃ

Tải bản đầy đủ - 0trang

quản lý nhà nước của người lao động, coi:“Sự tham gia của người lao động

vào chính quyền như là mục đích của chính quyền Xơ viết. Và theo Người,

việc thu hút được mọi người lao động tham gia vào quản lý là một trong

những ưu thế quyết định của nền dân chủ xã hơi chủ nghĩa v.v.. Vì rằng, một

thiểu số người tức là Đảng không thể thực hiện được chủ nghĩa xã hội”[33].

Tóm lại, xuất phát từ bản chất nhà nước xã hội chủ nghĩa là một Nhà

nước dân chủ nên việc tổ chức và hoạt động của BMNN xã hội chủ nghĩa

luôn đảm bảo sự tập trung thống nhất quyền lực. Chính vì lẽ đó, V.I.Lênin khi

nói về cơ quan đại diện đã khẳng định: “Chúng ta không thể quan niệm một

nền dân chủ, dẫu là dân chủ vơ sản, mà lại khơng có cơ quan đại diện”[33].

1.1.2. Tư tưởng Hồ Chí Minh về cơ quan đại diện của nhân dân.

- Năm 1911 Nguyễn Ái Quốc đã rời bến cảng Nhà Rồng ra đi tìm đường

cứu nước. Người đã đi nhiều nơi trên thế giới như châu Âu, châu Phi, châu

Mỹ, châu Á; tìm hiểu và nghiên cứu kinh nghiệm của một số nước trên thế

giới. Trong khi tìm hiểu, nghiên cứu Chủ tịch Hồ Chí Minh rất chú ý xem xét

những vấn đề về chính quyền nhà nước, vấn đề cơ bản của mọi cuộc cách

mạng xã hội. Sau thắng lợi của Cách mạng tháng Tám năm 1945, để thực thi

quyền làm chủ của nhân dân trong việc xây dựng Nhà nước Việt Nam mới

- Nhà nước Dân chủ Cộng hồ, ngày 3/9/1945, trong cuộc họp Chính

phủ lâm thời, Hồ Chí Minh đã đề nghị tiến hành tổ chức “càng sớm càng hay

cuộc tổng tuyển cử với chế độ phổ thơng đầu phiếu”. Tư tưởng Hồ Chí Minh

về bộ máy chính quyền địa phương cũng thể hiện rất rõ trong Hiến pháp

1946, đó là thiết chế HĐND, cơ quan đại diện của nhân dân địa phương.

HĐND được thành lập ở cấp tỉnh, cấp huyện và cấp xã. HĐND quyết định

những vấn đề thuộc địa phương mình, những kiến nghị ấy không được trái

với chỉ thị cấp trên. Có thể nói, tổ chức chính quyền địa phương với hình ảnh

rõ nhất là thiết chế cơ quan đại diện - HĐND một cơ quan quyết định những



vấn đề có tính địa phương, do nhân dân địa phương bầu ra và phải chịu trách

nhiệm trước nhân dân địa phương.

1.2. KHÁI QUÁT VỀ QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH VÀ PHÁT

TRIỂN CỦA HỘI ĐỒNG NHÂN DÂN CẤP XÃ TRONG LỊCH SỬ LẬP

PHÁP CỦA NƯỚC TA.

Văn bản pháp luật đầu tiên về HĐND là Sắc lệnh số 63 - SL ngày 22

tháng 11 năm 1945 về tổ chức, quyền hạn, cách làm việc của HĐND và

UBHC có hiệu lực thi hành ngày 8 tháng 12 năm 1945. Sau đó là các Sắc lệnh

sửa đổi Sắc lệnh số 63: Sắc lệnh số 22A - SL ban hành ngày 18 tháng 02 năm

1946 về việc tổ chức các HĐND và UBHC do Chính phủ lâm thời ban hành,

để sửa đổi điều thứ 65 Sắc lệnh số 63 ngày 22 tháng 11 năm 1945 tổ chức các

HĐND và UBHC; Sắc lệnh số 10 về tổ chức HĐND và UBHC ở các xã,

huyện, tỉnh và kỳ do Chủ tịch Chính phủ ban hành để sửa đổi Sắc lệnh số 63

ngày 22 tháng 11 năm 1945 tổ chức HĐND và UBHC ở các xã, huyện, tỉnh

và kỳ. Tiếp đến là Hiến pháp 1946 được Quốc hội thông qua ngày 9/11/1946.

Hiến pháp 1946 tuy chưa đưa ra một định nghĩa cụ thể về HĐND nhưng vai

trò quan trọng của HĐND, mối quan hệ giữa HĐND với cấp trên cũng đã

được xác định trong Điều thứ 59 “Hội đồng nhân dân quyết nghị về những

vấn đề thuộc địa phương mình. Những nghị quyết ấy không được trái với chỉ

thị của các cấp trên”. Ngày 29 tháng 4 năm 1958, Quốc hội nước Việt Nam

Dân chủ Cộng hòa đã lần đầu tiên ban hành một đạo luật quy định về cách

thức tổ chức HĐND, đó là Luật tổ chức Chính quyền địa phương. Theo quy

định tại Điều 3 Luật tổ chức chính quyền địa phương thì “Hội đồng nhân dân

các cấp là cơ quan quyền lực Nhà nước ở địa phương, do nhân dân bầu ra.

Số lượng đại biểu Hội đồng nhân dân mỗi cấp và cách thức bầu cử do luật

bầu cử quy định”. Với chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ 1954, hồ bình

được lập lại ở miền Bắc, miền Nam còn nằm dưới sự kiểm sốt của đế quốc

Mỹ. Để đáp ứng và phục vụ cho yêu cầu, nhiệm vụ của cách mạng trong tình



hình mới Quốc hội đã quyết định sửa đổi Hiến pháp 1946. Sau một thời gian

dài nghiên cứu, soạn thảo công phu, Quốc hội nước Việt Nam Dân chủ Cộng

hòa đã ban hành Hiến pháp 1959 để thay thế Hiến pháp 1946. Trên cơ sở Hiến

pháp 1959, Quốc hội đã thông qua Luật tổ chức HĐND và UBHC các cấp tại

kỳ họp thứ 5 Quốc hội khoá II ngày 27 tháng 10 năm 1962 (hiệu lực thi hành

từ 11/11/1962 đến 09/7/1983). Ngày 30/12/1980 Quốc hội đã thông qua Hiến

pháp 1980 làm cơ sở cho việc xây dựng xã hội chủ nghĩa trong phạm vi cả

nước, xây dựng và cũng cố BMNN thống nhất trong đó có tổ chức chính

quyền địa phương. Thiết chế HĐND được quy định tại chương IX, Hiến pháp

1980. Sau khi Hiến pháp 1980 ra đời để cụ thể hoá các quy định của Hiến

pháp 1980 về thiết chế HĐND, ngày 30 tháng 6 năm 1983, Quốc hội nước

Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam khoá VII, kỳ họp thứ 5, đã thông qua

Luật tổ chức HĐND và UBND 1983, thay thế Luật tổ chức HĐND và UBHC

các cấp ngày 27 tháng 10 năm 1962. Những quy định trước đây trái với Luật

này đều bãi bỏ. Để phát huy hơn nữa nền dân chủ xã hội chủ nghĩa, tăng

cường hiệu lực của cơ quan nhà nước ở địa phương tại kỳ họp thứ 5, Quốc hội

khố VIII đã thơng qua Luật tổ chức HĐND và UBND ngày 30 tháng 6 năm

1989 (thay thế Luật tổ chức HĐND và UBND năm 1983). Từ năm 1986, cơng

cuộc đổi mới tồn diện đất nước đã được đề xướng thực hiện. Công cuộc đổi

mới đã đặt ra yêu cầu phải “đổi mới” pháp luật để tạo cơ sở pháp lý cho việc

thực hiện đổi mới toàn diện trên mọi lĩnh vực của đời sống xã hội, trong đó

đổi mới tổ chức và hoạt động của BMNN là hết sức cần thiết. Hiến pháp 1992

được xây dựng để đáp ứng nhu cầu đó. Cũng như Hiến pháp 1980, thiết chế

HĐND được quy định tại chương IX. Việc chia đơn vị hành chính vẫn giữ

như trong Hiến pháp 1980. Đến ngày 19/06/2015 Quốc hội nước Cộng hoà xã

hội chủ nghĩa Việt Nam khoá XIII, kỳ họp thứ 9 đã thơng qua Luật tổ chức

chính quyền địa phương 2015 Trong văn bản này thì tổ chức và hoạt động



cũng như nhiệm vụ, quyền hạn của HĐND các cấp đã được quy định một

cách cụ thể và rõ ràng.

1.3. NHỮNG QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT HIỆN HÀNH VỀ TỔ

CHỨC VÀ HOẠT ĐỘNG CỦA HỘI ĐỒNG NHÂN DÂN CẤP XÃ

1.3.1 Vị trí, tính chất, chức năng của Hội đồng nhân dân cấp xã.

Vị trí, tính chất và chức năng của HĐND được quy định trong Điều 119,

Điều 120 Hiến pháp 1992 và cụ thể hoá trong Luật tổ chức HĐND và UBND

năm 2015. Theo quy định tại Điều 1 Luật tổ chức HĐND và UBND năm

2015 thì: “Hội đồng nhân dân là cơ quan quyền lực Nhà nước ở địa phương,

đại diện cho ý chí, nguyện vọng và quyền làm chủ của nhân dân, do nhân dân

địa phương bầu ra, chịu trách nhiệm trước nhân dân địa phương và cơ quan

nhà nước cấp trên. Hội đồng nhân dân quyết định những chủ trương, biện

pháp quan trọng để phát huy tiềm năng của địa phương, xây dựng và phát

triển địa phương về kinh tế - xã hội, củng cố quốc phòng, an ninh, không

ngừng cải thiện đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân địa phương, làm

tròn nghĩa vụ của địa phương đối với cả nước.Hội đồng nhân dân thực hiện

quyền giám sát đối với hoạt động của Thường trực Hội đồng nhân dân, Uỷ

ban nhân dân, Toà án nhân dân, Viện kiểm sát nhân dân cùng cấp; giám sát

việc thực hiện các nghị quyết của Hội đồng nhân dân; giám sát việc tuân theo

pháp luật của cơ quan nhà nước, tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội, đơn vị vũ

trang nhân dân và của công dân ở địa phương”.

1.3.2 Về cơ cấu tổ chức và hoạt động của Hội đồng nhân dân.

Kế thừa các nội dung họp lý của Luật năm 2003; đồng thời bổ sung

những điểm mới nhằm quy định chi tiết them về tổ chức và hoạt động của

HĐND, kỳ họp HĐND, Thường trực HĐND, các Ban của HĐND và đại biểu

HĐND (về giám sát của HĐND do Luật hoạt động giám sát của Quốc hội và

HĐND quy định cụ thể). Theo đó, cơ cấu tổ chức và hoạt động của HĐND có

những nội dung mới sau:



Thứ nhất, quy định tiêu chuẩn, số lượng đại biểu HĐND các cấp

(chuyển từ Luật Bầu cử đại biểu HĐND hiện nay sang quy định tại Luật này),

ừong đó có việc tăng thêm số lượng đại biểu HĐND ở thành phố Hà Nội và

thành phổ Hồ Chỉ Minh từ 95 lên 105 đại biểu.

Thứ hai, tăng cường vai trò của Thường trực HĐND, bảo đảm hoạt động

thường xuyên giữa 2 kỳ họp HĐND; quy định rõ Thường trực HĐND họp

thường kỳ mỗi tháng 1 lần.

Thứ ba, thay chức danh ủy viên Thường trực HĐND cấp tỉnh, cấp huyện

bằng chức danh Phó Chủ tịch HĐND; mở rộng thành viên Thường trực

HĐND cấp tỉnh, cấp huyện gồm Chủ tịch, các Phó Chủ tịch và các ủy viên là

Trưởng Ban của HĐND; Thường trực HĐND cấp xã vẫn gồm Chủ tịch và

Phó Chủ tịch HĐND.

Thứ tư, ở HĐND thành phố trực thuộc trung ương thành lập thêm Ban

đô thị; ở HĐND cấp xã thành lập thêm 2 ban là Ban Pháp chế và Ban Kinh tế

- Xã hội. Thành viên các Ban HĐND cấp xã hoạt động kiêm nhiệm.

Thứ năm, quy định đại biểu HĐND hoạt động chuyên trách. Theo đó,

Chủ tịch HĐND, Trưởng Ban của HĐND cấp tỉnh, cấp huyện có thể là đại

biểu HĐND hoạt động chuyên trách; Phó Chủ tịch HĐND, Phó Trưởng Ban

của HĐND cấp tỉnh, cấp huyện là đại biểu HĐND hoạt động chuyên trách; ở

cấp xã, quy định Phó Chủ tịch HĐND cấp xã là đại biểu HĐND hoạt động

chuyên trách; Trưởng Ban, Phó Trưởng Ban và ủy viên của các Ban của

HĐND xã hoạt động kiêm nhiệm.

Thứ sáu, quy định khi có từ 10% trở lên ừong tổng số cử tri trên địa bàn

cấp xã yêu cầu, Thường trực HĐND cấp xã có trách nhiệm xem xét tổ chức

kỳ họp HĐND để bàn về nội dune kiến nghị của cử tri.

Thứ bảy, HĐND cấp tỉnh, cấp huyện thành lập Tổ đại biểu HĐND;

HĐND cấp xã không thành lập Tổ đại biểu HĐND.

1.3.3 Nhiệm vụ và quyền hạn của Hội đồng nhân dân cấp xã.



Nhiệm vụ, quyền hạn của HĐND được ghi nhận trong Hiến pháp 1992

và Luật tổ chức HĐND và UBND năm 2015. Nhiệm vụ, quyền hạn của

HĐND từng cấp được quy định khá cụ thể trong Luật tổ chức HĐND và

UBND, trong đó nhiệm vụ, quyền hạn của HĐND cấp xã cũng được đề cập

đến một cách rõ ràng trong từng lĩnh vực, trong đó có sự phân biệt giữa nhiệm

vụ, quyền hạn của HĐND xã, thị trấn và nhiệm vụ, quyền hạn của HĐND

phường.

1.3.3.1 Nhiệm vụ, quyền hạn của Hội đồng nhân dân xã, thị trấn.

Nhiệm vụ, quyền hạn của Hội đồng nhân dân xã, thị trấn được quy định

rõ trong các lĩnh vự c đó là: trong lĩnh vực kinh tế, lĩnh vực giáo dục, y tế, xã

hội và đời sống, văn hố, thơng tin, thể dục thể thao, bảo vệ tài ngun, mơi

trường, lĩnh vực quốc phòng, an ninh, trật tự, an tồn xã hội, việc thực hiện

chính sách dân tộc và chính sách tơn giáo, lĩnh vực thi hành pháp luật và

trong việc xây dựng chính quyền địa phương.

1.3.3.2. Nhiệm vụ, quyền hạn của Hội đồng nhân dân phương.

Ngoài những nhiệm vụ, quyền hạn như của HĐND xã, thị trấn đã nêu ở

trên, HĐND phường còn có thêm những nhiệm vụ, quyền hạn như sau:

- Quyết định biện pháp thực hiện thống nhất kế hoạch phát triển kinh tế xã hội và quy hoạch đô thị; thực hiện nhiệm vụ giải phóng mặt bằng; bảo đảm

trật tự giao thơng đô thị, trật tự xây dựng trên địa bàn phường;

- Quyết định biện pháp xây dựng nếp sống văn minh đơ thị; biện pháp

phòng, chống cháy, nổ, giữ gìn vệ sinh; bảo vệ môi trường, trật tự công cộng

và cảnh quan đô thị trong phạm vi quản lý;

- Quyết định biện pháp quản lý dân cư và tổ chức đời sống nhân dân trên

địa bàn phường.

1.3.4. Thường trực Hội đồng nhân dân cấp xã.

Thường trực HĐND cấp xã do HĐND cấp xã bầu ra tại kỳ họp HĐND

trong số các đại biểu HĐND. Thường trực của HĐND cấp xã bao gồm:



Chủ tịch, Phó Chủ tịch HĐND. Các thành viên của UBND cấp xã không

thể đồng thời là thành viên của Thường trực HĐND cấp xã. Kết quả bầu các

thành viên của Thường trực HĐND cấp xã phải được Thường trực HĐND cấp

huyện phê chuẩn.

1.3.5. Kỳ họp của Hội đồng nhân dân cấp xã.

Kỳ họp của HĐND chiếm vị trí đặc biệt quan trọng trong hoạt động của

HĐND. Bởi vì đây là hình thức hoạt động chủ yếu và quan trọng nhất của

HĐND. HĐND làm việc tập trung và có hiệu quả nhất trong các kỳ họp của

mình.

Tại kỳ họp HĐND thảo luận dân chủ và quyết định theo đa số các công

việc quan trọng của địa phương; bầu ra Chủ tịch, Phó Chủ tịch HĐND,

UBND, Thường trực HĐND. Các quyết định của HĐND được thể hiện dưới

hình thức nghị quyết. HĐND thường lệ mỗi năm họp hai kỳ. Ngoài kỳ họp

thường lệ, HĐND tổ chức các kỳ họp chuyên đề hoặc kỳ họp bất thường theo

đề nghị của Chủ tịch HĐND, Chủ tịch UBND cùng cấp hoặc khi có ít nhất

một phần ba tổng số đại biểu HĐND cùng cấp yêu cầu. Thường trực HĐND

quyết định triệu tập kỳ họp thường lệ của HĐND chậm nhất là hai mươi ngày,

kỳ họp chuyên đề hoặc bất thường chậm nhất là mười ngày trước ngày khai

mạc kỳ họp. HĐND họp công khai. Khi cần thiết, HĐND quyết định họp kín

theo đề nghị của Chủ tọa cuộc họp hoặc của Chủ tịch UBND cùng cấp. Ngày

họp, nơi họp và chương trình của kỳ họp HĐND phải được thông báo cho

nhân dân biết, chậm nhất là năm ngày, trước ngày khai mạc kỳ họp. Kỳ họp

HĐND được tiến hành khi có ít nhất hai phần ba tổng số đại biểu HĐND

tham gia. Đại biểu Quốc hội, đại biểu HĐND cấp trên đã được bầu ở địa

phương, Chủ tịch Uỷ ban MTTQ Việt Nam, người đứng đầu các đoàn thể

nhân dân ở địa phương và đại diện cử tri được mời tham dự kỳ họp HĐND,

được phát biểu ý kiến nhưng không biểu quyết. Tài liệu cần thiết của kỳ họp



HĐND phải được gửi đến đại biểu HĐND chậm nhất là năm ngày trước ngày

khai mạc kỳ họp.

1.3.6. Đại biểu Hội đồng nhân dân cấp xã.

Đại biểu HĐND cấp xã được nhân dân ở cấp xã tín nhiệm bầu ra là

người đại diện cho ý chí, nguyện vọng của nhân dân ở cấp xã. Vì vậy, đại biểu

HĐND phải gương mẫu chấp hành chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà

nước; tuyên truyền, vận động nhân dân thực hiện chính sách, pháp luật và

tham gia vào việc quản lý nhà nước.

1.4. MỐI QUAN HỆ GIỮA HỘI ĐỒNG NHÂN DÂN CẤP XÃ VỚI

ỦY BAN NHÂN DÂN CẤP XÃ VÀ VỚI CÁC TỔ CHỨC CHÍNH TRỊ,

CHÍNH TRỊ - XÃ HỘI Ở ĐỊA PHƯƠNG

1.4.1. Mối quan hệ giữa Hội đồng nhân dân cấp xã với Ủy ban nhân

dân cấp xã

Mối quan hệ giữa Hội đồng nhân dân cấp xã với Ủy ban nhân dân cấp xã

được quy định tại Điều 2 Luật tổ chức HĐND và UBND năm 2015. Điều 2

Luật tổ chức HĐND và UBND quy định: “Uỷ ban nhân dân do Hội đồng

nhân dân bầu là cơ quan chấp hành của Hội đồng nhân dân, cơ quan hành

chính nhà nước ở địa phương, chịu trách nhiệm trước Hội đồng nhân dân

Bcùng cấp và cơ quan nhà nước cấp trên. UBND cấp xã chịu trách nhiệm

chấp hành Hiến pháp, luật, các văn bản của cơ quan nhà nước cấp trên và nghị

quyết của HĐND cùng cấp nhằm bảo đảm thực hiện chủ trương, biện pháp

phát triển kinh tế - xã hội, củng cố quốc phòng, an ninh và thực hiện các

chính sách khác trên địa bàn”.

1.4.2. Mối quan hệ giữa Hội đồng nhân dân cấp xã với Đảng ủy cấp

xã.

Đảng lãnh đạo Nhà nước và xã hội là một nguyên tắc đã được ghi nhận

tại Điều 4 Hiến pháp 1992: “Đảng cộng sản Việt Nam, đội tiên phong của

giai cấp công nhân Việt Nam, đại biểu trung thành quyền lợi của giai cấp



công nhân, nhân dân lao động và của cả dân tộc, theo Chủ nghĩa Mác Lênin và Tư tưởng Hồ Chí Minh, là lực lượng lãnh đạo Nhà nước và xã hội”.

1.4.3. Mối quan hệ giữa Hội đồng nhân dân cấp xã với Mặt trận tổ

quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên của Mặt trận tổ quốc Việt Nam.

Trong hệ thống chính trị nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam,

MTTQ Việt Nam có vị trí, vai trò hết sức quan trọng. Được quy định tại Điều

9 Hiến Pháp 1992 và Điều 9 Luật tổ chức HĐND và UBND 2003.“Mặt trận

Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên là cơ sở chính trị của chính

quyền nhân dân. Mặt trận phát huy truyền thống đoàn kết toàn dân, tăng

cường sự nhất trí về chính trị và tinh thần trong nhân dân, tham gia xây dựng

và củng cố chính quyền nhân dân, cùng Nhà nước chăm lo và bảo vệ lợi ích

chính đáng của nhân dân, động viên nhân dân thực hiện quyền làm chủ,

nghiêm chỉnh thi hành Hiến pháp và pháp luật, giám sát hoạt động của cơ

quan Nhà nước, đại biểu dân cử và cán bộ, viên chức Nhà nước”. Điều 9

Luật tổ chức HĐND và UBND 2003 cũng quy định:“Trong hoạt động của

mình, Hội đồng nhân dân, Thường trực Hội đồng nhân dân, Uỷ ban nhân

dân, các Ban của Hội đồng nhân dân và đại biểu Hội đồng nhân dân phối

hợp chặt chẽ với Ban thường trực Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các

tổ chức thành viên của Mặt trận, các tổ chức xã hội khác chăm lo và bảo vệ

lợi ích của nhân dân, vận động nhân dân tham gia vào việc quản lý nhà nước

và thực hiện các nghĩa vụ đối với Nhà nước”

Mối quan hệ giữa HĐND cấp xã và MTTQ Việt Nam và các tổ chức

thành viên ở xã là quan hệ phối hợp. HĐND cấp xã phối hợp chặt chẽ với

MTTQ và các tổ chức thành viên của Mặt trận ở địa phương xây dựng mối

quan hệ làm việc để hoàn thành tốt nhiệm vụ của mình. Mỗi năm hai lần vào

giữa năm và cuối năm, Chủ tịch HĐND cấp xã thông báo bằng văn bản đến

Uỷ ban MTTQ xã về tình hình hoạt động của HĐND cấp mình và nêu những

kiến nghị của HĐND với MTTQ. Trong kỳ họp thường lệ của HĐND, Uỷ ban



MTTQ báo cáo về hoạt động của MTTQ xã tham gia xây dựng chính quyền,

về những ý kiến, kiến nghị, kiến nghị đối với HĐND và với đại biểu HĐND

cấp xã. Mối quan hệ phối hợp HĐND và MTTQ đã được quy định tại Điều

125 Hiến pháp 1992: “Chủ tịch Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và người

đứng đầu các đoàn thể nhân dân ở địa phương được mời tham dự các kỳ họp

Hội đồng nhân dân và được mời tham dự hội nghị Uỷ ban nhân dân cùng cấp

khi bàn các vấn đề có liên quan. Hội đồng nhân dân, Uỷ ban nhân dân thực

hiện chế độ thơng báo tình hình mọi mặt của địa phương cho Mặt trận Tổ

quốc và các đoàn thể nhân dân, lắng nghe ý kiến, kiến nghị của các tổ chức

này về xây dựng chính quyền và phát triển kinh tế - xã hội ở địa phương;

phốihợp với Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể nhân dân động viên nhân dân

cùng Nhà nước thực hiện các nhiệm vụ kinh tế - xã hội, quốc phòng, an ninh

ở địa phương”[12].



Chương 2

THỰC TRẠNG TỔ CHỨC VÀ HOẠT ĐỘNG CỦA HỘI ĐỒNG

NHÂN DÂN CẤP XÃ Ở TỈNH KON TUM

2.1. ĐẶC ĐIỂM VỀ TỰ NHIÊN, KINH TẾ - XÃ HỘI CỦA TỈNH

KON TUM.

Có diện tích …….km, Bắc giáp Xã Tu Mơ Rông, Nam giáp Đăk Pơ xi

huyện Đăk Hà, Đông giáp Đăk Tô, Tây giáp Xã A Tô Kan , cố đô của Việt

Nam, đô thị loại 2, một trung tâm văn hóa, giáo dục, y tế và du lịch quan

trọng của cả nước. Về tổ chức hành chính, 97 97, với 1 thị trấn. Với vị trí địa

lý thuận lợi cùng với những ưu thế về nguồn tài nguyên thiên nhiên phong

phú là những tiền đề quan trọng để xây dựng cho mình định hướng phát triển

riêng, phát huy hiệu quả thế và lực của địa phương để giữ vững bước tiến vào

thế kỷ XXII. Trên đây là vài nét về tình hình kinh tế - xã hội huyện A bên

cạnh những thành tựu đạt được còn có những khó khăn, yếu kém tồn tại. Tuy

nhiên dưới sự lãnh đạo của các cấp chính quyền cùng với sự giúp đỡ của nhân

dân trong tương lai khơng xa tình hình kinh tế - xã hội của huyện sẽ có những

bước phát triển và thành quả nhất định trên con đường phấn đấu để đưa huyện

A.

2.2. THỰC TRẠNG TỔ CHỨC VÀ HOẠT ĐỘNG CỦA HỘI

ĐỒNG NHÂN DÂN CẤP XÃ Ở HUYỆN A.

2.2.1. Thực trạng tổ chức của Hội đồng nhân dân cấp xã tại huyện A.

Theo quy định thì trong cơ cấu HĐND cấp xã khơng có các Ban của

HĐND, văn phòng HĐND cho nên trong cơ cấu HĐND cấp xã ở huyện

Acũng khơng có các ban của HĐND, văn phòng HĐND như ở cấp huyện mà

chỉ có Thường trực HĐND. Thường trực HĐND cấp xã gồm: Chủ tịch, Phó

Chủ tịch HĐND. Chủ tịch HĐND thường kiêm nhiệm Bí thư Đảng uỷ cấp xã.

Phó Chủ tịch HĐND hoạt động chuyên trách. HĐND cấp xã ở huyện A bao

gồm: HĐND phường, HĐND xã và HĐND thị trấn, có 10 xã, 1 thị trấn với



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ TỔ CHỨC VÀ HOẠT ĐỘNG CỦA HỘI ĐỒNG NHÂN DÂN CẤP XÃ

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×