Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Cơ cấu tổ chức

Cơ cấu tổ chức

Tải bản đầy đủ - 0trang

Báo cáo thực tập



Chương I _ TÌM HIỂU VỀ HỆ THỐNG

CÁP QUANG

I_ TỔNG QUAN VỀ HỆ THỐNG CÁP QUANG:

I.1_ Giới thiệu về hệ thống cáp quang:

Năm 1952, nhà vật lý Narinder Singh Kapany, dựa vào các nghiên cứu được thực

hiện bởi nhà vật lý người Anh John Tyndall rằng ánh sáng di chuyển theo đường cong trong

một môi trường vật chất ( thực nghiệm của Tyndall dùng vật chất là nước), đã có thể chấm

dứt việc nghiên cứa và phát minh ra cáp quang. Cáp quang là một môi trường truyền dẫn

tuyệt vời, được dùng bởi các hệ thống cần băng thơng rộng như điện thoại, hội nghị qua

video.

Có hai lợi ích vượt trội của cáp quang hơn hẵn cáp kim loại. Thứ nhất, cáp quang

hồn tồn khơng bị ảnh hưởng bởi nhiễu điện từ trường, cũng có nghĩa là dữ liệu sẽ không

bị hư hỏng trên đường truyền. Thứ hai, cáp quang khơng dẫn điện, vì thế khơng có vấn đề

liên quan tới điện trong cáp quang, ví dụ không gây ra một hiệu thế giữa các thiết bị, hoặc

vấn đề sét...

Như tên gọi đã hàm ý, cáp quang dùng ánh sáng để truyền dữ liệu. Tại một đầu của

cáp,một đèn LED (Light Emitting Diode) hoặc một laser bán dẫn dùng làm nguồn sáng.

LEDs có thể truyền dữ liệu lên tới 300Mbps và được dùng trên các đường truyền ngắn.

Trong khi loại dùng laser có thể dễ dàng đạt tốc độ hàng Gbps và được dùng để truyền xa.

Ánh sáng dùng trong cáp quang nằm trong phạm vi gần phổ hồng ngoại, vì thế cho

nên mắt người khơng thể thấy được. Thật ra, cáp quang có thể dùng ánh sáng có các bước

sóng khác nhau, như bạn có thể thấy bản bên dưới. Mới đây, ITU đã phân loại các bước

sóng có thể được dùng cho cáp quang theo từng “dải”. Vì thế,cáp quang hoạt động trên dải

tầng O có nghĩa là bước sóng dùng trong cáp từ 1260nm-1360nm.

O Band : 1260-1360 nm

E Band : 1360-1460 nm

S Band : 1460- 1530 nm

C Band : 1530-1565 nm

L Band : 1565-1625 nm

U Band : 1625- 1675 nm



Khoa CNTT - Đại học Kinh Tế Quốc Dân



9



Báo cáo thực tập



Đi sâu vào cấu trúc:

Nguyên lý cơ bản của cáp quang là một hiện tượng vật lý gọi là phản chiếu tồn phần.

Để có thể có hiện tượng phản chiếu tồn phần,ánh sáng phải đi ra từ một môi trường chiết

quang mạnh vào một mơi trường chiết quang yếu hơn và có góc Brewster bằng hoặc lớn

hơn góc tới hạn.



Hình 1.1 : Giới thiệu cáp quang.

Cáp quang được tạo thành từ vật liệu cách điện, như đã nói trên, nó hồn tồn miễn nhiễm

với nhiễu điện từ trường. Có hai vùng, bên trong là lỏi là nơi để cho ánh sáng đi qua. Và

vùng ngoài là lớp bọc lỏi. Độ khúc xạ của lỏi cao hơn lớp bọc.



Hình 1.2 : Cấu trúc cáp quang.



Đây là mô tả các phần của cáp quang :

-Lõi : là một sợi nhỏ,làm bằng thuỷ tinh hoặc plastic,được tính bằng micra = 1/1000.000M

là nơi để cho ánh sáng đi qua. Lõi có đường kính càng lớn, thì càng cho nhiều ánh sáng đi

qua.

-Lớp vỏ : Là lớp bọc lấy lõi.Vì nó có độ khúc xạ nhỏ hơn lớp lỏi,nên nó khơng cho ánh sáng

ra ngồi,từ đó giúp cho ánh sáng đi tới thiết bị nhận.

-Lớp đệm plastic : bảo vệ cáp quang để tránh bị tác động cơ học làm hỏng.



Khoa CNTT - Đại học Kinh Tế Quốc Dân



10



Báo cáo thực tập



-Lớp sợi chống tác động cơ học : Lớp bảo vệ chống va chạm, sức căng nặng trong q trình

cài đặt. Nó thường được làm từ vật liệu gọi là kevlar, tương tự vật liệu làm áo chống đạn.

-Vỏ ngoài cùng : là lớp áo cho cáp quang.

CÁC KIỂU CÁP QUANG :

-Có hai kiểu cáp quang : multimode và single-mode (còn gọi là monomode) . Các kiểu này

định nghĩa cách mà ánh sáng truyền bên trong như thế nào.

-Multimode : Trong loại này, lỏi cáp lớn hơn dễ dàng cho ánh sáng có nhiều chế độ truyền

dẫn. Nghĩa là ánh sáng truyền trong lỏi theo nhiều đường. Cáp quang multimode có đường

kính từ 50 tới 100 microns (giá trị điển hình là 50 ; 62,5 và 100 micron) lớp áo bọc là 125

microns . Cáp quang mutimode còn đươc chia thành graded-index và step-index tuỳ thuộc

vào độ khúc xạ giữa lỏi và lớp liền kề. Loại graded-index,độ khúc xạ thay đổi dần dần từ

trong ra ngoài,trong khi loại step-index có sự thay đổi độ khúc xạ tức thời giữa lỏi và vỏ.

-Cáp quang step-index có thể truyền dữ liệu đến 50Mbps, trong khi graded-index có tốc độ

truyền lên đến 1Gbps. Cáp quang Mutimode cũng có tên là MMFvà được dùng để truyền dữ

liệu ở khoảng cách gần.

-Single-mode : Được dùng tải xa. Nó cần kết nối chính xác và các thiết bị đắc tiền.Loại này

chỉ có một đường truyền ánh sáng bên trong lỏi. Đường kính lỏi từ 7 đến 10 microns, lớp áo

bọc là 125microns. Vì thế hai loại cáp nhìn bên ngồi vẫn có chung đường kính như nhau.

Như vậy sự khác nhau là ở đường kính của lõi.

Có 3 loại cáp single-mode NDSF, DSF và NZ-DSF.



Hình 3 : Sự khác biệt giữa các loại cáp.



Khoa CNTT - Đại học Kinh Tế Quốc Dân



11



Báo cáo thực tập



Một số chuẩn phân loại cáp mutimode, single-mode :

- ITU G-651 : Cáp graded-index multimode có lỏi 50 microns, lớp vỏ ngoài 125 microns.

- ITU G-652 : Cáp single-mode NDSF dùng bước sóng 1.130 nm hỗ trợ khoảng cách và tốc

độ truyền : 1000 km 2,5Gbps ; 60 km 10Gbps ; và 3 km 40Gbps.

- ITU G-653 : Cáp single-mode DSF.

- ITU G-655 : Cáp single-mode NZ-DSF. Hỗ trợ khoảng cách và đường truyền như sau :

6000 km 2,5 Gbps ; 400 km 10Gbps ; 25 km 40Gbps.

Quan trọng :

Cáp quang truyền dẫn ánh sáng trong một phổ mắt người khơng thấy được. Cho nên đừng

nhìn vào một đầu cuả cáp quang khi đầu kia đang kết nối vào hệ thống vì nó có thể gây hại

cho mắt.

I.2_ Tìm hiểu về cáp quang:

Sợi quang là những dây nhỏ và dẻo truyền các ánh sáng nhìn thấy được và các tia

hồng ngoại. Chúng có 3 lớp: lõi (core), áo (cladding) và vỏ bọc (coating).

- Để ánh sáng có thể phản xạ một cách hồn tồn trong lõi thì chiết suất của lõi lớn hơn

chiết suất của áo một chút.

- Vỏ bọc ở phía ngồi áo bảo vệ sợi quang khỏi bị ẩm và ăn mòn, đồng thời chống xuyên âm

với các sợi đi bên cạnh.

- Lõi và áo được làm bằng thuỷ tinh hay, chất dẻo (Silica), kim loại, fluor, sợi quang kết

tinh). Chúng được phân loại thành các loại sợi quang đơn mode Single Mode (SM) và đa

mode Multimode (MM) tương ứng với số lượng mode của ánh sáng truyền qua sợi quang.

Mode sóng là một trạng thái truyền ổn định của sóng ánh sáng (cũng có thể hiểu một mode

là một tia).

- Theo Mode thì có: SM và MM (MM có 2 loại: 62.5 và 50).

Theo mơi trường lắp đặt thì có Outdoor và Indoor:

Outdoor lại chia ra thành các loại: F8 và Underground

Single Mode và Multi Mode

- Sợi SM chỉ truyền được một mode sóng do đường kính lõi rất nhỏ (khoảng 10 micromet).

Do chỉ truyền một mode sóng nên SM khơng bị ảnh hưởng bởi hiện tượng tán sắc và thực tế

SM thường ít được sử dụng hơn so với MM.

- Sợi MM có đường kính lõi lớn hơn SM (khoảng 6-8 lần), có thể truyền được nhiều mode

sóng trong lõi.

- Ngồi ra chúng còn được phân loại thành sợi quang có chỉ số bước và chỉ số lớp tuỳ theo

Khoa CNTT - Đại học Kinh Tế Quốc Dân



12



Báo cáo thực tập



hình dạng và chiết suất của các phần của lõi sợi quang.

- Khoảng cách giữa 2 thiết bị đấu nối bằng cáp quang không quy định cụ thể là bao nhiêu

KM. Khoảng cách giữa 2 thiết bị căn cứ vào tính tốn suy hao tồn tuyến, cơng suất phát,

độ nhạy thu và cơng suất dự phòng của thiết bị.

- Thơng thường mỗi thiết bị đều có khuyến cáo chạy ở cự ly nhất định, tuy nhiên đó chỉ là

tính tương đối thơi.

Chuẩn bước sóng cho thiết bị chạy SM và MM có khác nhau:

- MM có các bước sóng chuẩn là: 780, 850 và 1300. Hiện nay các thiết bị ít dùng bước sóng

780.

- SM có các bước sóng: 1310, 1550, 1627. Hiện nay các thiết bị SM dùng cơng nghệ DWM

thì còn có thể sử dụng nhiều bước sóng khác nữa.

- Đa phần cáp quang single mode chỉ dùng cho đường trục, ngoài việc giá thành, công nghệ

của cáp single mode rất khắc khe, và rất khó trong việc thi cơng cũng như sử dụng. Lý do:

lớp lõi của cáp single mode rất nhỏ (khoảng 27 Micromet), còn của multi mode thi lớn hơn

rất nhiều (khoảng 130 Micromet). Ngoài ra, do kết cấu lõi single mode cho ánh sáng đi theo

đường thẳng, mà giá thành chế tạo, cũng như độ chính xác trong thi cơng, thiết bị cơng nghệ

cao... làm cho cáp Single Mode khó thực hiện trong các cơng trình dân sự.

- Còn việc phân biệt: chủ yếu là do đường đi của ánh sáng truyền trong lõi (mà nguyên nhân

là do kết cấu của lõi)

Minh họa:

===================

- - - - - - >- - - - - - - - >- - - đường ánh sáng

===================

. Single Mode

===================

/\/\/\/\/\/\/\/\/\

- - - - - - - - - - - - - - - - - - đường ánh sáng

\/\/\/\/\/\/\/\/\/

===================

. Multi mode



Khoa CNTT - Đại học Kinh Tế Quốc Dân



13



Báo cáo thực tập



- Trong Single mode, ánh sáng đi theo gần như một đường thẳng trùng với trục cáp, còn

trong Multi Mode, ánh sáng đi theo một chùm tia sáng có dạng đồ hình Sin đồng trục (vì thế

mà ta có thể ghép thêm nhiều ánh sáng có các bước sóng khác nhau).

Về thơng số vật lý:

- Đường kính lõi sợi ( phần truyền tin): Core.

- SM: 9/125;

- MM: 50/125 và 62.5/125.

- Đường kính vỏ phản xạ: Cladding thì cả SM và MM đều như nhau là 125um.

- Về Coating thì tùy thuộc vào dặc tính cần bảo vệ mà người ta làm lớp này, tuy nhiên thơng

thường đối với cáp Outdoor thì nó là 250, với cáp Indoor thì nó là 900, điều này khơng phụ

thuộc vào nó la cáp SM hay MM.

- Về sử dụng thì tùy thuộc vào cơng suất phát, độ nhạy thu, khoảng cách truyền dẫn, tốc đọ

yêu cầu và giá thành mà người ta quyết định dùng SM hoặc MM



Khoa CNTT - Đại học Kinh Tế Quốc Dân



14



Báo cáo thực tập



I.3_ Tổng quan về hệ thống thông tin quang

I.3.1_ Cấu hình của hệ thống thơng tin quang.

Để thiết lập một hệ thống truyền dẫn hợp lý, việc lựa chọn môi trường truyền dẫn,

phương pháp truyền dẫn và phương pháp điều chế/ ghép kênh phải được xem xét trước tiên.

Cho đến nay thì khơng gian được sử dụng một cách rộng rãi cho thơng tin vơ tuyến, còn cáp

đối xứng và cáp đồng trục cho thông tin hữu tuyến. Trong phần dưới đây, chúng tôi chỉ bàn

đến các phương pháp truyền dẫn hiện đang sẵn có dựa trên việc sử dụng cáp quang. Sự điều

chế sóng mang quang của hệ thống truyền dẫn quang hiện nay được thực hiện với sự điều

chế theo mật độ vì các ngun nhân sau:

(1) Sóng mang quang, nhận được từ các phần tử phát quang hiện có, khơng dủ ổn định để

phát thơng tin sau khi có sự thay đổi về pha và độ khuyếch đại và phần lớn khơng phải là

các sóng mang đơn tần. Đặc biệt các điốt phát quang đều không phải là nhất qn và vì vậy

có thể coi ánh sáng đại loại như tiếng ồn thay vì sóng mang. Do đó, chỉ có năng lượng là

cường độ ánh sáng tức thời được sử dụng.

(2) Hiện nay, các Laser bán dẫn được chế tạo đã có tính nhất qn tuyệt vời và do đó có khả

năng cung cấp sóng mang quang ổn định. Tuy nhiên, công nghệ tạo phách - Một công nghệ

biến đổi tần số cần thiết để điều chế pha - còn chưa được phát triển đầy đủ.

(3) Nếu một sóng mang đơn tần có tần số cao được phát đi theo cáp quang đa mode - điều

mà có thể xử lý một cách dễ dàng - thì các đặc tính truyền dẫn thay đổi tương đối phức tạp

và cáp quang bị dao động do sự giao thoa gây ra bởi sự biến đổi mode hoặc do phản xạ

trong khi truyền dẫn và kết quả là rất khó sản xuất một hệ thống truyền dẫn ổn định. Vì vậy,

trong nhiều ứng dụng, việc sử dụng phương pháp điều chế mật độ có khả năng sẽ được tiếp

tục.

- Đối với trường hợp đều chế quang theo mật độ (IM) có rất nhiều phương pháp để biến đổi

tín hiệu quang thơng qua việc điều chế và ghép kênh các tín hiệu cần phát.

- Phương pháp phân chia theo thời gian (TDM) được sử dụng một cách rộng rãi khi ghép

kênh các tín hiệu như số liệu, âm thanh điều chế xung mã PCM (64kb/s) và số liệu video

digital. Tuy nhiên, trong truyền dẫn cự ly ngắn, của các tín hiệu video băng rộng rãi cũng có

thể sử dụng phương pháp truyền dẫn analog. Phương pháp điều chế mật độ số DIM phương pháp truyền các kênh tín hiệu video bằng IM - và phương pháp thực hiện điều chế

tần số (FM) và điều chế tần số xung (PFM) sớm để tăng cự ly truyền dẫn có thể được sử

dụng cho mục tiêu này.

- Ngoài TDM và FDM, phương pháp phân chia theo bước sóng (WDM) - phương pháp điều



Khoa CNTT - Đại học Kinh Tế Quốc Dân



15



Báo cáo thực tập



chế một số sóng mang quang có các bước sóng khác nhau thành các tín hiệu điện khác nhau

và sau đó có thể truyền chúng qua một sợi cáp quang - cũng đang được sử dụng. Hơn nữa,

khi truyền nhiều kênh thông qua cáp quang, một số lượng lớn các dữ liệu có thể được gửi đi

nhờ gia tăng số lõi cáp sau khi đã ghép các kênh trên. Phương pháp này được gọi là ghép

kênh SDM. Hệ thống truyền dẫn quang có thể được thiết lập bằng cách sử dụng hỗn hợp

TDM/FDM, WDM và SDM. Chúng ta có thể thấy rằng hệ thống truyền dẫn quang cũng

tương tự như phương pháp truyền dẫn cáp đôi và cáp đồng trục truyền thống, chỉ có khác là

nó biến đổi các tín hiệu điện thành tín hiệu quang và ngược lại tại đầu thu. Hình 1.20 trình

bày cấu hình của hệ thống truyền dẫn cáp quang.

- Phương pháp truyền dẫn analog có thể được tiến hành chỉ với một bộ khuyếch đại tạo điều

kiện để phía thu nhận được mức ra theo yêu cầu bằng cách biến đổi các tín hiệu điện thành

các tín hiệu quang và ngược lại. Khi sử dụng phương pháp điều chế PCM thì mọi chức năng

giải điều chế tương ứng với nó cần được gán cho phía thu. Cho tới đây, chúng ta đã mô tả

các chức năng cơ bản của hệ thống truyền dẫn quang. Ngoài những phần đã trình bày ở trên

hệ thống hoạt động thực tế còn có thêm một mạch ổn định đầu ra của các tín hiệu quang cần

phát, một mạch AGC để duy trì tính đồng nhất của đầu ra tín hiệu điện ở phía thu và một

mạch để giám sát mỗi phía.

I.3.2_ Những thành phần cơ bản của hệ thống truyền dẫn quang.

Hệ thống truyền dẫn quang bao gồm các phần tử phát xạ ánh sáng (nguồn sáng), các

sợi quang (môi trường truyền dẫn) và các phần tử thu để nhận ánh sáng truyền qua sợi

quang.

Các phần tử sau đây được chọn để sử dụng:

1. Phần tử phát xạ ánh sáng

a. Điôt Laser (LD)

b. Điôt phát quang (LED)

c. Laser bán dẫn

2. Sợi quang

a. Sợi quang đa mode chỉ số bước

b. Sợi quang đa mode chỉ số lớp

c. Sợi quang đơn mode

3. Phần tử thu ánh sáng

a. Điôt quang kiểu thác (APD)

b. Điôt quang PIN (PIN - PD)



Khoa CNTT - Đại học Kinh Tế Quốc Dân



16



Báo cáo thực tập



II_ CÁC HỆ THỐNG KẾT NỐI MẠNG

II.1_ Hệ thống mạng DAIL_UP

Dial-up networking là phương tiện được sử dụng rộng rãi trong kết nối máy tính tới

Internet. Cuối năm 2000, trên ¼ tỷ người đã quay số vào Internet - nhiều gấp 4 lần số các

user truy cập thông qua giao thức khác như: DSL, cáp quang, ISDN modem. Sau đây là một

số các đặc trưng về Dial-up networking:

• Dial-up networking sử dụng một modem, như giao diện giữa một máy tính PC với một

mạng (chẳng hạn như Internet). Tốc độ kết nối có thể nên tới 56 kbps.

• Quay số với một modem vẫn là phương pháp rẻ nhất và sẵn dùng để kết nối Internet.

• Tốc độ lớn nhất khi bạn tải dữ liệu sử dụng công dial-up networiking được giới hạn bởi

băng thông của hệ thống điện thoại, chất lượng đường truyền, và giao vận trên mạng

Internet.

• Tốc độ kết nối qua khi sử dụng phương pháp quay số

• Dial-up networking ln sử dụng truyền thông với ISP sử dụng theo giao thức điểm nối

điểm.

Trong khi các dịch vụ băng thông khác như DSL, modem cáp, và Internet truyền qua

vệ tinh đang trở nên sẵn có trên nhiều quốc gia, dial-up networking vẫn tiếp tục phát triển.

Nhiều người ước tính rằng, các kết nối dạng khơng dây sẽ là đối thủ chính trong việc cung

cấp dịch vụ cho người sử dụng truy cập Internet trong tương lai gần. Nhưng theo thống kê

chỉ ra rằng, cuối năm 2001, vẫn có nhiều hơn 2 lần số người sử dụng vẫn tiếp tục sử dụng

dial-up networking so với sử dụng các dịch vụ băng thông kết nối Internet khác.

Cơ chế bắt tay là gì?

Dial-up networking là phương thức đơn giản nhất để kết nối tới Internet: bạn chỉ kết

nối qua đường điện thoại sử dụng modem của bạn, ban đầu bạn sẽ lựa chọn một nhà cung

cấp dịch vụ ISP, và phần mềm quay số đã có sẵn trong hệ điều hành Windows với giao diện

sử dụng đơn giản. Với mỗi người sử dụng, khi quay số đòi hỏi một account truy cập với tên

sử dụng và mật khẩu truy cập dịch vụ tới nhà cung cấp ISP. Sau khi thiết lập các thao tác đó

xong, mỗi lần truy cập sau, khách hàng chỉ cần thực hiện kết nối bằng cách nháy kép chuột

trên biểu tượng dial-up.

Khi bạn bắt đầu sử dụng dịch vụ, dial-up networking sẽ sử dụng modem để quay số

tới nhà cung cấp số dịch vụ ISP, nơi sẽ có một modem khác trả lời. Chỉ sau một vài giây, các

modem sẽ sử các tín hiệu điều khiển để xem xem các modem có thể kết nối với tốc độ tối đa

là bao nhiêu. Tiếng kêu của modem khi bắt đầu kết nối là khi modem bạn và của nhà cung



Khoa CNTT - Đại học Kinh Tế Quốc Dân



17



Báo cáo thực tập



cấp dịch vụ đang ước định tốc độ và thiết lập kết nối sử dụng.

Khi kết nối đã được thiết lập, modem của bạn sẽ trở lại trạng thái im lặng, và dial-up

networking sẽ gửi tên truy cập và mật khẩu của bạn tới nhà cung cấp ISP theo phương thức

gọi là CHAP -- challenge handshake authentication protocol. Tại đầu cuối ISP, một máy tính

sẽ kiểm tra tên và mật khẩu truy cập của bạn dựa trên một cơ sở dữ liệu các khách hàng

được quyền sử dụng dịch vụ. Sau khi đã kiểm tra chứng thực này, của sổ trạng thái dial-up

networking biến mất, và bạn có thể duyệt thơng tin các website, gửi email, download các

file, ... Quá trình xử lý này luôn được thực hiện ở bất cứ đâu chỉ trong khoảng thời gian từ

30 giây đến 2 phút.

Giao thức điểm nối điểm (PPP): Chậm hơn nhưng chịu nỗi tốt hơn

Dial-up networking cũng cắt dữ liệu của bạn thành các gói tin, mã hố và gói dữ liệu

trước khi gửi đi.

Dial-up networking sử dụng giao thức PPP (Point to Point Protocol) để gói dữ liệu

truyền tin qua đường điện thoại. Với mạng ethernet, các gói dữ liệu PPP, thường được gọi là

một frame, bao gồm một vài phần, có các cờ bắt đầu và kết thúc (được gọi “wrappers”)

được gắn cho mỗi gói tin. Giống như các gói tin ethernet, các frame PPP chứa các cờ

wrapper. Các wrapper giúp dữ liệu trong các gói tin tới được nơi đến dù sử dụng các giao

thức khác, như TCP/IP, và cũng kiểm tra kiểu dữ liệu nén được sử dụng trong gói tin.

Sự khác biệt quan trọng giữa các frame PP và các gói tin ethernet là khả năng các gói

tin PPP bị nguy hiểm được phục hồi sử dụng một chu trình gói tin gửi đi. Mỗi gói tin đơi khi

bị mất hay hỏng dữ liệu khi truyền trên đường truyền; khi đến, theo cơ chế xác thực sẽ có

yêu cầu đến PC đòi hỏi gửi lại gói tin đó. Điều này gây mất thời gian nhiều hơn so với

truyền theo dạng băng thông khác.

Trong kiến trúc, mỗi PPP wrapper chứa một tập các định vị dữ liệu được gọi là giá trị

xác thực, mà được kiểm tra tại nơi đến. Khi có một PPP frame nguy hiểm, nó sẽ dựa vào tập

định vị này để lấy lại đúng gói tin đã bị mất mà khơng cần gửi lại tồn bộ dữ liệu.

Trong khi quá trình này lưu thời gian ước định mà sẽ dùng nó để gửi lại các gói tin bị

nguy hiểm khi truyền, các chức năng khắc phục lỗi làm cho giao thức điểm nối điểm chạy ít

lỗi hơn so với các giao thức đơn giản hơn. Mà Internet là một nơi truyền tin không đảm bảo

độ tin cậy cao, do vậy PPP rất thích hợp khi sử dụng với Internet và ngày càng phát triển.

II.2_ Hệ thống mạng ADSL

ADSL là từ viết tắt của Tiếng Anh: Asymmetric Digital Subscriber Line dịch sang

tiếng Việt là đường dây thuê bao số bất đối xứng, là một dạng của DSL.



Khoa CNTT - Đại học Kinh Tế Quốc Dân



18



Báo cáo thực tập



ADSL cung cấp một phương thức truyền dữ liệu với băng thông rộng, tốc độ cao hơn

nhiều so với phương thức truy cập qua đường dây điện thoại truyền thống theo phương thức

quay số (Dial up).Khi truyền băng thông trên đường dây điện thoại được tách ra làm 2 phần,

1 phần nhỏ dùng cho các tín hiệu nhu Phone,Fax. phần lớn còn lại dùng cho truyền tải tín

hiệu ADSL. Ý nghĩa của cụm từ "bất đối xứng" trong ADSL là do lượng dữ liệu tải xuống

và tải lên là không bằng nhau, với dữ liệu chủ yếu là tải xuống.

Thông số kỹ thuật

Trong khi truy cập theo phương thức quay số chỉ có thể cung cấp tốc độ lên đến

56kbps, một đường ADSL chuẩn có thể đạt tốc độ tải xuống đến 8Mbps. Cho đến hiện nay,

với ADSL 2+ do các nhà cung cấp đường truyền Internet tại Việt Nam như SPT, FPT,

Netnam, Viettel,VNN tốc độ lý thuyết tải xuống có thể đạt đến 24Mbps.

khơng dây (broadband wireless). Khi WiMAX được chuẩn hóa và thiết bị dùng cho

WiMAX được sản xuất đại trà, cơng nghệ này hồn tồn có thể thay thế được ADSL - đặc

biệt là khu vực vùng sâu vùng xa, khó triển khai mạng cáp.

Tổng quan về ADSL

a) ADSL là gì ?

ADSL là viết tắt của thuật ngữ Asymmetric Digital Subscriber Line nghĩa là đường

dây thuê bao số bất đối xứng. Đường thuê bao số bất đối xứng lá đường thuê bao Internet có

tốc độ đưa thông tin lên mạng (Upload) và tải thông tin về (Download) khác nhau. Về lý

thuyết tốc độ Download là 8 Mbps, tốc độ Upload là 640 kbps.

• Asymmetric : Tốc độ truyền không giống nhau ở hai chiều. Tốc độ của chiều xuống (từ

mạng đến thuê bao) có thể nhanh gấp hơn 10 lần so với chiều lên (từ thuê bao đến mạng).

Điều này phù hợp một cách tuyệt vời cho việc khai thác dịch vụ Internet khi mà chỉ cần

nhấn chuột (tương ứng với lưu lượng nhỏ thông tin mà thuê bao gửi đi) là có thể nhận được

một lưu lượng lớn dữ liệu về từ Internet.

• Digital : Các Modem ADSL hoạt động ở mức bit (0 & 1) và dùng để chuyển thơng tin số

mã hóa giữa các thiết bị số như các máy tính PC. Chính ở khía cạnh này thì ADSL khơng có

gì khác với các Modem thơng thường.

• Subscriber Line: ADSL tự nó chỉ hoạt động trên đường dây thuê bao bình thường nối với

tổng đài nội hạt. Đường dây thuê bao này vẫn có thể được tiếp sử dụng cho các cuộc gọi

hoặc nghe điện thoại cùng một thời điểm thông qua thiết bị là “Splitters” có chức năng tách

thoại và dữ liệu trên đường dây.

b) ADSL dùng để làm gì và sử dụng như thế nào ?



Khoa CNTT - Đại học Kinh Tế Quốc Dân



19



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Cơ cấu tổ chức

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×
x