Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Giống như chức năng, vai trò của mở bài, mở đoạn, chúng ta cần giới thiệu được nhân vật, tác giả, tác phẩm và luận điểm đã cho. Học sinh sắp xếp những ý trên thành một câu hoàn chỉnh.

Giống như chức năng, vai trò của mở bài, mở đoạn, chúng ta cần giới thiệu được nhân vật, tác giả, tác phẩm và luận điểm đã cho. Học sinh sắp xếp những ý trên thành một câu hoàn chỉnh.

Tải bản đầy đủ - 0trang

Một số kinh nghiệm rèn kĩ năng viết đoạn văn nghị luận về một nhân vật trong tác phẩm truyện

dành cho học sinh lớp 9



Trong quá trình xây dựng luận cứ, mỗi học sinh sẽ có nhiều ý kiến khác khau, giáo

viên ghi nhận hết các ý kiến đó của các em và ghi lên bảng. Sau đó cùng học sinh

thêm, bớt, lặp ghép thành từng ý, từng câu. Giáo viên chỉnh sửa câu chữ, cách diễn đạt

theo ý đồ của mình rồi đi đến kết luận cuối cùng.

Ví dụ: Đề bài: Viết một đoạn văn (8 – 10 câu) với luận điểm sau: Anh Sáu trong

“ Chiếc lược ngà” của Nguyễn Quang Sáng là một người lính sẵn sàng hi sinh tình

cảm riêng tư để chiến đấu và hi sinh cho Tổ quốc.

Giáo viên hướng dẫn học sinh tìm luận cứ như sau:

- Biểu hiện chung của người lí yêu nước thiết tha là gì? (Tám năm trời ca cách

khơng được gặp con, đó là sự hi sinh thầm lặng…bao yêu thương, nhung nhớ đong đầy

nhưng anh vẫn chấp nhận để phục vụ cho Cách mạng, Tổ quốc).

- Theo em, sự hi sinh thầm lặng của anh Sáu được thể hiện cảm động nhất trong

ba ngày phép, đó là giây phút nào?Vì sao? (Yêu thương con đến trào nước mắt, bật

khóc vì tám năm trời anh Sáu mới được sống những giây phút cực kì ngắn ngủi của

tình phụ tử, thế mà anh vẫn dứt áo ra đi. Người lính phải chịu những mất mát hi sinh

thầm lặng về tinh thần và tình cảm.)

- Chi tiết nào trong truyện còn chứng tỏ lòng yêu nước của anh Sáu trong khi

làm nhiệm vụ? Chi tiết đó gợi cho có hình dung gì? (Chi tiết vết thẹo trên mặt anh Sau

còn cho thấy anh phải chịu đựng cuộc sống gian khổ, khốc liệt của chiến tranh như bao

người lính khác. Vết thẹo ấy là tội ác của chiến tranh ghi dấu trên gương mặt anh).

- Nếu để nói về sự hi sinh của người lính ấy, em sẽ phải nói tới chi tiết nào nữa

trong truyện? Em sẽ cảm nhận chi tiết đó như thế nào? (Anh Sáu đã hi sinh ở giữa

rừng chỉ có người bạn là anh Ba bên cạnh, toát lên vẻ đẹp dũng cảm, can trường, sẵn

sàng hi sinh thân mình cho Cách mạng, cho kháng chiến, cho Tổ quốc).

Khi giáo viên cho học sinh tìm luận cứ, có thể các em sẽ kể sự việc, Giáo viên

cần “ tỉnh” để chỉnh sửa dần cho học sinh bằng cách đặt câu hỏi gợi ý: Em nêu chi tiết

đó giống như đang kể chuyện quá. Em hãy diễn đạt lại chi tiết đó theo hướng đánh giá,

nêu suy nghĩ của em xem sao? Chi tiết của em diễn đạt hơi dài, em sắp xếp lại cho

ngắn gọn hơn đi?Cơ thấy chi tiết này chưa chọn lọc, em tìm chi tiết nào tiêu biểu hơn,

giá trị hơn xem nào?...Giáo viên đặt câu hỏi và chỉnh sửa dần đến khi nào cảm thấy đặt

yêu cầu rồi thì ghi lần lượt trên bảng. Có thể các em sẽ nêu các ý lẫn lộn, hoặc các câu

rời rạc với nhau. Không sao, miễn là đúng, chúng ta cứ tiến hành hướng dẫn các em

giải quyết từng luận cứ một rồi sau đó yêu cầu các em sắp xếp theo trình tự và thêm từ

ngữ để tạo liên kết là được. Chẳng hạn như có thể thêm ở phía trước mỗi luận cứ, mỗi

câu các từ ngữ: bên cạnh đó, khơng những thế, hoặc câu ghép có cặp từ hơ ứng “

khơng những…mà còn”… . u cầu phải ngắn gọn, chính xác, dễ hiểu.

- Kết đoạn: Khẳng định lại vấn đề (câu cuối)

Giống như vai trò của phần kết bài của một văn bản, phần kết đoạn cũng làm

nhiệm vụ tổng kết lại vấn đề đã nêu hai ở phần trên. Nó được hình thành bằng một câu

trọn vẹn khái quát lại nội dung chính của đề tài nhưng nâng cao thành chủ đề. Trước

câu kết đoạn có thể dùng một số từ ngữ chuyển tiếp có ý nghĩa tổng kết như: vì vậy, có

Trần Thị Lệ - GV trường THCS Lương Thế Vinh- Krông Ana



12



Một số kinh nghiệm rèn kĩ năng viết đoạn văn nghị luận về một nhân vật trong tác phẩm truyện

dành cho học sinh lớp 9



thể nói rằng, tóm lại…Phần kết đoạn, người viết thường nêu ra cách đánh giá, suy nghĩ

của mình về vấn đề nghị luận. Một số hướng kết đoạn như sau:

- Đánh giá về nhân vật. ( Nhân vật anh Sáu trong “ chiếc lược ngà” tiêu biểu cho

tầng lớp những người lính, người chiến sĩ trong cuộc kháng chiến chống Mỹ - những

con người nặng tình u thương nhưng vơ cùng quả cảm, kiên cường.

- Đánh giá tác giả. ( Qua việc xây dựng thành cơng nhân vật, từ đó cho ta hiểu

thêm về hiện thực cuộc kháng chiến chống Mĩ và vẻ đẹp của con người trong chiến

đấu, đã hi sinh cho đất nước, cho dân tộc để ta càng yêu quí hơn cuộc sống này.

- Đánh giá nâng cao. (Vẻ đẹp của anh Sáu trong truyện cũng là vẻ đẹp của dân

tộc Việt Nam trong kháng chiến chống Mỹ.

Giải pháp 3: Rèn các thao tác xây dựng một đoạn văn.

“Viết một đoạn văn…khoảng 10 câu…” là một dạng câu hỏi khá thử thách với

học sinh vì nó đòi hỏi nhiều kĩ năng: Viết câu ngắn gọn, diễn đạt lưu loát, nhưng lại

phải đầy đủ ý như một bài văn. Chính vì vậy, khi dạy học sinh, tơi vẫn thường nói hài

hước với các em rằng: “ Nếu như bài văn là một cái ti vi 43 Inch thì đoạn văn các em

phải làm là một cái ti vi 17 Inch”. Nói như vậy có nghĩa là đoạn văn nghị luận về nhân

vật trong truyện khơng khác gì một bài văn, chỉ thu ngắn lại mà thơi. Do đó, khơng

biết khái qt, diễn đạt thì đoạn văn sẽ khơng có hiệu quả cao. Tôi tiến hành rèn cho

các em sẽ lần lượt thực hiện các thao tác sau đây: (Bước 1.2.3 viết ra tờ giấy nháp).

Bước 1:

Đọc kĩ đề, gạch chân từ ngữ quan trọng và xác định vấn đề nghị luận ở đề bài để

chuẩn bị viết phần dàn ý chi tiết.

Bước 2:

Tìm ý và lập dàn ý chi tiết. Viết ra nháp lần lượt 3 phần: mở đoạn, thân đoạn, kết

đoạn theo trình tự bằng các gạch đầu dòng. Chú ý đánh dấu số câu theo thứ tự từ trên

xuống cho đến hết - đánh dấu bằng chữ số (1), (2)…tương ứng với mỗi gạch đầu dòng

đó.

Bước 3:

Đọc lại “bước 2” để kiểm tra sai sót trong diễn đạt, viết câu, và đặc biệt là đếm

số câu xem đã đúng với số câu qui định ở để bài. Nếu thiếu, em có thể tách một hay vài

câu nào đó trong phần thân đoạn thành những câu nhỏ hơn( tùy theo số câu thiếu để

tách nhiều hay ít câu). Nếu thừa, em có thể gộp những ý ở thân đoạn thành một câu và

dùng dấu phẩy hoặc dấu chấm phẩy (câu ghép nhiều vế). Đề cho phép học sinh viết

phải đủ số câu mà khơng được thiếu. Có thể sẽ thừa nhưng chỉ chấp nhận thừa một đến

hai câu. Nhưng tốt nhất “đủ mới là đúng”.

Bước 4:

Tiến hành viết đoạn văn vào bài thi (kiểm tra). Viết đúng theo yêu cầu của một

đoạn văn. Hình thức: Viết hoa chữ cái đầu, lùi vào 2 ơ và kết thúc bằng dấu chấm

xuống dòng. Nội dung đoạn văn lấy từ phần đã làm và chỉnh sửa ở giấy nháp.

Trần Thị Lệ - GV trường THCS Lương Thế Vinh- Krông Ana



13



Một số kinh nghiệm rèn kĩ năng viết đoạn văn nghị luận về một nhân vật trong tác phẩm truyện

dành cho học sinh lớp 9



Ví dụ:

Phần 1: Mở đoạn.

(1)

Phần 2: Thân đoạn:

(2) (3)

(4) …

Phần 3: Kết đoạn (n)

Sau khi làm được các bước trên, các em chỉ vần viết lại theo thứ tự từ (1) đến (n)

thành một đoạn và chú ý thêm một số từ ngữ ở đầu câu (nếu cần) để tạo sự liên kết

giữa các câu trong đoạn văn.

Giải pháp 4: Bổ sung một số đoạn văn mẫu cho học sinh .

Yêu cầu về các đoạn văn mẫu bổ sung: Đoạn văn phải chuẩn về nội dung và

hình thức, dễ hiểu, đề tài gẫn gũi, sát với chương trình, phù hợp với năng lực của học

sinh từng vùng miền…

Nguồn: Gv có thể chọn lựa ở các sách tham khảo, đoạn văn do giáo viên tự soạn

hoặc của ngay chính bài làm tốt của học sinh.

Phương pháp: Bổ sung đoạn văn mẫu cho học sinh trong giờ trả bài, giờ ôn tập,

giờ học phụ đạo…

*Một số đoạn văn mẫu tham khảo.

Bài 1:Vũ Nương là một người mẹ chu đáo, tận tình và yêu thương con rất

mực: (đoạn văn 5, 6 câu - dàn ý)

- Chồng đi xa, nàng sinh con trai đặt tên là “ Đản”- cái tên có ý nghĩa vui mừng,

tốt đẹp. Nàng coi đứa con là niềm vui, là nguồn hạnh phúc để nàng vượt qua khó khăn,

trụ vững trong những ngày đơn chiếc.

-Thương con, yêu con vô bờ, nàng không chỉ bươn chải để nuôi con lớn lên về

thể chất mà người mẹ ấy vẫn dành thời gian để vui đùa cùng con.

-Trò đùa về cái bóng hàng đêm mà Vũ Nương chỉ cái bóng của mình trên vách

bảo đó là “cha Đản”.

- Bằng cái bóng của mình, nàng muốn bù đắp cho con sự thiếu vắng tình cảm

của người cha, tạo nên sợi dây gắn kết giữa đứa con và người cha chưa biết mặt nơi

chiến trận xa xơi.

- Tấm lòng của người mẹ thật sâu nặng biết nhường nào.



Trần Thị Lệ - GV trường THCS Lương Thế Vinh- Krông Ana



14



Một số kinh nghiệm rèn kĩ năng viết đoạn văn nghị luận về một nhân vật trong tác phẩm truyện

dành cho học sinh lớp 9



Giải pháp 6: Kết hợp rèn kĩ năng viết đoạn văn nghị luận về nhân vật văn

học trong các tiết kiểm tra định kì (theo tiết phân phối chương trình), các tiết trả

bài, tiết học phụ đạo…

- Rèn kĩ năng viết đoạn văn nghị luận trong tiết kiểm tra định kì:

Cấu trúc đề kiểm tra định kì, đề thi học kì, đặc biệt là các kì thi của lớp 9 hiện

nay chú trọng câu viết đoạn văn nghị luận. Đó cũng là cách để chúng ta rèn kĩ năng

viết đoạn văn nghị luận cho học sinh.

- Rèn kĩ năng viết đoạn văn nghị luận trong giờ trả bài:

Sau khi đưa ra đáp án của đề kiểm tra, giáo viên phải nhận xét chi tiết, cụ thể

những ưu điểm và hạn chế trong bài làm của học sinh. Trong phần nhận xét đó, giáo

viên cần chỉ ra cụ thể những lỗi viết đoạn văn chưa đúng, chưa hay ở điểm nào bằng

nhiều cách.

Ví dụ: Giáo viên dùng bảng phụ (hoặc phiếu học tập, đèn chiếu) những bài làm

của học sinh : viết đoạn văn thành bài văn; đoạn văn dùng gạch đầu dòng; đoạn văn

khơng sử dụng câu mang luận điểm khái quát; liệt kê những lỗi chính tả; những câu

văn diễn đạt lủng củng, thiếu chính xác; câu văn dùng từ chưa hay, còn nơm na như

văn nói; đoạn văn khai thác luận cứ chưa tốt… Giáo viên cho học sinh phát hiện lỗi,

dạng lỗi và cùng học sinh lần lượt sửa lại tất cả các lỗi đó. Sau đó, giáo viên có thể

hướng dẫn học sinh viết từng phần: mở đoạn, thân đoạn và kết đoạn bằng cách liệt kê ý

hoặc gợi ý. Cuối cùng, giáo viên dặn dò học sinh về nhà viết lại đoạn văn và giờ tập

làm văn tiếp theo sẽ kiểm tra một số học sinh trong bước “ Kiểm tra bài cũ”. Nếu ở lớp

có một số học sinh viết đoạn văn tốt, giáo viên có thể đọc đoạn văn mẫu cho học sinh

hoặc giáo viên tự viết sẵn đoạn văn ở nhà để đọc cho học sinh nghe.

- Rèn kĩ năng viết đoạn văn trong tiết học phụ đạo.

Đối với một số trường, ngồi giờ học chính khóa, nhà trường thường tổ chức học

tăng tiết, học phụ đạo để giúp học sinh lớp 9 ơn thi. Vì thời gian học khá nhiều nên

ngay từ đầu, trong nội dung ôn tập, giáo viên cần rèn nhiều cho học sinh kĩ năng viết

đoạn văn nghị luận bằng các dạng bài tập từ dễ đến khó bằng cách đưa ra một số dàn ý

của đoạn văn về tư tưởng, đạo lí.

c. Mối quan hệ giữa các giải pháp, biện pháp

Các giải pháp, biện pháp luôn quan hệ chặt chẽ với nhau. Giáo viên muốn giảng

dạy một tiết dạy nghị luận văn học thành cơng thì phải soạn bài chu đáo, đầy đủ, chuẩn

xác nội dung kiến thức; học sinh phải chuẩn bị bài chu đáo. Sau đó giáo viên vận dụng

các phương pháp dạy học linh hoạt, tạo khơng khí học tập cho học sinh. Muốn viết

được một bài văn nghị luận về một nhân vật trong tác phẩm truyện, học sinh phải biết

viết đoạn văn nghị luận. Muốn viết được một đoạn văn nghị luận phân tích nhân vật

phải hiểu đề, xác định yêu cầu của đề, sau đó tìm ý, xác định luận điểm, tìm luận cứ và

nắm được cách viết đoạn văn theo diễn dịch, quy nạp hay tổng phân hợp. Sau khi làm

được các bước trên, học sinh sẽ làm dàn ý chi tiết và tiến hành viết bài. Để học sinh

hiểu được các bước làm bài, giáo viên cần hướng dẫn học sinh thật kĩ qua tiết dạy

Trần Thị Lệ - GV trường THCS Lương Thế Vinh- Krông Ana



15



Một số kinh nghiệm rèn kĩ năng viết đoạn văn nghị luận về một nhân vật trong tác phẩm truyện

dành cho học sinh lớp 9



chính khóa hay phụ đạo. Viết được đoạn văn đúng hay mới viết được bài văn đúng và

hay.

d. Kết quả khảo nghiệm, giá trị khoa học của vấn đề nghiên cứu, phạm vi

và hiệu quả ứng dụng, (cần xác định rõ thước đo hiệu quả của ứng dụng, có số

liệu định tính, định lượng minh họa).

Qua quá trình tiến hành nghiên cứu và thử nghiệm đề tài với 2 lớp 9A1 và 9A4,

tôi nhận thấy được sự tiến bộ rõ rệt về kĩ năng viết đoạn văn nghị luận về một nhân vật

trong tác phẩm truyện cũng như kĩ năng viết văn nghị luận văn học của các em học

sinh.

* Tôi đã khảo sát trên cả hai lớp 9A1 và 9A4. Cho cùng một đề bài: Hãy viết

một đoạn văn ngắn trình bày suy nghĩ của em về nhân vật Vũ Nương trong văn bản

“Chuyện người con gái Nam Xương” của Nguyễn Dữ.

Trước khi tiến hành nghiên cứu, đa số các em viết chưa đúng yêu cầu, chưa biết cách

hình thành luận điểm, nhất là lớp 9A4. Kết quả cụ thể như sau:

LỚP



ĐIỂM



9A1



GIỎI



KHÁ



T.B



YẾU



(36)



5



11



19



1



9A4 (28)



0



2



16



10



* Sau khi tiến hành khảo sát, nghiên cứu, áp dụng các biện pháp trên để giảng

dạy thì đã thu được kết quả khả quan. Cụ thể:

LỚP



ĐIỂM



9A1



GIỎI



KHÁ



T.B



YẾU



(36)



12



16



8



0



9A4 (28)



3



8



14



3



III. PHẦN KẾT LUẬN, KIẾN NGHỊ

1. Kết luận:

Nhiệm vụ của mỗi giáo viên dạy môn Ngữ văn trong nhà trường là phải giúp học

sinh hiểu được cái hay, cái đẹp của văn học, kích thích hứng thú học tập học Văn, đồng

thời tạo ra những rung động thẩm mỹ, niềm say mê…Để làm được điều đó, theo tơi,

mỗi giáo viên đều phải có sự linh hoạt, sáng tạo trong phương pháp giảng dạy. Sau khi

thực giảng, có gì khúc mắc nên có sự góp ý, bàn bạc, thống nhất từ Khối, Tổ để rút

kinh nghiệm và làm cho bài giảng có hiệu quả cao nhất như mong muốn. Qua nhiều

năm giảng dạy, đặc biệt là kinh nghiệm dạy lớp 9 cuối cấp, bản thân đã nhận thấy việc

rèn cho học sinh kĩ năng viết văn nói chung và viết đoạn văn nghị luận về nhân vật

Trần Thị Lệ - GV trường THCS Lương Thế Vinh- Krông Ana



16



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Giống như chức năng, vai trò của mở bài, mở đoạn, chúng ta cần giới thiệu được nhân vật, tác giả, tác phẩm và luận điểm đã cho. Học sinh sắp xếp những ý trên thành một câu hoàn chỉnh.

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×